Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chuyển hóa cơ bản được đo lúc mới ngủ dậy buổi sáng, chưa vận động sau khi ăn khoảng 12- 18 giờ. Chuyển hóa cơ bản bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: giới (nữ thấp hơn nam): tuổi (càng ít tuổi mức chuyển hóa cơ bản càng cao): hormon tuyến giáp (cường giáp

Chuyển hóa cơ bản được đo lúc mới ngủ dậy buổi sáng, chưa vận động sau khi ăn khoảng 12- 18 giờ. Chuyển hóa cơ bản bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: giới (nữ thấp hơn nam): tuổi (càng ít tuổi mức chuyển hóa cơ bản càng cao): hormon tuyến giáp (cường giáp

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



Đi lại trong phòng : 1,2

Hoạt động



: 1,3



- TF (Thermal Factor) Yếu tố nhiệt độ

38ºC



:1,1



39ºC



:1,2



40ºC



:1,3



41ºC



:1,4



IF(Injury Factor) Yếu tố tổn thương

Bệnh không biến chứng



: 1,0



Hậu phẫu



: 1,1



Gãy xương



: 1,2



Nhiễm khuẩn



:1,3



Viêm phúc mạc



:1,4



Đa chấn thương+ nhiễm khuẩn



: 1,5



Rò tiêu hóa



:1,6



Theo nội dung hướng dẫn chế độ ăn tại bệnh viện [2] bệnh nhân sau

phẫu thuật sẽ cần nhu cầu năng lượng E (Kcal): 1800-1900.

Nhu cầu các chất dinh dưỡng [45], [40]

- Glucid: Là nguồn cung cấp năng lượng chính trong khi vận động nhiều

có thể cần đến hơn 60%. Lượng carbonhydrat rất quan trọng để duy trì Protein

của mơ. Carbon hydrat cũng là chất chính cung cấp năng lượng cho não.

- Lipid: Chất béo là nguồn dự trữ năng lượng quan trọng và là chất

mang các vitamin tan trong chất béo (A, D, E, K). Các acid béo cũng là tiền

chất cho q trình tổn hợp eicosanoid, điều hòa chức năng miễn dịch, tham

gia tạo cảm giác no sau ăn và là cơ chất cho quá trình tổng hợp chất béo ở mơ

mỡ dưới da, nguồn dự trữ năng lượng chính khi đói.



11



- Protid: Chất đạm cần thiết cho q trình tổng hợp mơ và là thành phần

chính của tóc, da, móng, gân, xương, dây chằng, các cơ quan chính và cơ bắp.

- Tỷ lệ % năng lượng cung cấp trong khẩu phần của các chất đa lượng

cho bệnh nhân sau phẫu thuật [2], [36]:

+ Tỷ lệ protid 1-1,2g/kg cân nặng hiện tại/ngày

+ Tỷ lệ glucid đưa vào hàng ngày = 50-55% tổng số năng lượng.

+ Tỷ lệ lipid đưa vào hàng ngày 15-20% tổng số năng lượng.

- Nhu cầu Vitamin: vitamin rất cần thiết cho cơ thể bình thường cũng

như cơ thể bệnh lý. Đối với bệnh nhân ung thư việc cung cấp đầy đủ vitamin

cũng rất quan trọng. Nhóm vitamin tan trong dầu: chủ yếu là vitamin A, D.

Nhóm vitamin tan trong nước vitamin B1, B2, PP, B12.

- Nhu cầu hàng ngày vitamin tan trong nước: vitamin C: 70-75mg/ngày,

vitamin B1: 0,9-1,2mg/ngày, vitamin B2: 1,3-1,8mg/ngày, vitamin PP: 14,5-19,8

mg/ngày, vitamin B12: 1µg/ngày. Vitamin tan trong dầu: vitamin A: 500-600

µg/ngày, vitamin D: 400UI/ ngày [2].

- Nhu cầu muối khoáng: cần thiết cho cơ thể như tham gia quá trình tạo

máu, tham gia quá trình miễn dịch và chuyển hóa các chất dinh dưỡng. Nhu cầu

hàng ngày calci: 500mg/ngày, phospho: 700mg/ngày, sắt 12-24mg/ngày [2].

1.5. Các hình thức dinh dưỡng hỗ trợ

1.5.1. Định nghĩa dinh dưỡng hỗ trợ

Dinh dưỡng hỗ trợ theo nghĩa rộng là bằng mọi cách nuôi dưỡng qua

đường miệng, qua ống thông, qua đường tĩnh mạch nhằm mục tiêu cung cấp

đủ nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng thiết yếu cho người bệnh có

nguy cơ cao. Theo nghĩa hẹp dinh dưỡng hỗ trợ vào gồm phương pháp nuôi

dưỡng qua các loại ống thơng đường tiêu hóa (Enterl feeding) và ni qua

đường tĩnh mạch (parenteral feeding).



12



1.5.2. Các hình thức dinh dưỡng hỗ trợ

1.5.2.1. Nuôi dưỡng qua đường miệng

Đối với đa số bệnh nhân trong bệnh viện, tình trạng dinh dưỡng tốt có

thể đạt được nhờ ăn uống qua đường miệng bằng các thực phẩm thông thường

để đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng khác nhau.

1.5.2.2. Nuôi ăn qua các loại ống thơng (sonde)

Ni ăn qua ống thơng có thể là cách nuôi dưỡng bổ sung hoặc thay thế

cho ăn qua đường miệng. Đây là phương pháp nuôi ăn được ưu tiên chọn lựa

khi không đạt được dinh dưỡng đủ qua đường miệng và đường tiêu hóa vẫn

hoạt động.

Bốn phương pháp ni qua ống thông cơ bản là: Mũi dạ dày, mũi tá

tràng, mở thông dạ dày, mở thông hỗng tràng. Trong đó 2 phương pháp đầu

thường dùng trong ni ngắn hạn và 2 phương pháp sau thường dùng để nuôi

dài hạn (> 3 tuần).

Đối với nuôi ăn qua ống thông điều quan tâm đầu tiên là lựa chọn thức

ăn phù hợp nhất và tính tốn nhu cầu nước và các chất dinh dưỡng cần thiết.

Chất xơ trong thức ăn nuôi qua sonde làm tăng sự chấp nhận của đường tiêu

hóa đối với việc nuôi ăn.

Việc lựa chọn đường nuôi dựa vào 4 yếu tố:

- Tình trạng sinh lý của đường tiêu hóa

- Nguy cơ hít sặc

- Thời gian phải ni dưỡng qua ống thông

- Kỹ thuật phù hợp nhất đối với bệnh nhân

Ống thông mũi dạ dày thường được dùng với bệnh nhân có tình trạng

tương đối ổn định, ni ngắn ngày, khơng có biến chứng như nơn liên tục,

trào ngược.



13



Ống thơng mũi- ruột non có chỉ định trên bệnh nhân đường tiêu hóa còn

hoạt động nhưng khơng được ni qua dạ dày.

Nuôi qua mở thông dạ dày được thực hiện khi thực quản bị tổn thương

trong khi dạ dày bình thường hoặc khi có trào ngược thực quản mà khơng có

rối loạn nhu động dạ dày, tá tràng, hoặc khi cần nuôi qua ống thông dài ngày

trên 3 tuần.

Mở thông hỗng tràng áp dụng trong một số bệnh lý ổ bụng như hội

chứng động mạch mạc treo tràng, teo ruột [1], [39] ….

1.5.2.3. Nuôi ăn qua đường tĩnh mạch

Đây là một phương tiện điều trị thiết yếu trong xử trí lâm sàng các

trường hợp bệnh nhân nặng trong các phòng hồi sức cấp cứu. Tuy nhiên ni

ăn hồn tồn qua đường tĩnh mạch là một vấn đề phức tạp về mặt kỹ thuật,

một phương pháp nuôi ăn không sinh lý và có nhiều biến chứng ( nhiễm

khuẩn huyết, tắc mạch) [3].

Hiện nay người ta áp dụng cả hai phương pháp nuôi qua tĩnh mạch trung

tâm và tĩnh mạch ngoại vi. Các chế độ nuôi qua đường tĩnh mạch cũng cần

cân đối đủ các nhóm chất dinh dưỡng: Aminoacid chất béo, đường glucose,

vitamin khoáng chất và nước.

1.6. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân

1.6.1. Phương pháp nhân trắc

Trong phương pháp nhân trắc, các chỉ số chính thường được sử dụng là chỉ

số khối cơ thể (BMI) = cân nặng (kg)/[chiều cao (m)] 2, bề dày nếp gấp da, vòng

cánh tay và sức mạnh của cơ, kích thước khối cơ và khối mỡ trong cơ thể.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chuyển hóa cơ bản được đo lúc mới ngủ dậy buổi sáng, chưa vận động sau khi ăn khoảng 12- 18 giờ. Chuyển hóa cơ bản bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: giới (nữ thấp hơn nam): tuổi (càng ít tuổi mức chuyển hóa cơ bản càng cao): hormon tuyến giáp (cường giáp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×