Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



Cơ thẳng đầu, cơ chéo đầu trên, cơ chéo đầu dưới.



Hình 1. 1. Cơ vùng cổ gáy

+ Theo chức năng vận động, cơ cột sống cổ chia làm hai nhóm: nhóm gấp

duỗi hộp sọ và nhóm gấp duỗi cột sống cổ. Các cơ này thường đi từ nền sọ tới

các đốt sống cổ, giúp đầu cổ có thể vận động được. Trong các cơ này, có một số

cơ lớn và hay bị tổn thương dẫn tới đau vùng cổ gáy, quay cổ khó như: cơ thang,

cơ ức đòn chũm, cơ dài cổ.

Cơ thang: có ba cơ, nguyên ủy bám vào mỏm ngang các đốt sống II đến

VII, bám tận xương sườn 1, động tác gấp và xoay cột sống cổ.

Cơ ức đòn chũm: ngun ủy có hai đầu là đầu ức và đầu đòn, bám tận ở

mỏm chũm, động tác nghiêng đầu và gấp cột sống cổ.

Cơ dài cổ: nguyên ủy đốt đội, bám tận đốt sống ngực III, động tác gấp và

xoay cột sống cổ. [4]

- Các đốt sống cổ:



5



Cột sống cổ gồm bảy đốt sống giữa C I và CII khơng có đĩa đệm, một đĩa

đệm chuyển đoạn là đĩa đệm cổ lưng CVII - D1.

Cột sống cổ là trụ cột chính để giữ và vận động đầu, cong ra trước, di động

nhiều, các mỏm khớp hơi nghiêng nên dễ bị tổn thương (thường gặp ở đoạn

chuyển tiếp CV - CVI [4].

Mỗi đốt sống gồm hai phần: thân đốt sống ở phía trước, cung đốt sống ở

phía sau. Thân đốt sống có đường kính ngang dài hơn đường kính trước sau.

Mỗi cung đốt sống gồm hai cuống cung nối hai mảnh cung đốt sống vào thân

đốt sống, có một mỏm gai, hai mỏm ngang có lỗ ngang, bốn mỏm khớp (hai

mỏm khớp trên và hai mỏm khớp dưới).

Mỏm khớp: diện khớp tương đối phẳng rộng.

Gai sống: đỉnh của gai sống tách làm hai củ, gai sống dài dần từ C II đến

CVII.

Lỗ đốt sống: các lỗ to dần từ đốt CI đến CV, sau đó nhỏ dần ở đốt CVI và

CVII.



Hình 1. 2. Cột sống cổ (nhìn trước)



6



- Thần kinh vùng cổ vai tay:

Tám đôi dây thần kinh cổ (CI đến CVIII) đóng vai trò vận động, cảm giác,

phản xạ gân xương cho chi trên; chi phối cho da cơ ở đầu và sau gáy.

Đám rối cổ được tạo nên bởi nhánh trước của bốn thần kinh sống cổ đầu

tiên. Các nhánh trước này liên kết với nhau thành các quai nối nằm trước cơ

nâng vai và cơ bậc thang giữa, sau tĩnh mạch cảnh trong và cơ ức đòn chũm.

Đám rối cổ tách ra các nhánh nơng đi tới da và các nhánh sâu; các nhánh sâu bao

gồm các nhánh cơ và các nhánh nối [4].

Đám rối thần kinh cánh tay được tạo nên từ nhánh trước của bốn thần kinh

sống cổ dưới và phần lớn nhánh trước của thần kinh sống ngực I. Nhánh trước

của thần kinh cổ IV thường tách một nhánh đi tới thần kinh cổ V và thần kinh

ngực I thường nhận nhánh từ thần kinh ngực II. Các nhánh trước này được gọi

là các rễ của đám rối. Nhánh trước của các dây thần kinh cổ V và VI hợp thành

thân trên; nhánh trước các thần kinh cổ VIII và ngực I tạo nên thân giữa; nhánh

trước của thần kinh cổ VII thành thân dưới. Các thân này chạy chếch ra ngoài ở

tam giác cổ sau và ở sau xương đòn, mỗi thân tách đôi thành các phần trước và

sau. Các phần trước của thân trên và thân giữa tạo nên bó ngoài, nằm ở ngoài

động mạch nách. Phần trước của thân dưới đi xuống ở sau rồi ở trong động

mạch nách và trở thành bó trong. Phần sau của cả ba thân tạo nên bó sau, nằm

sau động mạch nách [4].



7



Hình 1. 3. Đám rối thần kinh cánh tay

Hệ thống giao cảm cổ: hai thành phần chủ yếu của hệ thống thần kinh của

thần kinh giao cảm ảnh hưởng ở vùng cột sống cổ, nó tác động đến tồn thân,

tuyến mồ hôi, nang lông.

Chuỗi giao cảm cổ: chuỗi hạch giao cảm cổ nối với các dây thần kinh tuỷ

sống bởi các rễ nối thông. Mặc dù không truyền cảm giác nhưng chuỗi giao cảm

như là một chất kiểm soát đau.

Thần kinh sống là thần kinh vận mạch tới động mạch, kiểm soát lưu lượng

máu lên não.

1.1.2.2. Sinh lý

Cơ cổ và các đốt sống cổ tham gia vào sự phối hợp của mắt, đầu, thân

mình; đồng thời tham gia vào việc định hướng trong không gian và điều khiển tư

thế. Cột sống cổ là nơi chịu sức nặng của đầu và bảo vệ tủy sống nằm trong ống

sống. Các đĩa đệm vùng cột sống cổ có nhiệm vụ nối các đốt sống, nhờ khả năng

biến dạng và tính chịu nén ép mà phục vụ cho sự vận động của cột sống, giảm

các chấn động lên cột sống, não và tủy [24], [31].



8



Hình 1. 4. Các động tác vận động của cột sống cổ

Sinh lý bệnh của đau vùng cổ gáy là do các tác nhân gây bệnh làm cho cơ

vùng vai gáy bị co cứng. Khi cơ bị co cứng, lưu thông dòng máu đến ni

dưỡng cơ giảm dẫn tới oxy cung cấp cho tế bào cơ cũng bị giảm theo, chuyển

hóa yếm khí xảy ra sinh ra axit lactic lắng đọng ở cơ → đau mỏi vùng vai gáy.

Cơ co cứng lâu đè ép, co kéo vào các dây thần kinh cổ gây đau lan theo đường

đi của các dây thần kinh bị chèn ép [41].

1.1.3. Nguyên nhân đau vùng cổ gáy

1.1.3.1. Nguyên nhân cơ học

Sinh hoạt sai tư thế như: nằm ngủ gối đầu cao, dựa đầu vào ghế, nằm

nghiêng và co quắp…. sẽ ảnh hưởng đến quá trình cung cấp oxy cho các tế bào

cơ. Khi cơ không được cung cấp đủ lượng máu cần thiết thì vùng cổ, gáy dễ bị

đau nhức và cứng.

Ngồi lâu trước quạt, máy lạnh; thói quen tắm đêm; dầm mưa dãi nắng

thường xuyên sẽ làm rối loạn hệ mạch, thần kinh điều khiển việc cung cấp

dưỡng chất cho các bó cơ vùng cổ gáy.

Làm việc quá sức hoặc tư thế hoạt động khiến cơ bị kéo căng quá lâu gây

mất cân bằng vi chất trong cơ.

Chấn thương phần mềm vùng cổ gáy, chấn thương cột sống cổ.

1.1.3.2. Rối loạn chức năng thần kinh

Các dây thần kinh vùng cổ gáy bị kéo dãn, hoặc kéo căng quá mức có thể

gây ra sự rối loạn chức năng dây thần kinh khu vực này. Đây cũng là nguyên

nhân thường gặp gây ra các cơn đau mỏi cổ gáy.



9



1.1.3.3. Bệnh lý xương khớp

Các tổn thương xương khớp như thối hóa đốt sống cổ, thốt vị đĩa đệm cột

sống cổ, trượt đốt sống cổ, loãng xương, dị tật bẩm sinh cột sống, viêm,… Nếu

không điều trị, lâu dần người bệnh có thể bị mất chức năng hoạt động.

1.1.3.4. Sự lão hóa

Do q trình lão hóa tự nhiên nên hệ mạch máu, cơ, dây chằng vùng cổ gáy

bị giảm tính dẻo dai, đàn hồi khiến việc lưu thơng máu và trao đổi ơ-xy ở đây

suy giảm, từ đó gây ra đau mỏi, hạn chế vận động cổ [2], [6], [19], [31], [41].

1.1.4. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

1.1.4.1. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của đau vùng cổ gáy phụ thuộc vào nguyên nhân, vị

trí, mức độ và biến chứng của bệnh. Các triệu chứng được chia thành năm hội

chứng chính:

- Hội chứng cột sống cổ:

Triệu chứng thường gặp nhất trong hội chứng cột sống cổ là đau vùng cột

sống cổ cấp hay mạn tính, đau kèm co cứng cơ cạnh sống. Bệnh nhân có điểm

đau tại cột sống cổ hoặc hai bên cột sống cổ. Đau tăng lên khi ở tư thế cổ thẳng

hoặc cúi kéo dài, căng thẳng, thay đổi thời tiết đặc biệt là khi lạnh. Bệnh nhân

hạn chế vận động cột sống cổ. Đánh giá mức độ hạn chế vận động dựa trên việc

đo tầm vận động cột sống cổ [6], [9], [24], [31].

Phương pháp đo TVĐ cột sống cổ dựa trên phương pháp đo TVĐ khớp do

Viện hàn lâm các nhà phẫu thuật chỉnh hình của Mỹ đề ra. Phương pháp này quy

định mọi cử động khớp đều được đo từ vị trí khởi đầu Zero, trong đó vị trí Zero

là tư thế thẳng của người được khám, gồm đầu thẳng, mắt nhìn ra phía trước, hai

chân thẳng, đầu gối khơng gập, hai bàn chân song song với nhau, bờ trong hai

bàn chân áp sát vào nhau. Vị trí giải phẫu duỗi của chi và thân thể được quy ước

là 00. [27], [37], [39], [40].



10



TVĐ khớp được đo chủ động hoặc thụ động. Vận động chủ động là chuyển

động khớp của bệnh nhân qua TVĐ góc quy định của khớp. Vận động thụ động

là chuyển động khớp của người khám qua TVĐ quy định của khớp.

TVĐ của cột sống cổ được đo ở các động tác gấp duỗi (cúi ngửa), nghiêng

bên và quay.

+ Đo độ gấp duỗi: người đo đứng phía bên bệnh nhân, hai cành của thước

đi qua đỉnh đầu, người bệnh ở tư thế thẳng góc với mặt đất (đứng hay ngồi), lần

lượt cúi ngửa cổ, cành cố định ở vị trí khởi điểm, cành di động theo hướng đi

của đỉnh đầu. Bình thường gấp có thể đạt đến cằm chạm vào ngực, duỗi đến

mức ụ chẩm nằm ngang.

+ Đo độ nghiêng bên: người đo đứng phía sau BN, gốc thước đặt ở mỏm

gai CVII, cành cố định nằm ngang song song với mặt đất, cành di động trùng với

trục đứng của thân. Góc đo được là góc tạo giữa cành cố định và cành di động

đặt theo hướng đường nối từ điểm gốc CVII đến đỉnh đầu bệnh nhân.

+ Đo cử động quay: người đo đứng ở phía sau, gốc thước là giao điểm của

đường nối đỉnh vành tai hai bên cắt đường giữa thân. Hai cành của thước chập

lại đặt theo hướng nối đỉnh đầu đi qua đỉnh mũi. Khi bệnh nhân xoay đầu lần

lượt sang từng bên, cành di động của thước xoay theo hướng đỉnh mũi trong khi

cành cố định ở lại vị trí cũ.

- Hội chứng rễ thần kinh:

Khi có hội chứng rễ, bệnh nhân thường có các rối loạn cảm giác kiểu rễ

như đau âm ỉ lan dọc theo đường đi của rễ thần kinh, đau từ cổ lan xuống tay

phải hoặc tay trái hoặc lan lên vùng gáy. Đau tăng với các tư thế và nghiệm pháp

(ho, hắt hơi, ngồi lâu) hay khi trọng tải trên cột sống cổ tăng (khi đi, đứng, ngồi

lâu). Bệnh nhân có thể có các dị cảm vùng da do rễ thần kinh bị chèn ép chi phối

như tê bì, kiến bò, nóng rát. Nặng hơn, bệnh nhân có thể có rối loạn vận động

kiểu rễ gây giảm vận động một số cơ chi trên hoặc giảm hay mất phản xạ gân

xương do rễ thần kinh chi phối bị chèn ép [6], [24], [31].



11



Định khu tổn thương rễ thần kinh cổ

+ Rễ C1, C2 và một phần C3 tạo ra dây thần kinh chẩm Arnold, khi tổn

thương gây đau đầu vùng chẩm.

+ Rễ C3: đau vùng chẩm gáy; kèm theo nói khó và tức ngực.

+ Rễ C4: đau bả vai và thành ngực trước; có ho, nấc, khó thở.

+ Rễ C5: đau mặt ngồi cánh tay đến cẳng tay; yếu cơ delta.

+ Rễ C6: đau mặt trước cánh tay đến ngón cái và trỏ; yếu cơ nhị đầu.

+ Rễ C7: đau mặt sau cánh tay đến ngón giữa; yếu cơ tam đầu.

+ Rễ C8: đau mặt trong cánh tay đến ngón nhẫn và út; yếu cơ bàn tay.

Một số nghiệm pháp đánh giá tổn thương rễ thần kinh cổ:

+ Dấu hiệu chuông bấm: ấn điểm cạnh sống tương ứng với lỗ ghép thấy

đau xuất hiện từ cổ lan xuống vai và cánh tay.

+ Nghiệm pháp Spurling (ép rễ thần kinh cổ): bệnh nhân ngồi hoặc nằm

nghiêng đầu về bên đau, thầy thuốc dùng tay ép lên đỉnh đầu bệnh nhân, đau

xuất hiện ở rễ bị tổn thương do làm hẹp lỗ ghép.

+ Nghiệm pháp căng rễ thần kinh cổ: bệnh nhân ngồi đầu nghiêng xoay về

bên lành. Thầy thuốc cố định vai và từ từ đẩy đầu bệnh nhân về bên kia, đau

xuất hiện dọc theo rễ thần kinh bị tổn thương. Hoặc bệnh nhân ngồi, thầy thuốc

đặt tay lên vùng chẩm ấn từ từ cho cằm chạm xương ức, đau cũng xuất hiện dọc

theo rễ thần kinh bị tổn thương.

+ Nghiệm pháp trùng rễ thần kinh cổ: bệnh nhân ngồi, thầy thuốc nâng

cánh tay bên đau của bệnh nhân lên đầu và đưa ra sau, các triệu chứng rễ giảm

hoặc mất.

+ Nghiệm pháp kéo giãn cột sống cổ: bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc

dùng hai bàn tay đặt lên cằm và chẩm bệnh nhân, từ từ kéo theo trục dọc một lực

độ 10-15kg, các triệu chứng rễ cũng giảm hoặc mất [7].

- Hội chứng động mạch đốt sống:



12



Đau đầu vùng chẩm, chóng mặt, ù tai, mờ mắt, đơi khi có giảm thị lực

thống qua, loạn cảm thành sau họng, nuốt vướng đau.

Rung giật nhãn cầu, hội chứng tiểu não, hội chứng giao bên. Có cơn sụp đổ

(Drop - attacks) khi quay cổ quá nhanh ở tư thế bất lợi [31].

- Hội chứng thần kinh giao cảm:

+ Hội chứng giao cảm cổ sau (Hội chứng Barré - Lieou): đau nửa đầu hoặc

vùng chẩm, chóng mặt, ù tai, mờ mắt hoặc mất thị lực thoáng qua, cơn rối loạn

vận mạch. Các triệu chứng trên tăng lên khi quay cổ.

+ Hội chứng vai - bàn tay: đau ở vùng bàn tay, các ngón tay, da bàn tay, có

khi xanh tím, giảm nhiệt độ so với bên lành.

+ Kích thích đám rối thần kinh cổ sau: cơn đau kiểu mạch đập ở vùng

chẩm, hội chứng Claude Bernard - Horner, tê cóng bàn tay kiểu Raynaud, loạn

cảm bỏng buốt ở khớp vai, co cứng các cơ cổ, tức ngực, hụt hơi, dị cảm ở họng.

+ Hội chứng cơ thang: đau mặt trong cánh tay xuống ngón IV-V và đau lan

lên chẩm; đau tăng khi quay và nghiêng đầu sang bên đau kèm theo có lạnh

ngọn chi, xanh tím, phù nề, mất mạch quay. Cần chẩn đốn phân biệt với bệnh lý

còn xương sườn cổ VII.

+ Hội chứng tim (cardiac syndrome): bệnh nhân thường thấy đau ngực

vùng trước tim, đau tăng khi quay đầu, giơ cánh tay lên cao hoặc khi ho, hắt hơi;

đôi khi xuất hiện như cơn đau thắt ngực, nhưng điện tim ở những bệnh nhân này

hồn tồn bình thường [31].

- Hội chứng tủy cổ:

+ Chèn ép tuỷ mức độ nhẹ: giai đoạn đầu, đĩa đệm chèn ép rễ thần kinh,

nhưng sau đó đĩa đệm chèn ép cả tuỷ sống. Chèn ép tuỷ mức độ nhẹ biểu hiện

bởi rối loạn vận động làm mất tính khéo léo của bàn tay trong các động tác như

viết, cài cúc áo, đánh máy vi tính; hai chân cảm giác căng cứng, đi lại khó khăn;

có thể thấy tăng nhẹ các phản xạ gân xương.



13



+ Chèn ép tuỷ mức độ nặng: chân tay còn vận động được nhưng đi lại rất

khó hoặc khơng đi lại được, mất khả năng tự phục vụ cá nhân, các phản xạ gân

xương tăng rõ. Mức độ rất nặng gây liệt hoàn toàn tứ chi.

+ Hội chứng Brown-Sequard: Thốt vị đĩa đệm cổ có thể gây hội chứng

Brown-Sequard (còn gọi là hội chứng phân ly cảm giác) là do đĩa đệm chèn ép

một nửa bên tuỷ.

1.1.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng

- Xét nghiệm máu: it có giá trị chẩn đoán trong bệnh lý đau vùng cổ gáy do

nguyên nhân cơ học. Trong những bệnh như khối u, viêm, nhiễm trùng có thể

thấy thay đổi trong một số xét nghiệm như tế bào máu ngoại vi, tốc độ máu lắng,

CRP, phospharase kiềm, điện di protein huyết thanh...

- Xquang cột sống cổ có thể thấy hình ảnh THCSC: gai xương ở thân đốt

sống, mặt khớp đốt sống, lỗ gian đốt sống; hẹp khoang gian đốt sống, hẹp lỗ tiếp

hợp (tư thế chếch ¾); đặc xương dưới sụn, phì đại mấu bán nguyệt và mất

đường cong sinh lý cột sống cổ [19], [24].



A



B

C

Hình 1. 5. X-quang cột sống cổ bình thường



Tư thế chụp trước sau (A), tư thế chụp nghiêng (B), tư thế chụp chếch (C)

1. Thân đốt sống 2. Mỏm răng 3. Diện khớp

5. Mỏm gai

6.Mỏm ngang 7. Thân đốt trục (C2)

9. Cung trước đốt đội (C1) C. Mỏm móc

D. Mảnh



4. Lỗ gian đốt sống

8. Khe gian đốt sống

E. Cuống



14



D



E



Hình 1. 6. X – quang cột sống cổ bị thoái hóa

Tư thế chụp trước sau (D), tư thế chụp nghiêng (E).

- Cắt lớp vi tính cho thấy nhiều mặt cắt của cột sống cổ, giúp xác định rõ

tổn thương. Cộng hưởng từ cho phép quan sát các cấu trúc mềm của vùng cổ,

đặc biệt là tủy sống.

- Chụp động mạch đốt sống: nguyên nhân đè ép động mạch đốt sống chủ

yếu là do gai xương phát triển từ khớp móc cột sống đè vào.

1.1.5. Chấn đoán đau vùng cổ gáy

1.1.5.1. Chẩn đốn xác định

Bệnh nhân có hội chứng cột sống cổ hoặc/ và hội chứng chèn ép rễ thần

kinh tủy cổ [1], [6], [19].

1.1.5.2. Chẩn đốn phân biệt

Viêm xương, mơ mềm cạnh sống, lao, các khối u;

Các bệnh thối hóa thần kinh (xơ cứng cột bên teo cơ, xơ cứng rải rác ...)

Viêm đám rối thần kinh cánh tay;

Bệnh lý khớp vai, viêm quanh khớp vai;

Bệnh lý tim mạch, tiêu hóa đau lan lên cổ gáy.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×