Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Một số di chứng sau viêm não

Bảng 1.1: Một số di chứng sau viêm não

Tải bản đầy đủ - 0trang

33



Ghi chú: VN: viêm não.

VNNB: viêm não Nhật Bản.

HSV: vi rút Herpes Simplex.



Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2012 đã

có 849 trẻ viêm não, tỷ lệ xác định được căn nguyên là 29,9%. Các căn

nguyên hay gặp là viêm não Nhật bản, vi rút herpes simplex, vi rút đường

ruột, quai bị, thủy đậu… Trong số 134 bệnh nhi xác định được nguyên nhân,

viêm não Nhật bản gặp nhiều nhất (52,4%), tiếp theo là vi rút herpes simplex

1 (27,62%), vi rút đường ruột (14,93%) [1].

Năm (2012). Phạm Nhật An và cộng sự nghiên cứu các căn nguyên

viêm não ở Trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung Ương cho thấy các căn nguyên

thường gặp nhất theo thứ tự là Rubella, viêm não Nhật Bản, HSV1, EV [1].

Năm (2013). Trịnh Thị Luyến nghiên cứu 520 bệnh nhân viêm não

trong thời gian 1/7/2012 đến 30/6/2013 tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho

biết tỷ lệ tìm được căn nguyên viêm não là 46%. Có 5 căn nguyên vi rút được

xác định chắc chắn: VNNB, HSV1, EV, EBV, CMV. 3 căn nguyên thường gặp

theo thứ tự là VNNB (41,7%), viêm não HSV1, viêm não do vi rút đường

ruột. Số còn lại là một số căn nguyên vi khuẩn, nấm, ký sinh vật [75].

1.4. Bệnh viêm não do vi rút herpes simplex theo Y học cổ truyền

1.4.1. Bệnh danh

Y học cổ truyền khơng có bệnh danh cho bệnh viêm não. Tuy nhiên khi

đối chiếu so sánh với những mô tả trong y văn kinh điển của Y học cổ truyền,

ta thấy bệnh thuộc phạm vi chứng Ôn bệnh [17],[76],[77],[78],[79].

Ôn bệnh là các bệnh cảm phải ơn tà. Ơn bệnh nằm trong phạm trù của

bệnh có tính chất nhiệt như: Nóng, khát, miệng khô, mồ hôi ra nhiều, họng

đau, tâm phiền, đại tiện táo, xuất huyết, điên cuồng, mê sảng, co giật, mạch

sác [17].



34



Ơn bệnh có thể gây ra ơn dịch là bệnh hàng loạt người bị do lây nhiễm,

Chu Dương Tuấn nói: “Một người bị gọi là ôn, một địa phương nhiều người

bị bệnh giống nhau gọi là dịch” [78].

1.4.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Do nhiệt tà xâm nhập từ biểu vào lý, nhiệt cực sinh phong, tân dịch giảm

sinh đàm nên xuất hiện các chứng sốt cao, co giật, mê sảng. Đàm làm tắc các

khiếu gây hôn mê, chứng nội bế ngoại thoát (trụy tim mạch, co mạch ngoại biên).

Tùy theo bệnh phát vào mùa nào mà có tên gọi khác nhau, như mùa

xuân: Xuân ôn, Phong ôn; mùa hạ: Thử ôn; mùa thu: Thu táo; mùa đông:

Đông ôn.

Bệnh chuyển biến qua các giai đoạn: vệ (khởi phát), khí (tồn phát chưa

có biến chứng), dinh, huyết (tồn phát có biến chứng mất nước, rối loạn điện

giải, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch), thương âm thấp trở ở kinh

lạc (hồi phục và di chứng thần kinh, tâm trí).

Nếu nhiệt vào đến phần huyết, rối loạn tuần hành khí huyết, ảnh hưởng

đến dinh dưỡng của cân cơ và các khiếu sẽ để lại di chứng liệt tứ chi, câm,

điếc, thần trí bất minh [15],[78],[80],[81].

1.4.3. Các thể lâm sàng

1.4.3.1. Ơn tà vào phần vệ









Triệu chứng:

+ Sốt, sợ gió, nhức đầu, hơi khát, ho.

+ Đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng.

+ Mạch phù sác.

Pháp điều trị: thanh nhiệt, giải biểu.



1.4.3.2. Ôn tà vào phần khí





Triệu chứng:

+ Sốt cao, ra mồ hơi nhiều, nhức đầu, chống váng, gáy cứng, buồn nơn,

+

+



nơn.

Mặt đỏ, tâm phiền, đại tiện bí kết.

Mặt bẩn, răng khơ, miệng khát, thích uống nước mát.



35



Mạch hồng đại.

Pháp điều trị: thanh nhiệt tả hỏa.

+







1.4.3.3. Ôn tà vào phần dinh









Triệu chứng:

+ Sốt cao gây co giật, mê sảng, hơn mê.

+ Mặt đỏ, khát, thích uống nước lạnh, uống vào vẫn không hết khát.

+ Tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí.

+ Rêu lưỡi vàng khơ, mạch hồng hoạt sác.

Pháp điều trị: thanh thiệt tả hỏa, khai khiếu tỉnh thần, bình can tức phong,

lưu thơng kinh mạch.



1.4.3.4. Ôn tà vào phần huyết





Triệu chứng:

+



Sốt cao, co giật, hôn mê.



+



Chân tay co cứng.



+



Chảy máu: chảy máu cam, nôn ra máu, đại tiện ra máu, ban chẩn

chảy máu dưới da.







+



Đại tiểu tiện khơng tự chủ.



+



Chất lưỡi đỏ tím, mạch tế sác.



Pháp điều trị: thanh nhiệt tả hỏa, dưỡng âm, lương huyết chỉ huyết.



1.5. Thời kỳ thương âm và di chứng





Nhiệt vào phần huyết kéo dài làm tân dịch bị hao tổn, không nuôi dưỡng được

cân cơ, kinh lạc bế tắc, các khiếu không thông gây liệt tứ chi, suy giảm trí tuệ.







Ở giai đoạn này bệnh diễn biến rất phức tạp, tùy từng thời kỳ bệnh nhi sẽ

có những biểu hiện lâm sàng khác nhau như sau:

+ Thiên về âm hư: trẻ đêm nóng sáng mát, da thịt gầy róc, miệng họng



khơ, hết sốt hoặc chỉ còn sốt nhẹ mà khơng có mồ hơi, lòng bàn tay bàn chân

nóng và đỏ, tinh thần mờ tối, nằm yên ít cử động. Đại tiện táo, nước tiểu

vàng. Miệng họng khô, môi lưỡi đỏ, ít rêu khơng rêu, mạch tế sác. Pháp điều

trị: dưỡng âm thanh nhiệt.



36



+ Nếu âm huyết hư sinh phong: trẻ thêm chân tay co cứng, co vặn, co giật.

Tương đương với bệnh nhi giai đoạn bán cấp, có các rối loạn vận động, như các

cơn tăng trương lực cơ, xoắn vặn, lệch trục chi hoặc cơ thể, múa vờn múa giật

hoặc động kinh.

Nếu âm hư hỏa vượng trẻ thêm mặt mắt đỏ, miệng mơi khơ đỏ, quấy

khóc la hét, vật vã, mất ngủ nặng có thể đập phá, đánh những người xung

quanh. Tương đương với bệnh nhi giai đoạn bán cấp có loạn thần do rối

loạn tâm chí.

Pháp điều trị: tư âm dưỡng huyết, chỉ kinh phong.

+ Thiên về khí huyết hư: đần độn, khơng nói, chân tay co cứng hoặc liệt,

sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhợt, mạch tế sáp. Pháp điều trị: bổ khí dưỡng huyết

[16],[17],[18].

Các pháp điều trị trên là để chữa vào gốc bệnh. Ngoài ra, tùy theo các

triệu chứng kèm theo mà dùng thêm các pháp điều tri như trừ đàm thông lạc,

khai khiếu tỉnh thần.

1.6. Điều trị sau viêm não cấp bằng Y học cổ truyền

Viêm não là bệnh thuộc về ôn bệnh, do ôn nhiệt tà xâm nhập vào cơ thể

thành bệnh. Mặc dù sau giai đoạn cấp tà nhiệt đã được đẩy lui, nhưng tân dịch

bị tổn thương nặng, thủy hỏa bất điều, khí huyết suy giảm, cân mạch suy tổn,

kinh lạc bế tắc, thanh khiếu chưa khai thông được, để lại nhiều di chứng ơn

bệnh. Vì vậy, pháp điều trị tùy theo gốc bệnh sẽ phải tư âm thanh nhiệt, dưỡng

huyết chỉ kinh phong, hay bổ khí dưỡng huyết, kết hợp với điều trị triệu

chứng bằng pháp khai khiếu tỉnh thần, trừ đàm thông kinh lạc.

1.6.1. Các phương pháp không dùng thuốc





Châm cứu:

Là một trong những phương pháp điều trị bệnh có nhiều hiệu quả. Theo



lý luận y học Đơng phương, cơ thể phát sinh bệnh tật là do sự mất thăng bằng

âm dương, châm cứu có tác dụng cơ bản là điều khí, khí hòa thì huyết hòa,



37



cân bằng âm dương. Châm cứu là tác động vào huyệt để điều khí, điều chỉnh

các rối loạn chức năng của kinh mạch, tạng phủ [82],[83],[84].

Kinh lạc là nơi khí huyết vận hành để nuôi dưỡng và làm cho cơ thể

khỏe mạnh và chống lại các tác nhân gây bệnh.

Khi châm cứu phải đạt được cảm giác đắc khí, châm bổ hoặc tả tuỳ

theo bệnh lý hư thực. Phải vận dụng thích hợp châm hay cứu: hàn thì cứu, hư

thì bổ, thực thì tả.

Nguyên tắc chọn huyệt là "kinh mạch sở quá, chủ trị sở cập" nghĩa là

kinh lạc đi qua vùng nào thì chữa bệnh vùng đó và "tn kinh thủ huyệt"

nghĩa là chọn huyệt trên đường kinh đi qua nơi bị bệnh.

Châm cứu thông qua huyệt vị để điều chỉnh biến hoá bệnh lý. Khi châm

cứu phải chọn đường kinh cho chính xác, chọn đường kinh vơ cùng quan

trọng, sau đó sẽ lấy huyệt, người xưa nhấn mạnh: “Ninh thất kỳ huyệt, vô thất

kỳ kinh” nghĩa là thà mất huyệt, không mất kinh.

Châm cứu là tác động vào huyệt để điều chỉnh các rối loạn chức năng của

kinh mạch. Khí thúc đẩy vận hành của huyết, huyết là mẹ của khí, chở khí đi, khi

khí hư thì huyết khơng vận hành tốt, do đó nó sẽ ứ trệ khơng lưu hành nữa, châm

cứu là tác động vào huyệt để điều khí dẫn huyết tới nơi bị bệnh.

Mục đích của châm cứu là điều khí và giảm đau làm cho khí huyết lưu

thông, đưa sự mất cân bằng âm dương của cơ thể trở lại trạng thái thăng bằng.

Sau khi đã châm đắc khí (đúng huyệt) thì phải tiếp tục kích thích nhằm đạt

mục đích bổ đối với chứng hư và tả đối với chứng thực.

Trong di chứng viêm não thường dùng châm để PHCN như sau:

* Pháp điều trị: dưỡng âm, thanh nhiệt, khai khiếu, tỉnh thần, trừ đàm

thông kinh lạc.

Các phương pháp châm thường sử dụng:

Các phương pháp kinh điển: Hào châm, nhĩ châm, mai hoa châm.

Tân châm: Điện châm, trường châm, thủy châm, cấy chỉ…

* Huyệt điều trị:



38



+ Tả: Bách hội, Đại chùy, Khúc trì, Thủ tam lý, Hợp cốc, Dương lăng

tuyền, Phong thị, Hoàn khiêu, Thừa sơn, Ngoại quan.

+ Bổ: Tam am giao.

Sử dụng các huyệt khu phong, thanh nhiệt, khai khiếu, khai thông kinh lạc…

- Khu phong: Phong trì, Phong mơn, Hợp cốc.

- Thanh nhiệt: Đại chùy, Khúc trì, Hợp cốc.

- Khai khiếu, tỉnh thần: Bách hội, Á môn, Thượng liêm tuyền.

- Khai thông kinh lạc:

+ Vận động cổ: Phong trì, Đại chùy, Giáp tích C3 - C6.

+ Vận động tay: Giáp tích C3 - C6, Kiên ngung, Khúc trì, Thủ tam lý,

Hợp cốc, Lao cung, Bát tà.

+ Vận động lưng: Mệnh môn, Thận du, Đại trường du.

+ Vận động chân: Trật biên, Hoàn khiêu, Ủy trung, Thừa sơn, Côn lôn,

Dương lăng tuyền, Giải khê.

- Bổ khí: Khí hải, Túc tam lý, Quan nguyên.

- Bổ huyết: Cách du, Can du, Tam âm giao, Huyết hải.

- Liệu trình: hào châm 1 lần/ngày, vào buổi sáng. Mỗi liệu trình: châm

5 ngày/tuần, nghỉ hai ngày.

- Chống chỉ định: tạm thời ngừng châm khi bệnh nhi sốt do nhiễm trùng



-



cơ hội như viêm phế quản, viêm phổi, viêm đường tiết niệu...

- Thủ pháp châm:

Châm bổ: thỉnh thoảng vê kim bằng tay cùng chiều kim đồng hồ, lưu kim 20-



-



30 phút.

Châm bình bổ bình tả: Tiến kim chậm, vê kim nhẹ nhàng, khi rút kim đến sát

ngoài da nghỉ 1 chút rồi rút kim nhanh, lưu kim 15- 20 phút.

 Điện châm

Dòng điện được kích thích vào những chỗ gọi là “Huyệt”, là nơi kinh

khí đi qua, nơi có mối quan hệ chặt chẽ với tạng phủ và toàn cơ thể để điều

trị bệnh. Điện châm là phương pháp dùng dòng điện tác động lên các huyệt

qua các kim châm. Điện châm là một phát triển mới của châm cứu và là

phương pháp kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, phát huy được cả tác

dụng của dòng điện điều trị lẫn tác dụng của huyệt châm cứu.

Thời gian điện châm kéo dài 30 phút/lần. Mỗi đợt điều trị kéo dài từ 2030 ngày, sau đó bệnh nhi được nghỉ ngơi 2-4 tuần và quay lại điều trị cho đến



39



khi khỏi bệnh [21],[22].

 Mãng châm

Là phương pháp dùng kim to và kim dài châm xuyên nhiều huyệt trên

một đường kinh hoặc nhiều đường kinh nhằm điều khí nhanh hơn, mạnh hơn

để điều trị các chứng bệnh khó như chứng đau, châm tê trong phẫu thuật và

điều trị các chứng liệt.

 Cấy chỉ (chôn chỉ)

Cấy chỉ vào huyệt là một phương pháp chữa bệnh, phục hồi chức năng

rất độc đáo, kết hợp giữa y học cổ truyền và YHHĐ, trên nền tảng châm cứu

của y học cổ truyền. Phương pháp này dùng dụng cụ đưa chỉ catgut (có khả

năng tự tiêu sau một thời gian nhất định) vào huyệt vị, sự tồn lưu của chỉ tại

huyệt trong thời gian đó đã phát huy vai trò kích thích huyệt đạo nhằm tạo

được sự cân bằng âm dương, điều chỉnh chức năng tạng phủ, hành khí hoạt

huyết, khai uất trệ, giảm đau…





Xoa bóp bấm huyệt

Dùng hỗ trợ thêm cho việc PHCN vận động bằng châm cứu.

Người thầy thuốc dùng bàn tay, ngón tay tác động lên huyệt, da, cơ, gân,



khớp của người bệnh. Xoa bóp thơng qua tác động vào huyệt và kinh lạc có

thể đuổi được ngoại tà, điều hòa được dinh vệ, thơng được kinh lạc, điều hòa

được chức năng tạng phủ mà chữa khỏi được bệnh tật.

Xoa bóp bấm huyệt trong điều trị viêm não cần dùng các động tác nhẹ

nhàng phù hợp với thể trạng suy kiệt ở trẻ mắc bệnh (xoa, xát, day, bóp,…)

mục đích làm mềm cơ. Sau đó tiến hành vận động các đoạn chi theo nguyên tắc

từ từ, tăng dần, vừa sức chịu đựng của trẻ và trong tầm vận động của khớp.

Xoa bóp bấm huyệt mỗi ngày từ 2-3 lần. Chú trọng các động tác ở huyệt

vùng đầu mặt cổ và cột sống, bàn tay, bàn chân. Xoa bóp bấm huyệt cũng ở tư

thế nằm sấp và nằm ngửa. Xoa bóp từng vùng nếu cần sẽ làm cho toàn thân. Chú

ý bấm huyệt tùy sức chịu đựng của bệnh nhi. Tùy từng bệnh mà xoa bóp theo



40



hướng bổ hay tả. Nếu bệnh nhân thể lực còn khỏe, bệnh mới (thể thực) thì xoa

bóp tả (xoa bóp ngược chiều kim đồng hồ, ngược đường kinh) nhiều hơn. Còn

bổ xoa bóp cho những trường hợp yếu, nằm lâu ngày (thể hư) [18],[81],[82],

[83],[84].

Bố mẹ các cháu có thể áp dụng để xoa bóp cho các cháu tại gia đình (sau

khi được các thầy thuốc hướng dẫn).

1.6.2. Phương pháp dùng thuốc

Thường sử dụng các vị có tác dụng tư âm dưỡng huyết (Sinh địa, Thục

địa, Đương quy, Bạch thược, Mạch mơn,…), bổ khí dưỡng huyết (Hồng

kỳ, Đại táo, Đảng sâm,…), trừ đàm, khai khiếu tỉnh thần (Thạch xương bồ,

Viễn trí, Uất kim,…), tư âm thanh nhiệt (Tri mẫu, Hồng bá,...). Trong đó,

các vị thuốc tư âm dưỡng huyết, bổ khí dưỡng huyết là những vị thuốc

chính [18],[82],[83],[84].

Để tư âm giáng hỏa dùng bài: Tri bá địa hồng hồn (Y tơn kim giám).

Thục địa



16g



Trạch tả



06g



Hồi sơn



08g



Bạch linh



06g



Sơn thù



08g



Đơn bì



06g



Tri mẫu



12g



Hồng bá



16g



Sắc uống 1 thang trong/ngày, chia 2 lần.

Bài thuốc lục vị để tư âm dưỡng huyết, thêm hai vị Tri mẫu, Hoàng bá

để giáng tướng hỏa, tả thận hỏa. Hợp lại có cơng tư âm giáng hỏa mạnh,

bài thuốc được dùng cho các bệnh nhi viêm não giai đoạn bán cấp, có loạn

thần do rối loạn tâm trí [85],[86],[87],[88].

1.7. Châm cứu và cơ chế tác dụng của châm cứu

1.7.1. Khái quát về châm cứu

Châm cứu là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo của y

học cổ truyền phương Đông. Tổ chức Y tế Thế giới từ năm 1979 đã khẳng



41



định châm cứu là một phương pháp chữa bệnh hữu hiệu và đã xây dựng danh

pháp quốc tế về kinh huyệt châm cứu. Tác dụng của châm cứu là điều khí để

điều hồ lại rối loạn âm dương trong cơ thể góp phần tiêu trừ bệnh tật [15],

[16], [89],[90].

Theo y văn cổ, cơ sở của châm cứu là kinh lạc và huyệt. Kinh lạc là thuật

ngữ chung của kinh mạch và lạc mạch, là một mạng lưới phân bố khắp toàn

thân, trong tới tạng phủ, ngoài đến da, cơ, gân, xương, làm cho cơ thể thành

một khối thống nhất. Huyệt thường nằm trên kinh lạc và ngồi kinh lạc.

Huyệt là nơi thần khí hoạt động vào ra, được phân bố khắp phần ngoài cơ thể

(biểu), nhưng khơng phải là hình thái tại chổ của da, cơ, gân, xương. Kinh lạc

bị rối loạn có vai trò lớn trong việc sinh ra bệnh tật. Kinh lạc hoạt động dưới

tác động của kinh khí. Muốn điều hòa lại các rối loạn của kinh lạc phải sử

dụng châm cứu, vì có tác dụng chính là điều khí, ngồi ra còn có tác dụng

giảm đau hoặc làm hết đau. Thiên Thích tiết châm tả, sách Linh khu, viết:

“Mục đích và phạm vi của việc dùng châm là để điều hòa khí” [15],[91],[92].

Điều khí bản chất là điều hòa khí âm dương, trên cơ sở tả cái thực của khí hữu

dư, bổ cái hư của khí bất túc ở những vị trí khác nhau của cơ thể, do những tà

khí khác nhau gây ra [90],[92]. Tả cái thực của khí hữu dư chính là để ngăn

chặn và đuổi tà khí gây bệnh ra khỏi cơ thể (khu tà). Bổ cái hư của khí bất túc

nhằm phục hồi và nâng cao sức chống đỡ của cơ thể (phù chính). Âm dương

được điều hòa, khí huyết được thơng suốt, mọi bệnh tật có thể khỏi và mọi

chứng đau sẽ hết. Điều này y học cổ truyền gọi là “tăng cường chính khí để

đuổi tà khí”.

Theo khoa học hiện đại, châm cứu có khả năng điều hòa chức năng các

hệ thống, nhu mơ trong cơ thể, tăng cường miễn dịch, phòng chống bệnh tật,

và có khả năng giảm đau [90],[91]. Hai tác dụng này thường thể hiện đồng

thời, hiệp đồng với nhau. Một trong hai tác dụng đó có thể chiếm ưu thế trong



42



điều kiện bệnh lý nhất định. Kết quả của châm cứu là kết quả phối hợp của cả

hai tác dụng. Cơ sở của các tác dụng này có thể giải thích như sau: Châm cứu

có thể điều chỉnh các rối loạn sinh lý, sinh hóa ở mức độ nhất định, gây ra

những q trình biến đổi theo hướng có lợi cho sự sống của các nhu mơ, giúp

cho nhu mơ duy trì được tính tồn vẹn, khả năng phản ứng và sự bền vững

bình thường của nó. Vì vậy châm cứu khơng gây trở ngại cho chức năng sinh

lý bình thường của các mơ, cơ quan, mà còn thúc đẩy khả năng phòng chống

bệnh tật của cơ thể. Tuy nhiên khả năng tự điều chỉnh này chỉ giới hạn ở một

mức độ nhất định [90],[91]. Khi các tổn thương bệnh lý đã trở thành thực thể,

khả năng của châm cứu rất hạn chế. Robert H. Bannermann, Giám đốc

Chương trình y học cổ truyền của Tổ chức Y tế Thế giới, nêu tóm tắt như sau:

Theo quan điểm của y học hiện đại, hiệu quả chính của châm cứu là điều hòa

các chức phận của cơ thể, nâng cao sức chống đỡ, tăng cường chức năng hệ

miễn dịch, các khả năng chống viêm, giảm đau, chống co thắt, chống choáng

và chống liệt.

Phục hồi chức năng là một phương pháp nhờ đó người khuyết tật được

hoàn trả lại sức khỏe và khả năng tự hoạt động trong cuộc sống của mình. Tác

dụng của châm cứu nổi bật trong lĩnh vực điều trị các rối loạn chức năng, nên

nhiều nhà khoa học đã đặt châm cứu vào phạm vi chuyên ngành phục hồi

chức năng của y học hiện đại. Phạm vi ứng dụng của châm cứu ngày càng

được mở rộng. Châm cứu được sử dụng để điều trị triệu chứng hoặc các rối

loạn chức năng trong hầu hết các bệnh, ở tất cả các chuyên ngành như nội,

ngoại, sản, nhi… và cả thần kinh học.

Hiện nay, châm cứu được ứng dụng nhiều và thu được những kết quả

khả quan, để điều trị các bệnh sau của hệ thần kinh [18].



43



- Viêm hoặc liệt dây thần kinh ngoại vi, đám rối và rễ thần kinh cổ, ngực,

lưng cùng như: liệt VII ngoại vi do lạnh, đau dây thần kinh liên sườn, đau dây

thần kinh hông…

- Nhức đầu do rối loạn tuần hoàn não, đau nửa đầu (Migraine), hội

chứng suy nhược thần kinh…

- Liệt vận động, đặc biệt là rối loạn trương lực cơ do di chứng tai biến mạch

não, viêm màng nhện tủy sống, bệnh não sau phát ban, bại liệt trẻ em…

1.7.2. Cơ chế tác dụng của châm cứu

1.7.2.1. Theo học thuyết thần kinh, thần kinh thể dịch

Với đặc điểm kim trực tiếp vào da, xuyên qua da, đến cơ, đến gân, đến

màng xương, tùy vị trí bệnh đến đúng nơi bị bệnh, có thể thấy ngoài việc

tác động cơ học các tổ chức kim đi qua, còn tác động phá hủy các tổ chức

nơi kim đi qua, trong đó có các cơ quan cảm thụ thần kinh của các tổ chức

đó [90].

Vai trò của cơ chế thần kinh: Cơ chế phản xạ thần kinh là cơ chế rất

quan trọng có ở tất cả mọi nơi của hệ thần kinh, thể hiện ở: Xung động của

một mạng nơron quay lại kích thích chính mạng này theo cơ chế feedback

(phản ứng ngược) dương, kết quả là một khi bị kích thích thì mạng phát xung

trong một thời gian dài.

-



Một số mạng phát xung liên tục mặc dù khơng bị kích thích có thể do tính

hưng phấn nội tại của nơron nếu điện thế màng của nó cao đến ngưỡng nào



-



đó; hoặc do tín hiệu phát từ mảng phản xạ.

Có những nơron phát xung một cách liên tục nhịp nhàng như nơron của thần

kinh hô hấp.

Theo cơ chế phản xạ thần kinh, châm có thể tạo ra 3 loại phản ứng [89].

- Châm có thể tạo nên phản ứng tại chỗ, mà người xưa gọi là đắc khí,

được biểu hiện ở bệnh nhân có cảm giác căng tức nặng (receptor xúc giác bị

kích thích) và thầy thuốc thấy kim bị giữ lại (cơ tại chỗ kim châm co), sau đó

thấy quanh da quanh kim có phản ứng vận mạch (màu da thay đổi hồng do



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Một số di chứng sau viêm não

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×