Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bệnh nhân Vũ Hữu S.

Bệnh nhân Vũ Hữu S.

Tải bản đầy đủ - 0trang

111



Chúng tôi theo dõi 64 bệnh nhân qua 24 tháng thấy 4 trường hợp đặc

biệt sau đây:

Một bệnh nhân bị sụp mi độ IV, điều trị nội khoa không lui giảm phải

phẫu thuật treo cơ trán bổ sung. Bệnh nhân bị chấn thương thị thần kinh do

phẫu thuật chỉ còn thị lực đếm ngón tay.

Có 2 bệnh nhân chết sau phẫu thuật 13 và 15 tháng. Một bệnh nhân có

biểu hiện hạch cổ nổi nhiều, biểu hiện như K vòm di căn não và chèn ép đường

thở. Trong y văn u lym-phô PPNC đi kèm với bệnh lý xoang và hệ bạch huyết

của TMH gặp với tỷ lệ 3-5%. Phản ứng tràn dịch tại xoang, chết do K vòm là

biểu hiện TMH đã gặp trong 64 bệnh nhân nghiên cứu. Bệnh nhân còn lại bị tai

nạn sinh hoạt, gãy xương, chết do tuổi già và suy kiệt.



Hình 4.14: U tái phát tại chỗ và lan tràn đến hạch cổ

Bệnh nhân Vũ Xuân B. và Nguyễn Thị C.

Jenkin với nghiên cứu cỡ mẫu lớn 326 bệnh nhân, trong 5 năm đã tập hợp

lại các yếu tố có thể tiên lượng về u lym-phô PPNC liên quan đến triệu chứng, biểu

hiện, vị trí hiện tại của u, tiến triển ra tồn thân, khả năng tử vong như sau:



112



- Nếu bệnh diễn biến dưới 1 năm thì ít khả năng lan ra tồn thân,

OR=0,70

- Tại thời điểm khám, bệnh biểu hiện cả 2 bên, khả năng lan tràn ra

toàn thân cao, OR=5,8

- Nếu u ở tuyến lệ, mi thì bệnh cũng dễ lan ra ngoài hốc mắt, tỷ lệ OR

tương ứng là 1,90 và 2,40

- Nếu bệnh nhân đang bị u lym-phơ tồn thân hoặc đã bị trước đó thì

tiên lượng sinh mạng xấu, OR=6,8

Mặc dù đã chú ý đến dựng các bảng số liệu và các thuật toán để có thể

tính được chỉ số OR nhưng chúng tôi không đưa được ra kết luận nào mang

tính nhân- quả kiểu như trên. Đó là hạn chế của nghiên cứu can thiệp lâm sàng,

chỉ trong một bệnh viện và thời gian còn hạn hẹp.



113



KẾT LUẬN



Hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của khối u và tìm cách điều trị chúng luôn

có những rào cản mà cho đến nay chưa ai vượt qua được để chạm tay tới thành

công. Các nghiên cứu kinh điển của Knowles, Ferry đặt nền móng quan cho

việc chẩn đoán, tiên lượng các RLTS lym-phô. Nghiên cứu của chúng tôi trong

một bệnh viện chuyên khoa, thời gian ngắn, hy vọng góp thêm hiểu biết về một

bệnh lý khối u khá phổ biến trong nhãn khoa cũng như vào nhóm ung thư phổ

biến thứ 6 tại Việt Nam.

1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các RLTS lym-phô PPNC

RLTS lym-phô gồm u lym-phơ ác tính khơng Hodgkin PPNC (u lymphơ PPNC) chiếm 87% và còn lại là tăng sản lành tính (17%), chỉ phân định

được nhờ phân tích kết quả xét nghiệm giải phẫu mô bệnh học. Trong đó tuổi

trung bình của bệnh nhân là 56,6%, nam giới chiếm ưu thế (65,6%). Thị lực

bệnh nhân đa phần còn tốt khi nhập viện 76%, có 7 bệnh nhân có tăng nhãn áp

do bị khối u chèn ép. Các triệu chứng phổ biến là phù mi, sờ thấy u và lồi mắt.

Tiền sử bệnh không có tác dụng định hướng cho chẩn đoán và điều trị. Bệnh có

thể xuất hiện ở một mắt hoặc hai mắt- 23%. Khối u thường ở phần trước hốc

mắt, phía trên ngồi, ngồi chóp cơ. 100% khối u là tiên phát có bản chất là u

của lym-phô B, đợ ác tính thấp, 40% là đợ ác tính thấp và trung bình. Thể bệnh

nặng, tiên lượng xấu gặp trên 4 bệnh nhân/64bệnh nhân (3 u thể áo nang và 1 u

thể tế bào B lớn- lan tỏa). U lym-phơ thứ phát tại hốc mắt ngồi những đặc

điểm trên còn có vài đặc tính khác: thường chỉ ở mợt bên, x́t hiện trên người

đã có u lym-phơ tồn thân hoặc người già, u có đợ ác tính trung bình hoặc cao,

u lan tràn tới xương, hạch ngoại vi...nhưng chúng tôi không gặp bệnh nhân

nào.



114



2. Nhận định về kết quả điều trị bằng phẫu thuật, điều trị bổ sung và theo

dõi sau mổ

Tất cả cả bệnh nhân đều được phẫu thuật cắt khối u với tỷ lệ thành công

cao >90% với các mục đích: xác định chẩn đoán, định hướng điều trị cũng như

tiên lượng, loại bỏ khối u đa phần hoặc tồn bợ, cải thiện thẩm mỹ và chức

năng thị giác. Sau 24 tháng theo dõi các di chứng gặp phải là: chấn thương thị

thần kinh không hồi phục- 1 bệnh nhân, sụp mi- 1 bệnh nhân, song thị do tổn

hại cơ vận nhãn-1 bệnh nhân. 5 bệnh nhân có u tái phát, xâm lấn vào hạch cổ

đã được điều trị hóa chất công thức CHOP, vẫn sống khỏe mạnh đến thời điểm

cuối của nghiên cứu. 2 bệnh nhân tử vong, một do tuổi tác và một do u lan tràn

vào TMH và sọ não.

Cho đến nay các nghiên cứu đều cho thấy lâm sàng, hình thái mô bệnh

học, hóa mô miễn dịch, sinh học phân tử là cơ sở để phân loại dưới nhóm các

tổn thương tăng sinh lym-phô PPNC theo phân loại WHO. Các dấu ấn hóa mô

miễn dịch như MIB-1, p53 rất quan trọng để tiên lượng kết quả điều trị và giai

đoạn bệnh.

Tuy có vẻ là vấn đề dịch tễ mới của châu A nhưng may thay rối loạn

tăng sinh lym-phô lại đáp ứng tốt với tia xạ và hóa chất, có tỷ lệ sống trên 5

năm cao. Ngành nhãn khoa đã có những nghiên cứu ban đầu về căn bệnh này

trong 5 năm trở lại đây và chắc chắn vẫn đang cần những tiếp theo.



115



GIÁ TRỊ CỦA ĐỀ TÀI

VÀ NHỮNG DỰ KIẾN NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Đề tài là nghiên cứu đầu tiên của ngành nhãn khoa về một bệnh lý khối

u khá phổ biến của phần phụ nhãn cầu, có liên quan đến ung thư, vấn đề lớn

của sức khỏe cộng đồng nhất là tại các nước châu A. Những kiến thức tổng

quan và những hiểu biết mới về nhóm bệnh lý này đã được nhắc lại, được soi

sáng một lần nữa trên thực tế bệnh nhân Việt Nam. Với điều trị chuyên khoa

thông thường bằng phẫu thuật, có xét nghiệm giải phẫu mô bệnh học dẫ

đường, điều trị nội khoa bổ sung khối u phần lớn tiêu biến hoặc ổn định, không

ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Các yếu tố tiên lượng lại một lần nữa

được khẳng định.

Hướng nghiên cứu tiếp một công thức điều trị hữu hiệu nhất cho bệnh

nhân sau phẫu thuật, không phải dùng hóa chất hoặc chỉ đơn hóa chất, không

tốn kém, giảm bớt thời gian đi lại và chờ đợi kết quả xét nghiệm cho bệnh

nhân. Đường mổ cải biên hoặc mổ phối hợp cũng là một hướng đi nữa. Điều trị

u lym-phô dưới kết mạc hoặc khu trú bán phần trước bằng tiêm interferone

cũng nên được thử nghiệm trên bệnh nhân Việt Nam. U lym-phô nội nhãn,

màng bồ đào vốn bị bỏ rơi từ lâu do xảy ra trên những bệnh nhân toàn thân

nặng nề hay bị AIDS cũng nên được điều trị đúng qui chuẩn quốc tế trong môi

trường nhãn khoa. U lym-phô của túi lệ tuy hiếm gặp nhưng lại dễ nhầm lẫn

với viêm túi lệ mủ. Do vậy nghiên cứu u lym-phô nội nhãn và của túi lệ cũng

là hướng nghiên cứu khả quan trong tương lai.



116



KIẾN NGHỊ

 RLTS lym-phô PPNC là bệnh lý gây khối u ở phần phụ nhãn cầu, ngày

càng gặp nhiều trong khám chữa bệnh hàng ngày cần được phát hiện

sớm, chẩn đoán chính xác và điều trị thích hợp vì liên quan đến sinh

mạng cũng như chức năng của bệnh nhân

 Các nghiên cứu tiếp theo cần sự phối hợp của nhiều chuyên khoa, đa

trung tâm để có được hình ảnh sâu sắc hơn về nhóm bệnh lý này cũng

như các phương pháp điều trị xác đáng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bệnh nhân Vũ Hữu S.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×