Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hút đờm rãi thường xuyên.

Hút đờm rãi thường xuyên.

Tải bản đầy đủ - 0trang

28



Chang Chiu, sốt 75%, cơn tăng trương lực 63%, hôn mê 60%, thay đổi ý thức

48%. Theo Jorina M.Elbers, sốt 100%, co giật cục bộ 69%, liệt nửa người

31%, thất ngôn 13% [59]. Về cận lâm sàng theo Wen-Bin Hseih, tổn thương

trên CLVT và CHT phù hợp với vi rút Herpes simplex 63%, điện não đồ bất

thường 79%. Theo Jorina M.Elbers, hình ảnh tổn thương trên CLVT và CHT

bao gồm (Phù não, giảm tỷ trọng, tăng tỷ trọng, chảy máu). Vị trí tổn thương

thuỳ thái dương 44%, thuỳ chẩm, trán, đỉnh 13%, tổn thương cuộn não

31%, 25% nhồi máu não sau đó chảy máu não. DNT: 50% có tăng protein,

96,8% có tăng tế bào, 18,6% có 50 - 100 X 10 6RB/l phản ứng khuyếch đại

chuỗi polymerase (PCR) trong dịch não tuỷ 75% dương tính, 25% âm tính,

12,5% dịch não tuỷ ở ngày thứ nhất của bệnh âm tính, nhưng bệnh dương

tính vào ngày thứ ba và thứ bảy của bệnh dương tính. Theo Wen-Bin Hseih,

Nan - Chang Chiu nếu điều trị Acyclovir muộn sau ba ngày cho kết quả

không tốt, thường để lại di chứng nặng, tái phát sau khi cho ra viện. Sau

khi cho ra viện theo dõi ba tháng thấy 63% có kết quả tốt, 44% có rối loạn

về trương lực, 25% chậm phát triển trí tuệ, 13% liệt nửa người, khơng có

bệnh nhân tử vong [58].

Nghiên cứu của Tzu-Chi Lee và các cộng sự ở nhiều trung tâm tại Đài

Loan về viêm não cấp từ tháng 5 năm 2000 đến tháng 12 năm 2001 trên 127

bệnh nhân được chẩn đốn viêm não cho biết có 73 nam (57%), 54 nữ (43%),

tỷ lệ nam/nữ là 1,4/1. Tuổi trung bình là 35 tuổi ± 2, nhóm tuổi 1 - 15 tuổi có

23 bệnh nhân (18,11%). 69% trong số 127 bệnh nhân xác định được nguyên

nhân (HSV 36%, VZV 13%, lao 10%, CMV 6%, Adenovirus 4%, Enterovirus

1%, cúm 1%) còn 31% chưa xác định được nguyên nhân. Căn nguyên gây

viêm não do vi rút Herpes simplex vẫn là nguyên nhân quan trọng và gặp

nhiều nhất tại Đài Loan. Viêm não do HSV ở Đài Loan gặp rải rác trong năm

nhưng trội lên vào các tháng 5,6,7 [60].



29



Nghiên cứu 68 bệnh nhân viêm não do Herpes ở Karachi, Pakistan của

Mekan SF và các cộng sự (1990 – 2002) cho thấy: Về lâm sàng các bệnh nhân

đều có sốt, rối loạn tri giác, liệt khu trú và mất ngôn ngữ. Về cận lâm sàng,

dịch não tủy có biến đổi khơng bình thường 65/68 (96%), Điện não đồ có

sóng bất thường (82%), có hình ảnh tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính

hoặc cộng hưởng từ (66%). Tất cả bệnh nhân đều được điều trị bằng

Acyclovir, kết quả có 7/68 (10,29%) tử vong, 17/68 (25%) hồi phục hoàn

toàn, 29/68 (42,64%) di chứng thần kinh nhẹ, 15/68 (22,05%) di chứng thần

kinh nặng [60],[61].

Nghiên cứu nguyên nhân gây viêm não cấp tại Saint-Etienne Cedex,

Pháp (từ tháng 1 năm 1991 đến tháng 12 năm 2002) của Vial C, Pozzetto B và

các cộng sự cho biết, trong 32 bệnh nhân viêm não cấp có 26 trường hợp

(81%) xác định được nguyên nhân (VZV 31%, vi rút Herpes simplex 19%, vi

rút đường ruột 13%) [62].

Nghiên cứu hồi cứu về viêm não do Herpes ở người lớn tại Hong kong

(1998 – 2004) của AC Hui và các cộng sự cho biết có 16 bệnh nhân viêm não

do vi rút Herpes simplex, tuổi từ 24 đến 74 (tuổi trung bình 51), tỷ lệ nam/nữ

(1/1), giai đoạn khởi phát sốt 94%, tiếp theo là nhức đầu co giật… Các triệu

chứng ở các bệnh nhân khác nhau. Kết quả tử vong 2/16 (13%), di chứng

nặng 4/16 (25%), hồi phục hoàn tồn 10/16 (62%). Viêm não do vi rút herpes

simplex còn là bệnh phổ biến ở người lớn tại Hong kong [2],[63].

Asa Fowler, Tommy Stodberg, Margareta Eriksson, Ronny Wickstrom

đã tiến hành nghiên cứu 93 trẻ em được chẩn đoán viêm não cấp từ năm 2000

đến 2004, nhằm thống kê các di chứng viêm não ở trẻ. Kết quả cho thấy 54%

số trẻ còn các di chứng sau viêm não, chủ yếu là những thay đổi nhân cách,

hành vi, và các vấn đề về nhận thức. Trong nhóm trẻ phục hồi hồn tồn,

các chỉ số trở về bình thường sau 6 đến 12 tháng, do đó các tác giả đã

khuyến cáo tất cả các bệnh nhi sau giai đoạn cấp 1 năm nên được khám lại.



30



Những trẻ xuất hiện cơn động kinh tái phát thường có triệu chứng co giật

trong giai đoạn cấp. Trẻ bị viêm não phản ứng có xu hướng chậm hơn so

với trẻ khác cùng lứa tuổi không bị bệnh. Tuy nhiên, khơng có sự khác biệt

về khả năng ghi nhớ [64].

Một nghiên cứu về động kinh ở trẻ em sau viêm não vi rút của Usha

Kant Misra, Chong Tin Tan và Jayantee Kalita đã chỉ ra rằng co giật không

chỉ là một triệu chứng thần kinh trong giai đoạn cấp của bệnh mà còn là yếu

tố giúp tiên lượng nguy cơ di chứng động kinh Các tác giả nhận thấy vi rút

Herpes simplex thường gây động kinh và các thể động kinh nặng ở bệnh nhi

viêm não. 50% số bệnh nhi bị viêm não do vi rút Herpes có triệu chứng co

giật do tổn thương ở thùy trán [65]

Bệnh tự kỷ cũng có thể là một di chứng sau viêm não Herpes. Nghiên

cứu của Ghaziuddin, I. Al-Khouri, N. Ghaziuddin đã nhận xét về vấn đề

này [66].

Thống kê tại Ba Lan, mỗi năm có khoảng 2.000-3.000 trường hợp viêm

não, viêm màng não do cả vi khuẫn và vi rút. Hai tác giả Lipke M. và Karasek

đã tiến hành một nghiên cứu dịch tễ học năm 2011 tại quốc gia này, kết quả là

2.915 trường hợp viêm màng não và viêm não. Trong đó có 1.438 bệnh nhân

do nhiễm vi rút, 888 bệnh nhân do nhiễm khuẩn và 589 bệnh nhân do các

nguyên nhân khác. Trong các trường hợp được thống kê thì viêm não hay

viêm màng não do não mô cầu, phế cầu và vi rút Herpes chiếm chủ yếu [27]

1.3.2. Ở Việt Nam

Theo các kết quả nghiên cứu trong nước, viêm não cấp vẫn là vấn đề nổi

trội nhất trong các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em.

Theo Nguyễn Hoan Phú tại Bệnh viện Nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh,

từ tháng 6 năm 2006 đến tháng 8 năm 2007, có 110 bệnh nhân nghi ngờ viêm

não - màng não, được xét nghiệm dịch não tuỷ bằng phương pháp khuếch đại



31



chuỗi polymeraza (PCR) đã có 8 bệnh nhân có dương tính với vi rút herpes

simplex I, (7,3%), có 6 nam và 2 nữ, tuổi từ 19 đến 46. Tất cả bệnh nhân đều

có sốt và rối loạn tri giác, 5/8 trường hợp có nhức đầu dữ dội, co giật; hầu hết

các bệnh nhân đều có dấu hiệu màng não hoặc dấu hiệu thần kinh khu trú. Xét

nghiệm 6/7 mẫu dịch não-tuỷ thấy hồng cầu, bạch cầu từ 44 đến 925 tế

bào/mm3 với đa số tế bào lympho (>70%), 4/6 trường hợp có tổn thương thuỳ

thái dương trên phim CLVT hoặc CHT sọ não. Điều trị 5/8 trường hợp với

Acyclovir. Kết quả 4 trường hợp tử vong, 4 trường hợp hồi phục.

Năm 2008, Lê Trọng Dụng, nghiên cứu viêm não do Herpes qua 39

trường hợp cho thấy viêm não Herpes tăng lên vào mùa Đông Xuân và tuổi

thường gặp nhiều từ 1 tháng đến 5 tuổi với các triệu chứng là: sốt, co giật, hôn

mê, liệt khu trú. Xét nghiệm dịch não tủy cho thấy Protein có thể bình thường

hoặc tăng (cao nhất là 2,72g/l), tế bào ở mức < 5-400 tế bào/mm3, tăng chủ

yếu là tế bào lympho và mono. Hình ảnh tổn thương trên phim CLVT sọ não

có thể lan tỏa hoặc khu trú, thường gặp là giảm tỷ trọng, giảm tỷ trọng kèm

chảy máu, tăng tỷ trọng, rãnh cuộn não rộng, dịch dưới màng cứng. Vị trí tổn

thương khu trú thường gặp ở thuỳ thái dương một bên hoặc hai bên, thuỳ

chẩm, cuộn não, rãnh Sylvius, rải rác hai bán cầu [2].

Theo Vũ Minh Điền tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương từ tháng

09 năm 2007 đến tháng 09 năm 2011 có 35 bệnh nhi viêm não do vi rút

herpes simplex 1. Triệu chứng lâm sàng chính là sốt (94,23%), co giật

(45,71%), liệt khu trú (36,36%), mất trí nhớ (76,92%) giảm tri giác. Tổn

thương trên phim chụp CLVT chủ yếu là giảm tỷ trọng thùy thái dương. Điều

trị đặc hiệu bằng Acyclovir, tỷ lệ di chứng 57,14 %, tử vong 25,71% [67].

Hiện nay, bệnh viêm não bùng phát với nhiều dạng khác nhau như bệnh

viêm não do vi rút herpes, viêm não Nhật Bản... Các loại viêm não đều ảnh

hưởng tới tính mạng của bệnh nhân và di chứng thần kinh thường nặng nề [2].



32



Bảng 1.1: Một số di chứng sau viêm não



Tác giả



Nguyễn

Thị Thanh

Vân

[67]



Năm nghiên cứu



2001



Nguyên nhân



VNNB



Thời gian

mắc bệnh

Số trường hợp

Tỷ lệ di chứng

Rối loạn

ý thức

Co giật

động kinh

Liệt

Biể vận động

Rối loạn

u

trương

hiệ

lực cơ

n

thầ Rối loạn

n

Ngoại

kin

tháp

h

Rối loạn

ngôn ngữ

Rối loạn

nuốt

Rối loạn

cơ tròn

Rối loạn

cảm xúc

Rối loạn

trí nhớ

Biểu Rối loạn

hiện hành vi

tâm tác phong

trí

Rối loạn

hoạt động

Thay đổi

tính tình



1-2

Thán

g

51



Sau

3



m

24



Nguyễ

n Thị



Anh

[69]

2001



Nguyễ Nguyễ

Đặng



Hồn Vũ

n Kim n Thị

Minh Trọng g Thế Minh

Ngọc Vinh

Hằng Dụng Kiêm Điền

[ 72] [ 73]

[70]

[2]

[71] [ 67]



2003

VNN

VNNB

B

Dưới

3

tháng



116



2011



2013



2014



2015



HSV



VN



VN



VN



9-60

Trên 3 5-67

5 tuần

năm ngày

ngày



Dưới

30

ngày



Dưới

30-90

ngày



3-12

tháng



62



94,1%



2008

HSV



39

76,92

%



2009

VNN

B



Hoàng

ngọc

Tám

[74]



62



60,8%



68,1% 96,8%



8,3%



48,2%



90,2%



100% 100% 43,3%



72,6%



87,5% 81,2% 86,6% 24,3%



58,8%



80,2% 87,5%



62,8%



59,5% 90,6% 43,4% 21,6%



43,59

%



35

60

60

92,31

66,7

%

91,43

73,3% 16,7%

%



60



37%



40%

48,6

%



83,3% 63,3% 66,7%

73,3% 63,3%



54,0%



17,7%



77,4%



54,9%



67,2% 87,1%



5,4%



49,0%



31,3%



48,6%



66,7%



75,0%



49,5%



23,5%



63,8%



18,6%



35,3%



12,5%



11,8%



18,8%



40%



10%

69,23

63,3% 64,6%

%

73,4% 73,4%

83,4% 66,7%



76,92

%



16,7

73,3% 70,6%



33



Ghi chú: VN: viêm não.

VNNB: viêm não Nhật Bản.

HSV: vi rút Herpes Simplex.



Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2012 đã

có 849 trẻ viêm não, tỷ lệ xác định được căn nguyên là 29,9%. Các căn

nguyên hay gặp là viêm não Nhật bản, vi rút herpes simplex, vi rút đường

ruột, quai bị, thủy đậu… Trong số 134 bệnh nhi xác định được nguyên nhân,

viêm não Nhật bản gặp nhiều nhất (52,4%), tiếp theo là vi rút herpes simplex

1 (27,62%), vi rút đường ruột (14,93%) [1].

Năm (2012). Phạm Nhật An và cộng sự nghiên cứu các căn nguyên

viêm não ở Trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung Ương cho thấy các căn nguyên

thường gặp nhất theo thứ tự là Rubella, viêm não Nhật Bản, HSV1, EV [1].

Năm (2013). Trịnh Thị Luyến nghiên cứu 520 bệnh nhân viêm não

trong thời gian 1/7/2012 đến 30/6/2013 tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho

biết tỷ lệ tìm được căn nguyên viêm não là 46%. Có 5 căn nguyên vi rút được

xác định chắc chắn: VNNB, HSV1, EV, EBV, CMV. 3 căn nguyên thường gặp

theo thứ tự là VNNB (41,7%), viêm não HSV1, viêm não do vi rút đường

ruột. Số còn lại là một số căn nguyên vi khuẩn, nấm, ký sinh vật [75].

1.4. Bệnh viêm não do vi rút herpes simplex theo Y học cổ truyền

1.4.1. Bệnh danh

Y học cổ truyền không có bệnh danh cho bệnh viêm não. Tuy nhiên khi

đối chiếu so sánh với những mô tả trong y văn kinh điển của Y học cổ truyền,

ta thấy bệnh thuộc phạm vi chứng Ôn bệnh [17],[76],[77],[78],[79].

Ôn bệnh là các bệnh cảm phải ơn tà. Ơn bệnh nằm trong phạm trù của

bệnh có tính chất nhiệt như: Nóng, khát, miệng khơ, mồ hôi ra nhiều, họng

đau, tâm phiền, đại tiện táo, xuất huyết, điên cuồng, mê sảng, co giật, mạch

sác [17].



34



Ôn bệnh có thể gây ra ơn dịch là bệnh hàng loạt người bị do lây nhiễm,

Chu Dương Tuấn nói: “Một người bị gọi là ôn, một địa phương nhiều người

bị bệnh giống nhau gọi là dịch” [78].

1.4.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Do nhiệt tà xâm nhập từ biểu vào lý, nhiệt cực sinh phong, tân dịch giảm

sinh đàm nên xuất hiện các chứng sốt cao, co giật, mê sảng. Đàm làm tắc các

khiếu gây hôn mê, chứng nội bế ngoại thoát (trụy tim mạch, co mạch ngoại biên).

Tùy theo bệnh phát vào mùa nào mà có tên gọi khác nhau, như mùa

xuân: Xuân ôn, Phong ôn; mùa hạ: Thử ôn; mùa thu: Thu táo; mùa đông:

Đông ôn.

Bệnh chuyển biến qua các giai đoạn: vệ (khởi phát), khí (tồn phát chưa

có biến chứng), dinh, huyết (tồn phát có biến chứng mất nước, rối loạn điện

giải, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch), thương âm thấp trở ở kinh

lạc (hồi phục và di chứng thần kinh, tâm trí).

Nếu nhiệt vào đến phần huyết, rối loạn tuần hành khí huyết, ảnh hưởng

đến dinh dưỡng của cân cơ và các khiếu sẽ để lại di chứng liệt tứ chi, câm,

điếc, thần trí bất minh [15],[78],[80],[81].

1.4.3. Các thể lâm sàng

1.4.3.1. Ơn tà vào phần vệ









Triệu chứng:

+ Sốt, sợ gió, nhức đầu, hơi khát, ho.

+ Đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng.

+ Mạch phù sác.

Pháp điều trị: thanh nhiệt, giải biểu.



1.4.3.2. Ôn tà vào phần khí





Triệu chứng:

+ Sốt cao, ra mồ hơi nhiều, nhức đầu, chống váng, gáy cứng, buồn nơn,

+

+



nơn.

Mặt đỏ, tâm phiền, đại tiện bí kết.

Mặt bẩn, răng khơ, miệng khát, thích uống nước mát.



35



Mạch hồng đại.

Pháp điều trị: thanh nhiệt tả hỏa.

+







1.4.3.3. Ôn tà vào phần dinh









Triệu chứng:

+ Sốt cao gây co giật, mê sảng, hơn mê.

+ Mặt đỏ, khát, thích uống nước lạnh, uống vào vẫn không hết khát.

+ Tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí.

+ Rêu lưỡi vàng khơ, mạch hồng hoạt sác.

Pháp điều trị: thanh thiệt tả hỏa, khai khiếu tỉnh thần, bình can tức phong,

lưu thơng kinh mạch.



1.4.3.4. Ôn tà vào phần huyết





Triệu chứng:

+



Sốt cao, co giật, hôn mê.



+



Chân tay co cứng.



+



Chảy máu: chảy máu cam, nôn ra máu, đại tiện ra máu, ban chẩn

chảy máu dưới da.







+



Đại tiểu tiện khơng tự chủ.



+



Chất lưỡi đỏ tím, mạch tế sác.



Pháp điều trị: thanh nhiệt tả hỏa, dưỡng âm, lương huyết chỉ huyết.



1.5. Thời kỳ thương âm và di chứng





Nhiệt vào phần huyết kéo dài làm tân dịch bị hao tổn, không nuôi dưỡng được

cân cơ, kinh lạc bế tắc, các khiếu không thông gây liệt tứ chi, suy giảm trí tuệ.







Ở giai đoạn này bệnh diễn biến rất phức tạp, tùy từng thời kỳ bệnh nhi sẽ

có những biểu hiện lâm sàng khác nhau như sau:

+ Thiên về âm hư: trẻ đêm nóng sáng mát, da thịt gầy róc, miệng họng



khơ, hết sốt hoặc chỉ còn sốt nhẹ mà khơng có mồ hơi, lòng bàn tay bàn chân

nóng và đỏ, tinh thần mờ tối, nằm yên ít cử động. Đại tiện táo, nước tiểu

vàng. Miệng họng khô, môi lưỡi đỏ, ít rêu khơng rêu, mạch tế sác. Pháp điều

trị: dưỡng âm thanh nhiệt.



36



+ Nếu âm huyết hư sinh phong: trẻ thêm chân tay co cứng, co vặn, co giật.

Tương đương với bệnh nhi giai đoạn bán cấp, có các rối loạn vận động, như các

cơn tăng trương lực cơ, xoắn vặn, lệch trục chi hoặc cơ thể, múa vờn múa giật

hoặc động kinh.

Nếu âm hư hỏa vượng trẻ thêm mặt mắt đỏ, miệng mơi khơ đỏ, quấy

khóc la hét, vật vã, mất ngủ nặng có thể đập phá, đánh những người xung

quanh. Tương đương với bệnh nhi giai đoạn bán cấp có loạn thần do rối

loạn tâm chí.

Pháp điều trị: tư âm dưỡng huyết, chỉ kinh phong.

+ Thiên về khí huyết hư: đần độn, khơng nói, chân tay co cứng hoặc liệt,

sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhợt, mạch tế sáp. Pháp điều trị: bổ khí dưỡng huyết

[16],[17],[18].

Các pháp điều trị trên là để chữa vào gốc bệnh. Ngoài ra, tùy theo các

triệu chứng kèm theo mà dùng thêm các pháp điều tri như trừ đàm thông lạc,

khai khiếu tỉnh thần.

1.6. Điều trị sau viêm não cấp bằng Y học cổ truyền

Viêm não là bệnh thuộc về ôn bệnh, do ôn nhiệt tà xâm nhập vào cơ thể

thành bệnh. Mặc dù sau giai đoạn cấp tà nhiệt đã được đẩy lui, nhưng tân dịch

bị tổn thương nặng, thủy hỏa bất điều, khí huyết suy giảm, cân mạch suy tổn,

kinh lạc bế tắc, thanh khiếu chưa khai thông được, để lại nhiều di chứng ơn

bệnh. Vì vậy, pháp điều trị tùy theo gốc bệnh sẽ phải tư âm thanh nhiệt, dưỡng

huyết chỉ kinh phong, hay bổ khí dưỡng huyết, kết hợp với điều trị triệu

chứng bằng pháp khai khiếu tỉnh thần, trừ đàm thông kinh lạc.

1.6.1. Các phương pháp không dùng thuốc





Châm cứu:

Là một trong những phương pháp điều trị bệnh có nhiều hiệu quả. Theo



lý luận y học Đơng phương, cơ thể phát sinh bệnh tật là do sự mất thăng bằng

âm dương, châm cứu có tác dụng cơ bản là điều khí, khí hòa thì huyết hòa,



37



cân bằng âm dương. Châm cứu là tác động vào huyệt để điều khí, điều chỉnh

các rối loạn chức năng của kinh mạch, tạng phủ [82],[83],[84].

Kinh lạc là nơi khí huyết vận hành để nuôi dưỡng và làm cho cơ thể

khỏe mạnh và chống lại các tác nhân gây bệnh.

Khi châm cứu phải đạt được cảm giác đắc khí, châm bổ hoặc tả tuỳ

theo bệnh lý hư thực. Phải vận dụng thích hợp châm hay cứu: hàn thì cứu, hư

thì bổ, thực thì tả.

Nguyên tắc chọn huyệt là "kinh mạch sở quá, chủ trị sở cập" nghĩa là

kinh lạc đi qua vùng nào thì chữa bệnh vùng đó và "tn kinh thủ huyệt"

nghĩa là chọn huyệt trên đường kinh đi qua nơi bị bệnh.

Châm cứu thông qua huyệt vị để điều chỉnh biến hoá bệnh lý. Khi châm

cứu phải chọn đường kinh cho chính xác, chọn đường kinh vơ cùng quan

trọng, sau đó sẽ lấy huyệt, người xưa nhấn mạnh: “Ninh thất kỳ huyệt, vô thất

kỳ kinh” nghĩa là thà mất huyệt, không mất kinh.

Châm cứu là tác động vào huyệt để điều chỉnh các rối loạn chức năng của

kinh mạch. Khí thúc đẩy vận hành của huyết, huyết là mẹ của khí, chở khí đi, khi

khí hư thì huyết khơng vận hành tốt, do đó nó sẽ ứ trệ khơng lưu hành nữa, châm

cứu là tác động vào huyệt để điều khí dẫn huyết tới nơi bị bệnh.

Mục đích của châm cứu là điều khí và giảm đau làm cho khí huyết lưu

thông, đưa sự mất cân bằng âm dương của cơ thể trở lại trạng thái thăng bằng.

Sau khi đã châm đắc khí (đúng huyệt) thì phải tiếp tục kích thích nhằm đạt

mục đích bổ đối với chứng hư và tả đối với chứng thực.

Trong di chứng viêm não thường dùng châm để PHCN như sau:

* Pháp điều trị: dưỡng âm, thanh nhiệt, khai khiếu, tỉnh thần, trừ đàm

thông kinh lạc.

Các phương pháp châm thường sử dụng:

Các phương pháp kinh điển: Hào châm, nhĩ châm, mai hoa châm.

Tân châm: Điện châm, trường châm, thủy châm, cấy chỉ…

* Huyệt điều trị:



38



+ Tả: Bách hội, Đại chùy, Khúc trì, Thủ tam lý, Hợp cốc, Dương lăng

tuyền, Phong thị, Hoàn khiêu, Thừa sơn, Ngoại quan.

+ Bổ: Tam am giao.

Sử dụng các huyệt khu phong, thanh nhiệt, khai khiếu, khai thông kinh lạc…

- Khu phong: Phong trì, Phong mơn, Hợp cốc.

- Thanh nhiệt: Đại chùy, Khúc trì, Hợp cốc.

- Khai khiếu, tỉnh thần: Bách hội, Á môn, Thượng liêm tuyền.

- Khai thông kinh lạc:

+ Vận động cổ: Phong trì, Đại chùy, Giáp tích C3 - C6.

+ Vận động tay: Giáp tích C3 - C6, Kiên ngung, Khúc trì, Thủ tam lý,

Hợp cốc, Lao cung, Bát tà.

+ Vận động lưng: Mệnh môn, Thận du, Đại trường du.

+ Vận động chân: Trật biên, Hoàn khiêu, Ủy trung, Thừa sơn, Cơn lơn,

Dương lăng tuyền, Giải khê.

- Bổ khí: Khí hải, Túc tam lý, Quan nguyên.

- Bổ huyết: Cách du, Can du, Tam âm giao, Huyết hải.

- Liệu trình: hào châm 1 lần/ngày, vào buổi sáng. Mỗi liệu trình: châm

5 ngày/tuần, nghỉ hai ngày.

- Chống chỉ định: tạm thời ngừng châm khi bệnh nhi sốt do nhiễm trùng



-



cơ hội như viêm phế quản, viêm phổi, viêm đường tiết niệu...

- Thủ pháp châm:

Châm bổ: thỉnh thoảng vê kim bằng tay cùng chiều kim đồng hồ, lưu kim 20-



-



30 phút.

Châm bình bổ bình tả: Tiến kim chậm, vê kim nhẹ nhàng, khi rút kim đến sát

ngoài da nghỉ 1 chút rồi rút kim nhanh, lưu kim 15- 20 phút.

 Điện châm

Dòng điện được kích thích vào những chỗ gọi là “Huyệt”, là nơi kinh

khí đi qua, nơi có mối quan hệ chặt chẽ với tạng phủ và toàn cơ thể để điều

trị bệnh. Điện châm là phương pháp dùng dòng điện tác động lên các huyệt

qua các kim châm. Điện châm là một phát triển mới của châm cứu và là

phương pháp kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, phát huy được cả tác

dụng của dòng điện điều trị lẫn tác dụng của huyệt châm cứu.

Thời gian điện châm kéo dài 30 phút/lần. Mỗi đợt điều trị kéo dài từ 2030 ngày, sau đó bệnh nhi được nghỉ ngơi 2-4 tuần và quay lại điều trị cho đến



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hút đờm rãi thường xuyên.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×