Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c. Thay đổi sự chịu đựng của ruột, một số đoạn ruột giảm khả năng chịu áp lực của khối thức ăn

c. Thay đổi sự chịu đựng của ruột, một số đoạn ruột giảm khả năng chịu áp lực của khối thức ăn

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



1.1.3. Triệu chứng

1.1.3.1. Triệu chứng lâm sàng

*Triệu chứng cơ năng:

Các triệu chứng của HCRKT rất thay đổi, khác nhau ở mỗi người bệnh

và có thể diễn biến theo thời gian.

Theo các tác giả Manning A.P. (1978), Thompson W.D (1990) [26]

HCRKT có nhiều triệu chứng nhưng trong đó có 3 triệu chứng hay gặp là:

- Rối loạn đại tiện: có ba hình thái

 Thay đổi số lần đại tiện: bệnh nhân đi ỉa lỏng nhiều lần trong ngày

(>3 lần/ngày), phân có nhầy trong, đi ỉa lỏng thường xảy ra từng đợt 5-7

ngày. Đi ỉa lỏng tăng lên khi thay đổi thức ăn, căng thẳng thần kinh.

 Táo bón: số lần đi đại tiện giảm (<3 lần/tuần ), phân khơ, cứng, có

khi có bọc ít nhầy hoặc như phân dê.

 Táo bón xen lẫn đi lỏng: Bệnh nhân bị từng đợt táo bón, ỉa lỏng xen

kẽ nhau, giữa hai đợt có thể phân bình thường.

- Đau bụng: Đau có tính chất lan toả hay khu trú dọc theo khung đại

tràng. Đau âm ỉ khơng ở vị trí nào rõ rệt, có lúc đau dữ dội rồi trở về bình

thường. Cảm giác đau có thể giảm đi sau khi trung, đại tiện, tăng lên khi bị

táo bón.

- Chướng bụng, đầy hơi: bệnh nhân ln có cảm giác có nhiều hơi trong

bụng, bụng ậm ạch khó chịu. Chướng bụng thường xảy sau khi ăn làm cho

bệnh nhân khơng muốn ăn, ăn ít.

*Triệu chứng thực thể:

Khơng có một triệu chứng thực thể nào đặc trưng cho HCRKT. Bệnh

thường diễn biến nhiều năm nhưng tình trạng sức khoẻ tồn thân khơng

thay đổi.



10



1.1.3.2. Cận lâm sàng

- Xét nghiệm máu: Cơng thức máu, sinh hóa máu trong giới hạn bình thường.

- Chụp X – quang đại tràng: Khơng tìm thấy hình ảnh tổn thương hoặc

cấu trúc bất thường ở đại tràng.

- Soi đại trực tràng: Niêm mạc hồng bóng, có thể có xung huyết nhẹ,

tăng tiết nhầy, tăng co thắt hoặc giảm nhu động.

- Sinh thiết để xét nghiệm mơ bệnh học thấy niêm mạc bình thường.

1.1.4.Chẩn đốn HCRKT

Trước đây để chẩn đốn hội chứng ruột kích thích thường phải chẩn

đoán loại trừ các nguyên nhân gây tổn thương tại niêm mạc trực tràng như:

Viêm loét, bệnh crohn, polyp, ung thư...

Đã có nhiều nghiên cứu về tiêu chuẩn chẩn đốn của HCRKT đã được

cơng nhận và áp dụng thực tế trên lâm sàng: Tiêu chuẩn Manning (1978), Tiêu

chuẩn Rome I (1988), Tiêu chuẩn Rome II (1999),Tiêu chuẩn Rome III (2005).

Hiện nay tiêu chuẩn Rome II (1999), Rome III (2005) và mới nhất là

Rome IV(2016) đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước để chẩn đoán

HCRKT:

Tiêu chuẩn Rome II:

- Đau bụng hoặc cảm giác khó chịu xảy ra trong 12 tháng qua và ít nhất

trong 12 tuần (khơng nhất thiết phải liên tiếp). Có ít nhất hai trong ba đặc

điểm sau:

+ Giảm bớt sau khi đi đại tiện.

+ Kết hợp thay đổi hình dạng phân.

+ Kết hợp với thay đổi số lần đi ngoài.

- Các triệu chứng có thể giúp chẩn đốn:

+ Số lần đại tiện khơng bình thường (trên 3lần/ngày hoặc dưới 3

lần/tuần).

+ Thay đổi hình dạng khối phân (nhão, lỏng, cứng).



11



+ Thay đổi khi tống phân (phải rặn, đại tiện gấp, cảm giác đại tiện

khơng hết).

+ Phân có nhầy mũi.

+ Bụng chướng hơi hoặc có cảm giác nặng bụng.

Trong 5 triệu chứng nói trên, nếu có một hoặc nhiều triệu chứng thường

xuyên xảy ra trong đợt đau bụng, chiếm đến ¼ thời gian của đợt gợi ý đến đau

bụng có nguồn gốc từ ruột.

Theo tiêu chuẩn Rome II biểu hiện đau, khó chịu ở bụng là những điểm

cốt yếu để chẩn đoán HCRKT và phải liên quan đến rối loạn đại tiện.

Mặt khác tiêu chuẩn Rome II cũng bao gồm một tiêu chuẩn về tần số (tái

đi tái lại) và thời gian của các triệu chứng (12 tuần trong 12 tháng). Do đó tiêu

chuẩn này có thể áp dụng cho các bệnh nhân có triệu chứng tái diễn thành

từng đợt .

Tiêu chuẩn Rome III:

Đau bụng tái diễn hoặc khó chịu ở bụng ít nhất 3 lần/tháng trong 3 tháng

gần nhất và có ít nhất 2 trong 3 đặc điểm sau:

- Dễ chịu khi đại tiện.

- Thay đổi số lần đại tiện.

- Thay đổi độ đặc của phân.

Các triệu chứng trên xuất hiện đầy đủ trong 3 tháng gần đây cùng với

những triệu chứng đầu tiện khởi phát 6 tháng trước khi chẩn đoán bệnh.

Tiêu chuẩn Rome IV:

Triệu chứng đau bụng tái phát ít nhất 1 lần mỗi tuần.Triệu chứng này

được phát hiện trong 3 tháng gần đây với khởi phát triệu chứng ít nhất 6 tháng

trước khi được chẩn đoán kèm theo hai hay nhiều hơn những triệu chứng sau:

- Có liên quan đến đi đại tiện.

- Thay đổi số lần đi đại tiện.

- Thay đổi hình dạng.



12



1.1.5. Điều trị

1.1.5.1.Nguyên tắc điều trị

* Chủ yếu là điều trị triệu chứng vì: trong hầu hết các trường hợp,

khơng điều trị khỏi bệnh do chưa có loại thuốc nào đem lại lợi ích nổi bật

cho HCRKT và chưa có một phương thức điều trị cụ thể nào là có hiệu

quả cho tất cả bệnh nhân HCRKT

1.1.5.2.Mục tiêu điều trị

* Giảm các triệu chứng đặc trưng nổi trội.

* Cải thiện chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh.

Sau khi đã chẩn đoán xác định là HCRKT, cần cho BN biết bệnh của

họ, giúp họ hiểu được thực chất căn bệnh tuy kéo dài, hay tái phát nhưng

khơng nguy hiểm, khơng đe doạ đến tính mạng để giúp người bệnh yên

lòng. Cùng BN xác định các yếu tố liên quan tới căn bệnh để phòng

tránh, giúp họ dần dần có được cuộc sống dễ chịu hơn.

1.1.5.3. Các liệu pháp không dùng thuốc (liệu pháp cổ điển):

* Không dùng thuốc kháng sinh trừ trường hợp bội nhiễm.

* Coi trọng các liệu pháp không dùng thuốc

- Chế độ ăn uống: quan trọng nhất, đặc biệt trong đợt đang có triệu

chứng đau bụng. Cần chú ý hướng dẫn người bệnh tìm những thức ăn khơng

thích hợp với mình. Bên cạnh đó, khuyên người bệnh nên tránh ăn quá nhiều

cùng một lúc; những thức ăn làm tăng triệu chứng co thắt, đau quặn, đầy

bụng, tiêu chảy; những thức ăn có tính kích thích mạnh (hạt tiêu, ớt, hành, cà

phê, rượu); thực phẩm có nhiều chất béo; sữa; thực phẩm để lâu bảo quản

khơng tốt gây khó tiêu; thức ăn sinh hơi nhiều (Đậu, hạt, bắp cải, sầu riêng,

nước uống có ga, nước hoa quả). Chú ý ăn chậm, nhai kỹ có tác dụng hạn chế

khí nuốt vào dạ dày nên giảm triệu chứng trướng hơi, đồng thời cũng làm

giảm sự căng giãn đột ngột ống tiêu hóa do đó hạn chế kích thích co bóp của



13



đại tràng nên giảm số lân đi ngoài và giảm đau. Tuy nhiên, thầy thuốc cũng

phải chú ý hướng dẫn BN tránh tình trạng ăn kiêng q khắt khe khơng cần

thiết vì có thể có hại do gây thiếu dinh dưỡng cho người bệnh.

- Chế độ luyện tập: Đòi hỏi người bệnh phải rất kiên trì công phu; luyện

đại tiện ngày một lần vào giờ nhất định, thường vào buổi sáng; massage bụng

buổi sáng để gây cảm giác đi ngoài và giúp đi ngoài dễ dàng hơn. Có thể kết

hợp với tập thể dục, tập dưỡng sinh, ngồi thiền, yoga…hợp lý nhằm tăng

cường sức khoẻ và thư giãn thần kinh nói chung và đặc biệt là sẽ rẩt có hiệu

quả đối với trường hợp HCRKT ở BN tâm thể nói riêng.

- Liệu pháp tâm lý: HCRKT không phải là một bệnh tâm lý hay tâm

thần mà chỉ có liên quan đến các yếu tố tâm lý. Các thầy thuốc có kinh

nghiệm đều có lời khuyên là: việc điều trị tâm lý cho BN HCRKT phải kết

hợp ngay từ lúc tiếp xúc BN, trong cả quá trình khám bệnh, cả sau khi uống

thuốc, vì BN rất cần được sự chia sẻ nhằm làm dịu đi căng thẳng của họ trong

quá trình chữa bệnh. Nhiều BN thấy dễ chịu ngay sau khi họ được giải thích

rõ bệnh HCRKT. Một số chuyên gia nhận thấy, ở những trường hợp nặng,

HCRKT sẽ tiến triển tốt nếu BN được điều trị tâm lý .

1.1.5.4. Điều trị bằng thuốc

* Đau bụng: là triệu chứng khó kiểm sốt nhất trong HCRKT, thường

dùng các thuốc sau:

- Thuốc chống co thắt:

+ Kháng Cholinergic: là thuốc có tác dụng đối kháng với

acetylcholine (Atropin, Scopolamin) .

+ Chống co thắt hướng cơ trơn.

Drotaverin Là dẫn chất isoquinolein tổng hợp, bột kết tinh màu trắng

vàng, không mùi, tan trong nước và ethanol.Drotaverin chống co thắt cơ trơn

tương tự như Papaverin nhưng mạnh hơn. xuất hiện sớm hơn và độc tính cũng



14



thấp hơn. Chỉ định :Thuốc drotaverin để phòng hoặc làm mất các rối loạn

chức năng và cơn đan do co thắt cơ trơn như : cơn đau do sỏi mật hay sỏi

thận; cơn co thắt đường dẫn mật; viêm bể thận. bàng quang; cơn co thắt ở dạ

dày, ruột, loét dạ dày. ruột; tá tràng; đau do co thắt vùng thượng vị hoặc hạ vị;

cơn đau thắt ngực, cơn tăng huyết áp (phối hợp với thuốc hạ huyết áp). Cách

dùng, liều dùng :Uống, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch.Liều dùng: Uống: 1 – 2

viên/1ần; 3 lần trong ngày.Tiêm dưới da: 1 – 2 ống/1ần; 1 – 3 lần trong

ngày.Tiêm tĩnh mạch chậm 1 – 2 ống (nếu đau do sỏi mật, sỏi thận).Dạng

thuốc: Viên nén drotaverin 40mg; ống tiêm drotaverin 2ml có chứa 40mg.

Bảo quản :Để nơi khơ ráo. chống ẩm.

- Thuốc điều hoà chức năng vận động đường tiêu hoá: Trimebutin

(Debridat):

Đây là thuốc tác dụng trên hệ enkephalinergic bằng cách kích thích các

thể cảm thụ thể enkephalinergic ở ruột khi có rối loạn nhu động ruột, các thụ

cảm thể này có tác dụng điều hồ nhu động ruột .

- Thuốc chống trầm cảm (như amitriptyline, imipramine, desipramin…):

Những thuốc này được sử dụng cho BN bị HCRKT đặc biệt là những người

có triệu chứng nặng hoặc kéo dài, thường lo lắng và trầm cảm. Những thuốc

chống trầm cảm do có tác dụng huỷ phó giao cảm làm giảm nhu động ruột

nên có tác dụng giảm đau, điều hồ thần kinh và tính chất này độc lập với tác

dụng trên tâm thần của thuốc. Những thuốc chống trầm cảm phải được sử

dụng thường xuyên chứ không phải khi nào cần mới dùng, chúng được sử

dụng cho những BN có triệu chứng hay tái đi tái lại. Hiện nay, trên lâm sàng

thường dùng amitriptyline 10-50mg/ngày, chủ yếu điều trị BN có triệu chứng

trung bình hoặc nặng với đau là triệu chứng chiếm ưu thế hoặc khi tiến hành

các trị liệu khác không đạt kết quả. Thận trọng khi sử dụng cho các BN có

bệnh tim mạch, đái tháo đường .



15



- Thuốc kháng thụ thể 5-HT3 có tác dụng làm giảm trương lực cơ ruột

sau khi ăn nên có tác dụng giảm triệu chứng đau bụng và khó chịu ở bụng.

Kháng 5-HT3 được dùng điều trị HCRKT có đau và tiêu chảy chiếm ưu thế ở

nữ giới mà đại diện là Alosetron

* Tiêu chảy :Thường dùng các thuốc giảm nhu động ruột, tăng tái hấp

thu nước và chất điện giải trong lòng ruột vào máu. Đây là các thuốc tổng

hợp, tác dụng theo kiểu morphine do có cấu trúc tương tự morphine. Thuốc có

tác dụng nhanh, kéo dài và khơng có tác dụng theo kiểu trung ương. Đại diện

là các thuốc sau:

- Smecta(Diosmectite 3g) có tác dụng điều trị tiêu chảy nhưng khơng có

tác dụng giảm đau. Smecta đã được chứng minh là có hiệu quả với những BN

tiêu chảy là chủ yếu vì có tác dụng làm giảm nhu động ruột, tăng tái hấp thu

nước và chất điện giải trong lòng ruột. Điều trị các chứng trong tiêu chảy cấp ở

trẻ em và người lớn; Điều trị các triệu chứng trong tiêu chảy mãn tính; Điều trị

các triệu chứng liên quan tới thực quản, dạ dày, tá tràng và ruột.

- Thuốc kháng thụ thể 5-HT3: thường dùng Alosetron, là một chất kháng

5-HT3 tương đối chọn lọc và mạnh, làm chậm vận chuyển của ruột do làm

giảm tính kích thích của ruột ở BN HCRKT, thuốc phù hợp với phụ nữ bị

HCRKT có tiêu chảy. Tác dụng phụ: dễ gây táo bón. Trước đây Hoa Kỳ cấm

dùng do lo ngại khi dùng thuốc tỷ lệ BN bị tắc ruột và viêm đại tràng tăng lên.

Gần đây đã khuyến cáo có thể dùng cho BN HCRKT có tiêu chảy nặng, đã

dùng các thuốc khác khơng đỡ .

* Táo bón: dùng chất xơ, thuốc nhuận tràng, thuốc điều chỉnh vận động

ống tiêu hoá.

- Bổ xung chất xơ: được chỉ định dùng ít nhất 12g/ngày, chất xơ với nhiều

tác dụng như khả năng giữ nước, làm tăng khối lượng phân và tăng quá trình lên

men nên có hiệu quả chống táo bón tốt. Nên dùng chất xơ kéo dài cho BN

HCRKT có táo bón nhưng phải giảm liều khi có đau hoặc chướng bụng



16



- Thuốc nhuận tràng: là thuốc làm tăng nhu động, chủ yếu ở đại tràng,

thường phải dùng nhiều ngày. Thuốc có thể kích ứng trực tiếp lên niêm mạc

ruột hoặc tác dụng gián tiếp do làm tăng khối lượng phân, hoặc do tác dụng

giữ nước, nên làm mềm phân.

+ Lactulose (Duphalac): là một disaccharid tổng hợp, không được hấp

thu, đến đại tràng bị các vi khuẩn chuyển hoá, cắt thành các acid hữu cơ, có

trọng lượng phân tử thấp, kích thích niêm mạc và gây mềm phân

+ Macrogol (Movicol): Là polymer mạch dài có trọng lượng phân tử cao

nên giữ nước theo đường nối hydro, làm tăng thể tích và nhão phân do trọng

lượng phân tử cao nên không bị hấp thu và chuyển hoá tại ống tiêu hoá

+ Anthraquinon: Các glycosid của anthraquinon có nhiều trong cây lơ

hội, trong đại hồng. Các anthraquinon bị thuỷ phân chủ yếu ở đại tràng, giải

phóng ra hoạt chất có tác dụng phong toả cation qua thành ruột, làm giữ lại

nước trong lòng ruột. Mặt khác, hoạt chất còn kích thích các nhánh thần kinh

cảm giác ở niêm mạc đại tràng, làm tăng nhu động ruột .

Nói chung các thuốc trên khơng nên dùng lâu dài, thuốc nhuận tràng trị

táo bón nhưng có thể làm tăng đau bụng và trướng bụng.

- Thuốc đồng vận 5-HT4: Tegaserod (thuốc đồng vận 5-HT4 mới) có

hiệu quả trong điều trị HCRKT với triệu chứng táo bón chiếm ưu thế.

Tegaserod sau khi gắn vào thụ thể 5-HT4 sẽ “bắt chước” tác dụng của

Serotonin :

+ Kích thích phản xạ nhu động ruột làm tăng vận chuyển ruột.

+ Kích thích bài tiết Cl- và nước làm giảm táo bón.

+ Ức chế dẫn truyền thần kinh hướng tâm ở ruột làm giảm cảm giác

đau bụng.



17



+ Kết hợp với thụ thể 5-HT4 tại các tận cùng thần kinh ở ruột, do đó tạo

xung truyền đến những nơron nằm sâu trong lớp cơ, điều hoà nhu động ruột

làm giảm trướng bụng.

Tác dụng phụ: tiêu chảy, đau đầu, chống váng.

Để kiểm sốt q trình bệnh lý của HCRKT, thầy thuốc cần tập trung

vào điều trị triệu chứng với mục tiêu của điều trị là giảm cường độ các triệu

chứng chính nên thành cơng của việc điều trị là BN cảm thấy thoải mái, dễ

chịu, vì bệnh khơng có di chứng hoặc biến chứng lâu dài. Đa số BN, do bệnh

tái đi tái lại, đã chữa nhiều nơi mà bệnh vẫn chuyển biến chậm nên lo lắng và

bi quan. Thầy thuốc cần giải thích cho BN hiểu được thực chất của bệnh, diễn

biến và hướng điều trị mỗi khi có đợt đau để hai bên hợp tác với nhau cùng

giải quyết vấn đề. Tóm lại, để điều trị tốt HCRKT thầy thuốc cần phải biết kết

hợp tác động tâm lý người bệnh làm họ tin tưởng và yên tâm, kiên nhẫn hợp

tác với thầy thuốc, vừa biết sử dụng thuốc tinh tế, có cân nhắc tuỳ trường hợp.

Thăm khám kỹ, hỏi bệnh tỷ mỉ, theo dõi định kỳ nhưng tránh những kỹ thuật

phức tạp, những xét nghiệm rắc rối có thể làm cho BN quá lo lắng, ảnh hưởng

đến tâm lý chữa bệnh của người bệnh.

1.2. Hội chứng ruột kích thích theo y học cổ truyền

1.2.1. Khái niệm về chứng tiết tả, táo kết và mối quan hệ giữa chứng tiết tả,

táo kết với hội chứng ruột kích thích.

Trong y văn của YHCT khơng có bệnh danh HCRKT, nhưng căn cứ vào

những biểu hiện lâm sàng có thể thấy HCRKT thuộc phạm vi của chứng Tiết

tả, Táo kết, Cửu tiết.

Tiết tả còn gọi là “phú tả” tức đi ỉa nhiều lần, phân lỏng nát, thậm chí đi

ra nước khơng. Nội kinh cho là bệnh “Tiết” gồm có: “Nhu tiết”, “Đông tiết”,

“Trúc tiết”, các thầy thuốc đời Đường gọi là bệnh “Hạ lợi”, thời Tống tổng

quát là bệnh “Tiết tả” .



18



Tiết tả chủ yếu thuộc về tỳ vị và đại tiểu trường. Nguyên nhân gây bệnh

gồm: cảm thụ ngoại tà, do ăn uống quá độ, tỳ vị dương hư, mệnh mơn hoả suy

và tình chí thất thường. Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh mà sinh ra các chứng

tiết tả cấp tính hay mạn tính. Cảm thụ ngoại tà, ăn uống quá độ gây ra các

chứng tiết tả cấp tính tức thời. Các ngun nhân còn lại: tỳ vị dương hư, mệnh

mơn hoả suy và tình chí thất thường gây ra các chứng tiết tả mạn tính tái diễn

nhiều lần.

Táo kết đã được nhắc đến trong sách Nội kinh. Táo kết do nhiều nguyên

nhân gây ra gồm: Âm hư, huyết nhiệt, huyết hư, khí hư và khí trệ.

Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu y học Việt Nam và

thế giới, đặc biệt Trung Quốc đã đi sâu nghiên cứu và tìm mối liên hệ

giữa các triệu chứng lâm sàng của HCRKT và chứng “Tiết tả”, “Táo kết”

thấy có nhiều nét tương đồng. HCRKT tương ứng với thể hư chứng của

“Tiết tả” và thể khí trệ của “Táo kết”. Khi điều trị HCRKT theo biện

chứng luận trị của chứng “Tiết tả” và “Táo kết” đã làm cải thiện các

triệu chứng lâm sàng.

1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của HCRKT theo YHCT

1.2.2.1. Do tỳ vị dương hư:

Tỳ sở dĩ đảm bào được cơng năng vận hố là nhờ dương khí đầy đủ. Nếu

lao động quá sức, đau ốm triền miên đều dẫn đến tỳ dương hư suy khơng vận

hố được thức ăn, đình trệ lại, trong đục hỗn tạp gây nên tiết tả .

1.2.2.2. Do mệnh môn hoả suy :

Nếu ốm lâu hoặc đi lỏng kéo dài, tổn thương đến thận dương, thận

dương suy không ôn được tỳ, khiến tỳ dương suy dẫn đến tiết tả. Trong Cảnh

nhạc toàn thư nói: “Dạ dày là quan ải của thận khai khiếu ở tiền âm và hậu

âm, thận chủ chức năng đóng mở. Nếu thận dương yếu, mệnh môn hoả suy,

âm hàn nhiều gây ra tiết tả.



19



1.2.2.3. Do tình chí thất thường:

Người vốn tỳ vị hư yếu lại bị tình chí thất thường ảnh hưởng đến như tức

giận hại can, lo nghĩ hại tỳ, khiến can khí phạm tỳ vị, khiến tỳ vị vận hố kém

gây nên tiết tả .

1.2.2.4. Do khí có uất trệ:

Do lo nghĩ buồn bực nhiều hoặc ngồi lâu ít vận động dần dần làm cho

khí cơ uất trệ khiến cơng năng tiêu hố, thơng giáng đào thải thất thường, do

đó cặn bã tích lại gây nên .

1.2.3. Các thể lâm sàng của HCRKT theo YHCT

Căn cứ vào bệnh chứng và nguyên nhân HCRKT theo YHCT gồm có bốn

thể: Tỳ vị hư, Thận dương hư hay mệnh môn hoả suy, Can tỳ bất hồ và khí trệ .

1.2.3.1.Thể tỳ vị hư hàn

- Triệu chứng: Bụng lạnh đau, nôn ra nước trong, ăn kém, đầy bụng, sôi

bụng, phân nát, sống phân, người mệt mỏi, chân tay lạnh, sắc mặt vàng nhợt,

chóng mặt, mơi nhợt, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng hoặc trơn, mạch nhu

hoãn hoặc hư nhược.

- Phân tích: Do tỳ vị hư yếu, vận hố kém, khơng phân biệt được thanh

trọc, thăng giáng thất thường, ăn không tiêu sinh ra đầy bụng sôi bụng, đại

tiện phân lúc nát lúc sống.Tả làm cho tỳ vị càng hư yếu khơng sinh được tinh

hoa, khí huyết kém dần nên mặt bủng, người gầy yếu mệt mỏi, chân tay lạnh

chóng mặt, mạch hư nhược là mạch của tỳ vị hư.

- Pháp điều trị: Bổ tỳ vị (kiện tỳ trợ vận hay kiện tỳ hoá thấp)

- Dùng bài: Sâm linh bạch truật tán

1.2.3.2.Thể thận dương hư hay mệnh môn hoả suy

- Triệu chứng: Cơ thể lạnh, chân tay lạnh, thể trạng gầy, mệt mỏi, ăn

kém, bụng lạnh trướng đầy, bụng dưới lạnh đau, ỉa lỏng phân sống, ngũ canh

tiết tả, lưng mỏi gối lạnh, tiểu tiện vặt, tiểu đêm, chất lưỡi nhạt bệu có vết hằn

răng, mạch trầm trì tế nhược. Thể này còn được gọi là tỳ thận dương hư.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c. Thay đổi sự chịu đựng của ruột, một số đoạn ruột giảm khả năng chịu áp lực của khối thức ăn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×