Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TSH là một glycoprotein có TLPT = 28.000 với 201 gốc acid amin (ở người) [23]. Ngày nay, người ta biết rõ công thức của TSH là:

TSH là một glycoprotein có TLPT = 28.000 với 201 gốc acid amin (ở người) [23]. Ngày nay, người ta biết rõ công thức của TSH là:

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Thay đổi hình thái tế bào giáp:

TSH làm tăng nhanh các giả túc ở bờ chất nhầy của tế bào, tăng phân

hủy thyroglobulin. Chất keo bị giảm, các giọt keo nội bào được tạo ra và sự

tạo lập lisosom được kích thích, gia tăng thủy phân thyroglobulin[26].

- Phát triển tế bào: làm tăng kích thước tế bào giáp, tân sinh mao mạch,

tuyến giáp lớn dần.

- Chuyển hóa iod: TSH kích thích phần lớn các giai đoạn chuyển

hóa iod từ việc làm gia tăng sự bắt giữ và vận chuyển iod, cho đến làm tăng

iod hóa thyroglobulin và tăng tiết hormon tuyến giáp. Sự tăng AMP vòng làm

tăng vận chuyển iod, trong khi thủy phân phosphatidylinositol (PIP 2) và tăng

Ca2+ nội bào sẽ kích thích sự iod hóa thyroglobulin.

- Tăng RNA thông tin (mRNA) cho thyroglobulin và peroxidase

kèm tăng kết hợp iod vào T 1 , T 2 , T 3 và T 4 .

- Tăng tiết T 3 và T 4 từ tuyến giáp, làm tăng hoạt động enzym 1-5'

deiodinase để giữ lượng iod trong tuyến giáp.

- TSH còn kích thích thu nhận thu nhận glucose, tiêu thụ oxy, sản xuất

CO2 và gia tăng sự oxy hóa glucose qua con đường hexosemonophosphate và

chu trình acid citric. TSH còn làm tăng đổi mới phospholipid và kích thích tổng

hợp tiền chất purin và pyrimidin, dẫn đến làm tăng tổng hợp DNA và RNA.

+ Nồng độ TSH huyết tương:

Nồng độ TSH huyết tương từ 0,27-4,2 mUI/mL(theo hãng Roche

Diagnostic), tăng trong suy giáp, giảm trong cường giáp nguyên phát và

quá tải hormone giáp nội hoặc ngoại sinh. Thời gian bán hủy TSH

khoảng 3 phút, được sản xuất khoảng 40-150 mU/ngày.

+ Kiểm soát tiết TSH tại tuyến yên: 2 yếu tố chính để kiểm sốt sự tổng

hợp và giải phóng TSH là:

- Nồng độ T3 ở trong nội bào tuyến yên hướng giáp, sẽ kiểm sốt RNA

thơng tin để tổng hợp và giải phóng TSH.



13



- TRH là chất kiểm soát sự gắn đường, hoạt hóa và phóng thích của TSH.

Sự tổng hợp và giải phóng TSH bị ức chế bởi nồng độ T 3 và T4 cao, bị

kích thích bởi nồng độ hormon tuyến giáp thấp.

Một vài chất ức chế TSH như somatostatin, dopamin, chất đồng vận của

dopamin (bromocriptine) và glucocorticoid.

Bệnh lý cấp và mạn tính có thể ức chế tiết TSH và tiết trở lại khi lành

bệnh. Mức độ của các tác dụng này khác nhau, các chất trên sẽ ức chế sự tiết

TSH nhưng nồng độ TSH trong huyết thanh vẫn có thể đo được. Ngược lại

cường giáp sẽ có thể ức chế tiết TSH hoàn toàn[27].

Tổn thương hủy hoại hoặc u vùng dưới đồi hay tiền yên có thể ảnh

hưởng đến việc tiết TRH và TSH do hủy hoại các tế bào bài tiết. Điều này là

kết quả trong suy giáp thứ phát do có sự hủy tuyến yên hoặc suy giáp do hủy

các tế bào thần kinh tiết TRH [5].

* Sự tiết TSH, TRH vẫn chủ yếu là chịu sự ảnh hưởng của nồng độ

hormone tuyến giáp lưu thông trong máu và iod vô cơ. Nếu tốc độ tiết

hormone tuyến giáp tăng 1,75 lần thì quá trình tiết TSH gần như triệt tiêu. Tác

động này sẽ giảm đi nếu trục dưới đồi – tuyến yên bị gián đoạn, chứng tỏ cơ

chế tác động ngược chủ yếu thông qua hormone tuyến giáp đến tuyến yên (tác

động đến vùng dưới đồi yếu hơn).

Cơ chế điều hòa ngược đảm bảo nồng độ hormone tuyến giáp trong

máu tương ứng với tốc độ của các phản ứng trao đổi chất trong cơ thể.

* Ngoài ra, còn có một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc sản xuất

hormone tuyến giáp như:

- Các yếu tố tăng trưởng: insulin, IGF1 và EGF, các tác dụng nội tiết

của prostaglandin, cytokin có thể thay đổi phát triển tế bào tuyến giáp và sản

xuất hormon.

- Vai trò của enzym khử iod tại tuyến yên và ngoại biên:



14



Enzym loại 2-5' deiodinase tại tuyến yên giúp biến đổi T 4 thành T3

trong não và tuyến yên, là nguồn cung cấp T3 chính của nội bào. Hoạt độ

enzym này tăng lên trong suy giáp nhằm duy trì T3 nội bào trong khi nồng độ

T4 bị giảm.

Trong cường giáp, sự giảm hoạt động của enzym này giúp dự phòng sự

quá tải hormon trong tuyến yên và tế bào thần kinh. Ngược lại, enzym loại 15' deiodinase bị giảm trong suy giáp để giữ T 4, trong khi cường giáp hoạt độ

enzym này gia tăng làm tăng chuyển hóa T4 thành T3.

- Sự tự điều hòa của tuyến giáp được xác định như là khả năng của

tuyến giáp thay đổi chức năng của nó để thích nghi với sự thay đổi iod mà

khơng phụ thuộc TSH tuyến n. Vì thế, tuyến giáp có thể tự tiết hormon bình

thường với lượng iod được cung cấp đến vài miligam/ ngày.

Sự thích nghi chính đối với sự giảm iod cung cấp là sự tổng hợp T 3

chiếm ưu thế hơn T4, làm tăng hiệu quả chuyển hóa của sự bài tiết hormon.

Ngược lại, khi quá tải iod sẽ ức chế một vài chức năng tuyến giáp bao gồm sự

vận chuyển iod, tạo cAMP, H2O2, tổng hợp và tiết hormon tuyến giáp, kết hợp

TSH vào thụ thể và kháng thụ thể TSH.

Một vài tác dụng này thông qua trung gian bởi sự tao acid béo iod hóa

trong tế bào tuyến giáp…

- Điều hòa tự miễn: tế bào limpho B có khả năng tổng hợp kháng thể

kháng thụ thể TSH, kháng thể này có thể hoặc ức chế tác dụng của TSH hoặc

tác dụng giống TSH nhờ sự kết hợp với các vị trí khác nhau trên thụ thể TSH

tạo ra một dạng điều hòa tuyến giáp do hệ thống miễn dịch.

Tóm lại, điều hòa tổng hợp và tiết hormon tuyến giáp được kiểm soát

bởi 3 mức: vùng dưới đồi (TRH)- thùy trước tuyến yên (TSH)- tuyến giáp

(các hormon giáp) [5].



15



Hình 4. Điều hòa bài tiết hormone tuyến giáp

Nhiều nghiên cứu trước đây đã kết luận rằng nồng độ estrogen cao

trong thời kỳ mang thai có thể ảnh hưởng trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến giáp ở

các cấp độ khác nhau.

Ở phụ nữ mang thai bình thường khơng có yếu tố tự miễn dịch tuyến

giáp và những người sống trong khu vực có nguồn iod được cung cấp đủ thì

nồng độ TSH huyết thanh ổn định khi so sánh với nhóm phụ nữ không mang

thai. Ngược lại, khi lượng iod bị hạn chế, sự gia tăng TSH huyết thanh trong

thời kỳ mang thai phản ánh tình trạng tuyến giáp kích thích.

Từ các trường hợp nhiễm độc tuyến giáp quan sát trong điều kiện bệnh

lý đi kèm người ta nhận thấy rằng có sự tăng cao nồng độ hCG trong máu

[24]. Vì vậy, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để làm rõ hơn về tác dụng

thực sự của hCG đối với hormone tuyến giáp và hậu quả của nó đến tình trạng

tăng tiết TSH. Kết quả cho thấy có những thay đổi TSH và hCG trong huyết



16



thanh liên quan đến mối quan hệ tuyến tính giữa nồng độ hCG và FT4 trong

giai đoạn sớm thai kỳ ( hình 5). Như vậy, việc giảm TSH tương ứng của trục

tuyến yên - tuyến giáp có liên quan với nồng độ nội tiết tố tuyến giáp tăng

dưới sự kích thích của hCG .



Hình 5. Mối tương quan của HCG và TSH (trên); Mối tương quan

của HCG và FT4(dưới) [18]



17



Hoạt động của hCG được giải thích bằng cấu trúc tương đồng giữa các

phân tử hCG và TSH, giữa LH / thụ thể hCG và TSH. Do đó, hCG có thể liên

kết với các thụ thể TSH của tế bào nang tuyến giáp và phát huy tác dụng kích

thích của nó[25]. Tuy nhiên, hCG hoạt động như một yếu tố kích thích tuyến

giáp trong cơ thể. Người ta ước tính rằng hCG lưu thơng trong máu tăng

10.000 mIU/ml sẽ làm tăng FT4 trung bình trong huyết thanh là 0,6 pmol/l

(tức là 0.1 ng/dl) và làm giảm nồng độ TSH trong huyết thanh là 0,1

mIU/ml[26]. Do đó, một sự gia tăng thoáng qua nồng độ FT4 trong huyết

thanh ở quý 1 thai kì sẽ chỉ được quan sát thấy khi nồng độ hCG đạt hoặc

vượt quá 50.000 -75.000 mIU/ ml[17].

2.4.Tác dụng của hormon giáp trạng

2.4.1. Tác dụng lên sự phát triển bào thai [5]

Tuyến giáp và hệ thống thuỳ trước tuyến yên liên quan đến TSH bắt

đầu hoạt động từ tuần thứ 11, trước thời kỳ này tuyến giáp của bào thai khơng

thu nhận iod phóng xạ. Do nồng độ cao của enzym loại 3 - 5’ deiodinase của

rau thai, hầu hết T3 và T4 của máu mẹ bị bất hoạt trong rau thai và rất ít

hormone giáp trạng FT3, FT4 đến tuần hồn rau thai. Chính lượng hormon tự

do từ máu mẹ tuy ít nhưng rất quan trọng cho sự phát triển sơ bộ của não. Tuy

nhiên, sau 11 tuần, thai phát triển phụ thuộc vào hormone tuyến giáp của bản

thân nó.

Những trường hợp thai nhi phát triển trong điều kiện khơng có

hormone tuyến giáp của thai tiết ra, sự phát triển não và hệ xương bị ảnh

hưởng, hậu quả gây nên chứng đần độn, phát triển tinh thần chậm, người lùn.

2.4.2. Ở trẻ em và người lớn [2,4, 5]:

Gần như tất cả các tế bào của cơ thể đều là tế bào đích của hormone

tuyến giáp. Hormone tuyến giáp tác động lên tốc độ tổng hợp và thối hóa của



18



tất cả các enzym, do đó ảnh hưởng đến q trình chuyển hóa glucid, lipid,

protid, nước, điện giải, vitamin…

• Tác động lên chuyển hóa glucid: hormone tuyến giáp có tác dụng tăng

hấp thu glucose ở ruột, tăng phân huỷ glycogen.

• Tác động lên chuyển hóa lipid: hormone tuyến giáp làm tăng phân huỷ

lipid nhất là triglycerid, phospholipid, cholesterol.

• Tác động lên chuyển hóa protein: hormone tuyến giáp có tác dụng tăng

tổng hợp protein do tác động trực tiếp đến sự hoạt hóa RNA polymerase hoặc

gián tiếp qua kích thích bài tiết GH.

• Hormone tuyến giáp cụ thể là T 3 tăng tiêu thụ oxy và sản xuất nhiệt

lượng thơng qua sự kích thích Na-K-ATPase của các tổ chức, do đó làm tăng

cường sử dụng oxy của cơ thể, tăng chuyển hóa cơ bản, có tác dụng sinh

nhiệt.

• Tác động lên sự chuyển hóa nước và điện giải:

+ Làm tăng thẩm thấu qua cầu thận, ưu thế tái hấp thu nước qua ống

thận, do đó tăng tiết niệu.

+ Làm tăng bài tiết canxi trong nước tiểu và điều này giải thích sự mất

chất khống ở người cường giáp.

• Tác động lên sự chuyển hóa vitamin:

+ Làm tăng chuyển hóa, nên trong cường tuyến giáp trạng tăng nhu cầu

vitamin B.

+ Thuận lợi cho chuyển hóa caroten thành vitamin

•Tác dụng lên sự phát triển:

Các hormone tuyến giáp trạng cần thiết cho sự phát triển của xương.

Chúng có tác dụng chọn lọc lên sự phát triển của đầu xương và sự sinh cốt.

Nếu thiếu hormone tuyến giáp sẽ dẫn tới chứng lùn ở trẻ em.

Hormone tuyến giáp cũng đóng vai trò trong sự phát triển của răng.



19



• Tác dụng tới nội tiết:

+ Hormone tuyến giáp trạng làm gia tăng đổi mới chuyển hóa

hormone và một số tác nhân dược lý. Thời gian bán hủy của cortisol (bình

thường 100 phút) chỉ còn 50 phút trong cường giáp và kéo dài đến 150 phút

trong suy giáp.

+ Tăng tốc độ chuyển hóa glucose ở các mơ, vì vậy gây tăng tiết

insulin.

+ Tăng chuyển hóa liên quan đến sự tạo xương, làm tăng nhu cầu PTH.

+ Sự rụng trứng có thể bị ảnh hưởng trong cường giáp và suy giáp dẫn

đến vô sinh, sảy thai…

+ Ở nam giới thiếu hormone tuyến giáp làm mất khả năng tình dục và

tăng hormone tuyến giáp có thể gây liệt dương…

+ Prolactin máu tăng lên khoảng 40% ở bệnh nhân suy tuyến giáp,

nguyên nhân có thể do tăng giải phóng TRH.

● Tác dụng lên các hệ thống khác:

- Tác dụng lên não: hormon tuyến giáp trạng cũng ảnh hưởng tới

hoạt động chức năng của hệ thống thần kinh trung ương. Ở người lớn, có thể

gia tăng hoạt động trong cường giáp và chậm chạp trong suy giáp.

- Tác dụng lên hệ thống tim mạnh: làm tăng nhịp tim, tăng cung

lượng tim, tăng tốc độ tuần hoàn, tăng nhu cầu oxy ở cơ tim …

- Đối với hệ thống thần kinh thực vật: trên thực nghiệm hormone

tuyến giáp làm tăng trả lời kích thích giao cảm hoặc tăng đáp ứng khi tiêm

catecholamine…



20



2.5. Iod sinh lý trong quá trình mang thai

Trong quá trình mang thai, chế độ ăn uống yêu cầu nồng độ iod cao hơn

ở phụ nữ không mang thai. Ba cơ chế chính giải thích cho sự gia tăng này: gia

tăng trong sản xuất hormone tuyến giáp, tăng trong quá trình lọc iod qua thận,

do một phần iod lưu thông từ mẹ cho thai nhi thông qua rau thai. Khi bắt đầu

thai kỳ, nồng độ của iod qua cầu thận tăng 30% đến 50% [29], do đó làm

giảm nồng độ iod lưu hành trong huyết tương. Điều này làm tăng giải phóng

iod ở tuyến giáp lên đến 60 ml/mn (trong khi phụ nữ sau quá trình mang thai

chỉ là 17 ml/mn)[30]. Một nghiên cứu so sánh phụ nữ mang thai từ các quốc

gia khác nhau đã chứng minh rằng nồng độ iod niệu trong quá trình mang thai

là khác nhau, điều này cho thấy sự khác biệt trong ngưỡng bài tiết thận

[31]. Ngoài sự tăng đào thải iod qua thận, tại thời điểm giữa của thời kì mang

thai, tuyến giáp của thai nhi đã bắt đầu sản xuất hormone tuyến giáp, sử dụng

iod của mẹ thông qua hàng rào rau thai làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu

iod của mẹ [32]

Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo những phụ nữ mang thai và cho

con bú cần cung cấp iod tăng lên ít nhất là 200 microg/ngày [33]. Đối với

phụ nữ mang thai sống ở các nước được cung cấp đầy đủ iod (hơn 150

mg/ngày), lượng iod thiếu do đào thải qua nước tiểu và qua rau thai sang cho

thai nhi có thể là khơng quan trọng lắm. Ở khu vực thiếu iod, quá trình mang

thai làm tăng nồng độ TSH của mẹ, do đó làm tăng kích thước tuyến giáp có

thể quan sát được. Nếu tình trạng thiếu iod nặng, sự tăng nồng độ TSH là

không đủ để đảm bảo sản xuất hormone tuyến giáp và tạo cơ hội cho bệnh suy

giáp phát triển .

2.6. Ảnh hưởng của yếu tố tự miễn dịch trong thời kì mang thai

Trong quá trình mang thai, hệ thống miễn dịch của người mẹ phải chịu

đựng sự phát triển của thai kì. Vì vậy, các tế bào lá ni phơi rau thai tiết ra



21



một loạt các cytokine và các phân tử hoạt động điều hòa miễn dịch (hình 6).

Kết quả là sự suy giảm của phản ứng miễn dịch gây nên các bệnh lý về tự

miễn dịch như là suy giáp tự miễn [34]



22



Hình 6. Thích ứng của miễn dịch đối với q trình mang thai

Thích nghi

Phân

tử Các tế bào lá ni phôi

miến dịch tiết một vài phân tử

miễn

dịch

(Fas-L,

HLA-G và indoleamine

2,3-dioxygenase) cũng

như tiết nhiều cytokine



Kết quả

- Fas-L gây ra sự chết tế bào trên tế

bào lympho mẹ, thai nhi có phản ứng

kháng nguyên.

-HLA-G ức chế cả chức năng của tế

bào NK và trưởng thành của tế bào

đuôi gai.

-Indoleamine 2,3-dioxigenase xúc tác

triptophane trong tế bào lympho, là chất

rất quan trọng trong việc duy trì thai.

Hệ thống Tế bào T

-Giảm CD4, tăng tế bào T CD8 và

miễn dịch

hoạt động ngày càng tăng của các tế

bào điều tiết T.

-Đáp ứng miễn dịch được chuyển từ

Th1 (di động) đến Th2 (miễn dịch

dịch thể), với sự gia tăng trong sản

xuất cytokine Th2.

Tế bào B

Mặc dù có sự thay đổi Th2, việc sản

xuất tế bào B tương đối và hoạt động

được giảm theo quy định, dẫn đến

giảm sản xuất kháng thể.

Thay đổi hormon

-Tăng

nồng

độ

estrogen,

progesterone, và corticosteroid.

-Estrogen sản xuất ức chế hoạt động

của tế bào B.

-Progesterone tạo ra sự thay đổi

cytokine.

-Corticosteroid gây chết tế bào miễn

dịch và ức chế miễn dịch.

Sau sinh

Phục hồi chức năng Tăng cường kháng thể trong huyết

miễn dịch của bà mẹ

thanh, đảo ngược tỷ lệ tế bào CD4

+ / CD8 + tế bào T và sự thay đổi

nồng độ cytokine Th1 ủng hộ phản

ứng.



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TSH là một glycoprotein có TLPT = 28.000 với 201 gốc acid amin (ở người) [23]. Ngày nay, người ta biết rõ công thức của TSH là:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×