Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trẻ qua giai đoạn cấp còn để lại nhiều di chứng vận động và tâm trí. Các di chứng thường gặp là [52],[53],[54].

Trẻ qua giai đoạn cấp còn để lại nhiều di chứng vận động và tâm trí. Các di chứng thường gặp là [52],[53],[54].

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



Các di chứng của viêm não rất đa dạng, phức tạp ở giai đoạn cấp cũng

như bán cấp, sẽ thuyên giảm dần và trở thành di chứng vĩnh viễn sau 3 năm.

Những di chứng này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, sự phát triển

vận động và tâm trí của trẻ. Trẻ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

1.2.3. Điều trị di chứng sau viêm não cấp

Viêm não do vi rút Herpes simplex thường diễn biến nặng, tổn thương

trên não rõ rệt, tỷ lệ tử vong cao, để lại di chứng nặng nề, do đó việc phục hồi

chức năng là rất cần thiết. Việc điều trị mới chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng

và hỗ trợ chăm sóc và tập phục hồi chức năng [20],[21].







Dùng thuốc:



Chống rối loạn trương lực cơ và các động tác bất thường: thuốc giãn cơ, thuốc

chống Parkinson…







Chống co giật, động kinh và các trạng thái kích động: thuốc an thần, thuốc

chống động kinh.







Chống bội nhiễm: kháng sinh thích hợp.





Phục hồi chức năng là biện pháp điều trị quan trọng nhất giai đoạn này:

Phục hồi chức năng bao gồm các biện pháp y học, kinh tế xã hội học,



giáo dục và kỹ thuật phục hồi nhằm giảm tối đa các di chứng bệnh, nhờ đó

người bệnh được hồn tồn phục hồi lại sức khỏe và khả năng tự hoạt động

trong cuộc sống của mình, làm giảm tối đa tác động của giảm chức năng và tàn

tật, bảo đảm cho người tàn tật hội nhập, tái hòa nhập xã hội.

Mục đích của phục hồi chức năng nhằm kiểm soát trương lực cơ và giữ

tư thế đúng, tạo các mẫu vận động chủ yếu (kiểm soát đầu, ngồi dậy, quỳ,

đứng, phản xạ thăng bằng) phối hợp phòng ngừa co rút và biến dạng đồng

thời dạy các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, vui chơi và các hoạt động khác

[55],[56],[57].

Nguyên tắc phục hồi chức năng cần phải càng sớm càng tốt, phối hợp

nhiều kỹ thuật phục hồi chức năng và theo mốc phát triển của trẻ.



26



Phục hồi chức năng vận động bằng ngôn ngữ trị liệu, vận động trị liệu,

hoạt động trị liệu, dụng cụ hổ trợ và chỉnh hình.

Các phương pháp phục hồi chức năng cho trẻ di chứng viêm não gồm:

Vận động trị liệu là phương pháp vận động để phục hồi chức năng cho

trẻ sau viêm não cấp như: tập theo tầm vận động thụ động, tập tích cực chủ

động, tập theo phương pháp Bobath… Trong đó, các kỹ thuật tạo thuận vận

động là hệ thống các bài tập tạo thuận dựa trên các mốc phát triển về vận

động thô: kiểm sốt đầu, cổ, lẫy, ngồi, bò, đứng, đi, chạy đang được áp dụng

tại một số trung tâm phục hồi chức năng.

Hoạt động trị liệu với mục tiêu của hoạt động trị liệu là giúp trẻ độc lập

tối đa trong sinh hoạt cũng như trong cuộc sống. Các kỹ thuật cơ bản bao

gồm: Huấn luyện khả năng sử dụng hai tay: kỹ năng cầm nắm đồ vật, kỹ năng

với cầm. Huấn luyện khả năng sinh hoạt hàng ngày: kỹ năng ăn uống, mặc

quần áo, đi giày dép, vệ sinh cá nhân…

Xoa bóp trị liệu: là thao tác bằng tay có tác dụng thư giãn cơ, tạo thuận

cho vận động dễ dàng hơn.

Vật lý trị liệu: Các phương pháp vật lý trị liệu bao gồm ánh sáng trị

liệu, điện trị liệu, vận động trị liệu, dụng cụ trợ giúp và chỉnh hình, kéo

giãn và xoa bóp. Vật lý trị liệu có tác dụng phòng các biến chứng thứ phát

về thần kinh cơ, cải thiện nâng cao vận động. Mục tiêu cơ bản của vật lý trị

liệu là giảm tối thiểu khiếm khuyết, giảm tàn tật và tăng cường chức năng ở

mức tốt nhất.

Ngôn ngữ trị liệu áp dụng tùy từng trẻ. Đối với những trẻ thất ngơn

nặng, mục tiêu chính là giúp trẻ và gia đình có một cách giao tiếp hiệu quả

nhất. Đối với những trẻ thất ngôn vừa phải, mục tiêu điều trị là giúp trẻ lấy ra,

chọn từ và kết nối chúng lại.

Nguyên tắc giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân: Thầy thuốc và

bệnh nhân tham gia một cách bình đẳng với vai trò người gửi và nhận thơng

tin. Có sự trao đổi các thơng tin mới. Bệnh nhân tự chọn cách giao tiếp để tìm

hiểu thơng tin mới tốt nhất.



27



Dụng cụ trợ giúp và chỉnh hình gồm dụng cụ trợ giúp: ghế ngồi, khung

xe tập đi, xe lăn… và dụng cụ chỉnh hình: nẹp, đai, áo cột sống [56].



-



Chăm sóc và dinh dưỡng:

Dinh dưỡng: cung cấp thức ăn dễ tiêu, năng lượng cao, đủ muối khoáng và

vitamin. Năng lượng đảm bảo cung cấp 50-60 Kcal/kg/ngày. Ăn từ lỏng đến



-



đặc dần, nếu cần có thể ni dưỡng qua ống xơng dạ dày.

Chăm sóc da, miệng, thường xun thay đổi tư thế để tránh tổn thương do đè ép



-



gây loét và vỗ rung để tránh xẹp phổi và viêm phổi do ứ đọng.

Hút đờm rãi thường xuyên.

Chống táo bón.

1.3. Tình hình mắc viêm não do vi rút Herpes simplex

1.3.1. Trên thế giới

Trên thế giới có tới 90% người đã từng bị nhiễm vi rút Herpes và gần

như mọi người đều đã nhiễm vi rút Herpes sau 40 tuổi [2]. Ở Hoa Kỳ hàng

năm có khoảng 1/250.000 người trong quần thể dân cư mắc bệnh, Thụy Điển

là 2,5/1.000.000 [9]. Viêm não do vi rút herpes simplex (HSV) thường gặp ở

người dưới 20 tuổi và trên 50 tuổi [6].

Ở Thuỵ Điển trong mười hai năm (1990 - 2001) đã có 236 bệnh nhân

được chẩn đoán viêm não do HSV1, tỷ lệ mắc viêm não do HSV1 là 2,2 trên

một triệu dân/năm. Tỷ lệ di chứng thần kinh 22%, tỷ lệ tử vong 16% (14% tử

vong trong năm đầu) [2],[9].

Nghiên cứu của Wen-Bin Hsieh, Nan-Chang Chiu về 40 bệnh nhân

viêm não do Herpes tại Khoa Nhi Bệnh viện Mackay Memorial, Khoa Nhi

của Bệnh viện Ten-Chen, Tao-Yuan, Đài Loan từ 1984 đến 2003 có nhận xét:

tuổi mắc bệnh 1-6 tuổi chiếm 60%, dưới 1 tuổi 20%, 7-18 tuổi 20% [58].

Jorina M. Elbers và cộng sự nghiên cứu viêm não cấp trong mười hai năm

(1994 - 2005) có 16 bệnh nhân mắc viêm não Herpes, tỷ lệ trai/gái là 1/1, tuổi

mắc bệnh phân bố đều cho các lứa tuổi, dưới 1 tuổi 25%, 1- 4 tuổi 25%, 5-10

tuổi 25%, 10-14 tuổi 25% [59]. Về lâm sàng, theo Wen-Bin Hsieh, Nan-



28



Chang Chiu, sốt 75%, cơn tăng trương lực 63%, hôn mê 60%, thay đổi ý thức

48%. Theo Jorina M.Elbers, sốt 100%, co giật cục bộ 69%, liệt nửa người

31%, thất ngôn 13% [59]. Về cận lâm sàng theo Wen-Bin Hseih, tổn thương

trên CLVT và CHT phù hợp với vi rút Herpes simplex 63%, điện não đồ bất

thường 79%. Theo Jorina M.Elbers, hình ảnh tổn thương trên CLVT và CHT

bao gồm (Phù não, giảm tỷ trọng, tăng tỷ trọng, chảy máu). Vị trí tổn thương

thuỳ thái dương 44%, thuỳ chẩm, trán, đỉnh 13%, tổn thương cuộn não

31%, 25% nhồi máu não sau đó chảy máu não. DNT: 50% có tăng protein,

96,8% có tăng tế bào, 18,6% có 50 - 100 X 10 6RB/l phản ứng khuyếch đại

chuỗi polymerase (PCR) trong dịch não tuỷ 75% dương tính, 25% âm tính,

12,5% dịch não tuỷ ở ngày thứ nhất của bệnh âm tính, nhưng bệnh dương

tính vào ngày thứ ba và thứ bảy của bệnh dương tính. Theo Wen-Bin Hseih,

Nan - Chang Chiu nếu điều trị Acyclovir muộn sau ba ngày cho kết quả

không tốt, thường để lại di chứng nặng, tái phát sau khi cho ra viện. Sau

khi cho ra viện theo dõi ba tháng thấy 63% có kết quả tốt, 44% có rối loạn

về trương lực, 25% chậm phát triển trí tuệ, 13% liệt nửa người, khơng có

bệnh nhân tử vong [58].

Nghiên cứu của Tzu-Chi Lee và các cộng sự ở nhiều trung tâm tại Đài

Loan về viêm não cấp từ tháng 5 năm 2000 đến tháng 12 năm 2001 trên 127

bệnh nhân được chẩn đoán viêm não cho biết có 73 nam (57%), 54 nữ (43%),

tỷ lệ nam/nữ là 1,4/1. Tuổi trung bình là 35 tuổi ± 2, nhóm tuổi 1 - 15 tuổi có

23 bệnh nhân (18,11%). 69% trong số 127 bệnh nhân xác định được nguyên

nhân (HSV 36%, VZV 13%, lao 10%, CMV 6%, Adenovirus 4%, Enterovirus

1%, cúm 1%) còn 31% chưa xác định được nguyên nhân. Căn nguyên gây

viêm não do vi rút Herpes simplex vẫn là nguyên nhân quan trọng và gặp

nhiều nhất tại Đài Loan. Viêm não do HSV ở Đài Loan gặp rải rác trong năm

nhưng trội lên vào các tháng 5,6,7 [60].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trẻ qua giai đoạn cấp còn để lại nhiều di chứng vận động và tâm trí. Các di chứng thường gặp là [52],[53],[54].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×