Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ambala, Haryana, Ấn Độ

Ambala, Haryana, Ấn Độ

Tải bản đầy đủ - 0trang

38



thành phố nhất định, còn nghiên cứu của chúng tơi bao gồm các đối tượng

thành thị và nông thôn trên cả nước với tỷ lệ tương đương nhau. Sự khác biệt

về tỷ lệ mắc ĐTĐ này có thể được lý giải là do sự khác biệt về đối tượng

nghiên cứu cũng như địa bàn nghiên cứu ở các vùng địa lý, kinh tế, xã hội

khác nhau.

Tỷ lệ mắc đái tháo đường được phát hiện trong nghiên cứu thấp hơn kết

quả của điều tra quốc gia năm 2012 với tỷ lệ mắc ĐTĐ là 5,4% [20]. Kết quả

này có thể do chúng tôi đã loại trừ những đối tượng đang mang thai, dẫn đến

giảm tỷ lệ đái tháo đường thai kì, mặt khác, hạn chế của nghiên cứu là chỉ thể

hiện kết quả trên mẫu nghiên cứu mà chưa ngoại suy ra cả quần thể người

Việt Nam.

So sánh sự khác biệt về tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người dân sinh sống ở thành thị

hoặc nông thôn cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nhóm người dân sống ở thành thị

cao hơn người sống ở nông thôn (51,59% và 48,41%), tuy nhiên sự khác biệt

khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Ở nhiều nghiên cứu khác cũng đưa ra

kết quả tương tự. Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở thành thị cao hơn nông thôn với tỷ lệ là

9,94% vs 8,88% theo nghiên cứu của Trần Minh Long [33]. Một nghiên cứu

khác ở Iran, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở khu vực nông thôn là 7,4% và và ở khu vực

thành thị là 11,1% [28]. Sự khác biệt này có thể được xem như là kết quả của

q trình đơ thị hóa dẫn đến sự gia tăng của những hành vi nguy cơ như hút

thuốc, uống rượu, vệ sinh an tồn thực phẩm, ít hoạt động thể lực…

4.3. Một số yếu tố liên quan đến tinh trạng mắc đái tháo đường

4.3.1. Về tuổi và giới

Khi so sánh tỷ lệ mắc đái tháo đường theo tuổi với giới, nghiên cứu của

chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng dần theo tuổi ở cả 2 giới nam và nữ,

cao nhất ở nhóm 60 -69 tuổi. Ở nhóm tuổi 50 – 59, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nam thấp



39



hơn nữ trong khi các nhóm tuổi còn lại tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nam cao hơn nữ. Kết

quả này cũng tương đồng với nhiều nghiên cứu khác trong và ngoài nước.

Theo tác giả Trần Minh Long (2010) tỷ lệ ĐTĐ của nam cao hơn nữ 11,08 vs

8,21 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [33]. Kết quả nghiên cứu

của Đỗ Thanh Bình (2011) cũng chỉ ra tỷ lệ ĐTĐ ở nam cao hơn nữ (5,08 và

3,56%) [18]. Hoàng Đức Hạnh và cộng sự đưa ra kết quả tỷ lệ mắc bệnh đái

tháo đường tăng dần theo tuổi, cao nhất ở nhóm tuổi 60-69 (12,4%); tỷ lệ mắc

bệnh đái tháo đường ở nam cao hơn nữ (8,6% và 7,5%) tương đồng với kết

quả nghiên cứu của chúng tôi [34]. Một nghiên cứu tại Đức cũng chỉ ra rằng

tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nam cao hơn nữ giới (14,3% vs.10,3%) [38].

4.3.2. Về tình trạng sức khỏe

Nghiên cứu khai thác các chỉ số sức khỏe của đối tượng và tiền sử bệnh

lý để tìm ra mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe với bệnh ĐTĐ.

Tăng huyết áp và tiền sử tăng huyết áp

Tại thời điểm phỏng vấn đối tượng nghiên cứu, chúng tôi đo huyết áp

của đối tượng và từ số liệu này phân tích mối liên quan giữa huyết áp hiện tại

với tình trạng mắc ĐTĐ của đối tượng. Những người có tình trạng tăng huyết

áp có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 2,35 lần những người không mắc bệnh

(OR=2,35, 95%CI: 1,63 – 3,38). Bên cạnh đó, những người có tiền sử tăng

huyết áp có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 1,9 lần so với những người khơng có

tiền sử tăng huyết áp (OR=1,9, 95%CI: 1,27 – 2,85). Kết quả cho thấy những

người hiện có tiền sử tăng huyết áp có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ ít hơn 1,59 lần

so với những người khơng có tiền sử tăng huyết áp và những người có tiền sử

các bệnh tim mạch có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ chỉ bằng 1,9 lần những người

không mắc bệnh (OR=1,9, 95%CI: 0,74 – 4,84). Nghiên cứu trong và ngoài

nước cũng cho thấy mối liên hệ này rõ ràng. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn



40



Vinh Quang (2007) những người tăng huyết áp có tỷ lệ ĐTĐ cao hơn 3,47 lần

những người có huyết áp bình thường [39]. Nghiên cứu tại Yên Bái củaVũ

Thị Mùi và cộng sự tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở người có tăng huyết áp

là 6,22% [40], nghiên cứu tại Cao Bằng của Tạ Văn Bình và cộng sự thì tỷ lệ

mắc bệnh đái tháo đường ở người tăng huyết áp (8,6%), cao hơn ở người

không tăng huyết áp (6,0%) [41]. Đái tháo đường là yếu tố nguy cơ chính của

bệnh tim mạch. Người ta cho rằng đây là một quá trình xảy ra lâu dài và liên

tục với hai yếu tố xơ vữa động mạch và tăng huyết áp. Chúng vừa là nguyên

nhân vừa là hậu quả của nhau, thúc đẩy nhau tiến triển. Liên ủy ban quốc gia

lần thứ 7 (JNC VII) đã đưa ra khuyến cáo, đối với những bệnh nhân đái tháo

đường có tăng huyết áp trong điều trị phải đạt mục tiêu huyết áp dưới

130/80mmHg [32]. Có tác giả cho rằng việc kiểm sốt huyết áp ở người đái

tháo đường thậm chí còn quan trọng hơn cả kiểm sốt glucose máu [11]. Do

đó, trong kiểm sốt, dự phòng và điều trị đái tháo đường rất cần chú trọng đến

vấn để quản lý huyết áp của người bệnh, từ đó có những thái độ xử trí phù

hợp, tránh thúc đẩy tình trạng bệnh nặng hơn.

Tăng cholesterol và tiền sử tăng cholesterol

Theo nghiên cứu tại Cao Bằng của Tạ Văn Bình và cộng sự thì tỷ lệ

mắc bệnh đái tháo đường ở người có tiền sử rối loạn mỡ máu (16,1%) cao

hơn ở người khơng có tiền sử rối loạn mỡ máu (6,6%) [41]. Nghiên cứu của

chúng tơi khơng tìm thấy mối liên hệ giữa bệnh ĐTĐ và tiền sử tăng

cholesterol, nhưng kết quả cũng chỉ ra rằng những người hiện có tình trạng tăng

cholesterol tồn phần có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ chỉ bằng 1,93 lần những người

khơng tăng cholesterol tồn phần (OR=1,93, 95%CI: 1,35 – 2,77). Những người

có tiền sử tăng cholesterol có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 1,59 lần so với

người khơng có tiền sử. Kết quả này thấp hơn kết quả của Nguyễn Bá Trí trên

đối tượng 45 – 69 tuổi ở Kon Tum, những người có tiền sử rối loạn mỡ máu có



41



xác xuất mắc bệnh đái tháo đường cao hơn 7,4 lần so với người không có tiền sử

rối loạn mỡ máu (OR = 7,4; 95%CI: 1,4 - 39,3) [43].

Béo phì

Những người có béo phì có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 4,03 lần

những người bình thường và những người thừa cân có nguy cơ mắc bệnh

ĐTĐ cao gấp 1,65 lần những người bình thường. Có thể thấy, những người có

chỉ số BMI càng cao thì khả năng mắc bênh ĐTĐ càng cao. Theo nghiên cứu

của Bế Thu Hà (2009), đa số các bệnh nhân đái tháo đường có thể trạng thừa

cân và béo phì (BMI≥23), chiếm tỷ lệ 49,1% [44]. Nghiên cứu của chúng tơi

cũng chỉ ra rằng những người có tình trạng béo bụng có nguy cơ mắc bệnh

ĐTĐ cao gấp 1,74 lần những người không béo bụng (OR=1,74, 95%CI: 1,21

– 2,50). Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại Cao Bằng của Tạ Văn

Bình và cộng sự thì tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở béo bụng là 7,4%, cao

hơn ở người vòng bụng bình thường (6,0%) [41]. Một nghiên cứu khác cũng

cho kết quả tương tự, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở béo bụng là 7,1% cũng

cao hơn những người vòng bụng bình thường [43]. Với sự phát triển không

ngừng của kinh tế xã hội, tốc độ phát triển nhanh chóng, tỷ lệ béo phì đang

gia tăng một các nhanh chóng, gây ra gánh nặng lớn đối với việc phòng chống

bệnh ĐTĐ.

4.3.3. Các hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu

Uống rượu, bia

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người mắc ĐTĐ uống rượu vượt

quá tiêu chuẩn trong 30 ngày qua lại cao hơn so với người không mắc ĐTĐ

(54,35% và 41,63%). Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người uống

rượu vượt quá tiêu chuẩn cho phép có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao gấp 1,67

lần những người không uống rượu vượt quá tiêu chuẩn. Kết quả này cũng



42



tương tự kết quả của một theo dõi dọc của Zhang YZ và cộng sự tại Trung

Quốc trên 6784 đối tượng nam giới trung niên và người cao tuổi cho thấy

những uổng rượu trung bình trên 20g/ ngày hoặc uống rượu trên 7 lần/tuần có

nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 gấp 1,27 lần và 1,35 lần so với người khơng uống

rượu. Trong nhóm những người uống rượu nhiều lần 7 lần/tuần, nguy cơ mắc

bệnh ĐTĐ týp 2 ở những người uống từ 0,01 đến 40g và trên 40g mỗi lần là

1,48 và 1,27 tương ứng [23]. Kết quả nghiên cứu ở Nhật Bản cũng cho kết

quả tương tự kết quả nghiên cứu của chúng tôi, khi sử dụng 46,0 – 68,9g

ethanol / ngày thì nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 1,71 lần so với mức tiêu thụ

rượu từ 0,1-22,9g ethanol/ngày (OR=1,71, 95%CI: 1,22–2,41) [45].

Chế độ dinh dưỡng

Chúng tơi nhận thấy có sự khác biệt về tỷ lệ mắc ĐTĐ giữa những người

ăn rau/quả đạt chuẩn và dưới mức tiêu chuẩn. Cụ thể, những người ăn rau/quả

dưới mức tiêu chuẩn sẽ có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ gấp 1,52 lần những người

ăn rau/quả đạt mức tiêu chuẩn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết

quả củ một nghiên cứu khác tại Iran, khi ăn lượng trái cây và rau xanh ít hơn

5 đơn vị tiêu chuẩn (tương đương 400gram) thì tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng lên gấp

1,45 lần [28]. Trong nghiên cứu dọc của Bazzano và cộng sự được thực hiện

trên 71346 nữ Y tá tuổi từ 38 đến 63 không mắc bệnh ĐTĐ, được theo dõi 18

năm, mỗi 4 năm được thu thập thơng tin về chế độ dinh dưỡng và chẩn đốn

ĐTĐ cho kết quả nếu ăn thêm 3 khẩu phần trái cây (tương đương 240gram) 1

ngày sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ (OR=0,82, 95%CI: 0,72-0,94) [24].

Một số cơ chế sinh học hợp lý đã được đề xuất để giải thích mối liên hệ nói

trên. Trái cây và rau quả giàu chất xơ, đã được chứng minh là cải thiện độ

nhạy insulin và tiết insulin để khắc phục tình trạng kháng insulin [46]. Chính

vì vậy, để phòng ngừa và giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, cần bổ



43



sung thêm trái cây và rau xanh tối thiểu 4 đơn vị chuẩn, tương đương

400gram trái cây/rau xanh mỗi ngày.

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người hay sử dụng mỡ

động vật có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ bằng 0,49 lần những người sử dụng dầu

thực vật (OR=0,49, 95%CI: 0,26- 0,93). Một chế độ dinh dưỡng hợp lý (hạn

chế chất béo có nguồn gốc động vật, hạn chế ăn mặn và nhiều ranh xanh) sẽ

giúp giảm thiểu đáng kể các nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp và các bệnh

mạn tính khác. Vì vậy, giáo dục sức khỏe là vơ cùng cần thiết để cài thiện

kiến thức của người dân trong phòng chống bệnh đái tháo đường.

Hoạt động thể lực

Sự phối hợp hoạt động thể lực thường xuyên và điều chỉnh chế độ ăn

có thể giúp làm giảm 58% tỷ lệ mắc đái tháo đường [47]. Theo nghiên cứu

của Tạ Văn Bình, nhóm đối tượng ít vận động (dưới 30 phút/ngày) có nguy cơ

mắc bệnh đái tháo đường gấp 2,4 lần so với nhóm chứng [11]. Thấp hơn kết

quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình, nghiên cứu của chúng tơi chỉ ra rằng những

người không đạt về mức hoạt động thể lực theo khuyến cáo của WHO (thực

hiện ít hơn 150 phút hoạt động thể lực ở cường độ trung bình hoặc tương đương

trong một tuần) có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường cao gấp 1,54 lần so với

những người đạt chuẩn (OR=1,54, 95%CI: 0,94 – 2,59). Những người hoạt

động thể lực ở mức trung bình có nguy cơ mắc ĐTĐ gấp 2,29 lần những người

hoạt động thể lực ở mức cao và những người hoạt động thể lực ở mức thấp có

nguy cơ mắc ĐTĐ gấp 1,66 lần những người hoạt động thể lực ở mức cao.

4.4. Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu

Đây là một trong số ít những nghiên cứu tiến hành xác định tỷ lệ mắc

bệnh đái tháo đường và mô tả chi tiết các yếu tố nguy cơ đối với bệnh đái tháo

đường tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện quy mô với sự tập huấn kĩ



44



lưỡng cho các điều tra viên, nghiên cứu tìm hiểu sâu về các hành vi nguy cơ,

cho thấy góc nhìn tồn diện về các yếu tố nguy cơ đối với bệnh đái tháo đường

trong cộng đồng. Đây sẽ là những bằng chứng quan trọng cho các nhà hoạch

định chính sách cũng như các nghiên cứu tiếp theo .

Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn tồn tại một vài điểm hạn chế. Thứ nhất, do sử

dụng số liệu thứ cấp từ điều tra quốc gia về các hành vi nguy cơ nên nghiên

cứu chưa chỉ ra được mối liên quan của thực trạng bệnh đái tháo đường với

các yếu tố nguy cơ như tiền sử gia đinh, tiền sử sản khoa. Bên cạnh đó, hạn

chế của các nghiên cứu mô tả là không thiết lập được mối quan hệ nhân quả

giữa các yếu tố, vì vậy cần thực hiện các nghiên cứu can thiệp hoặc theo dõi

dọc để đánh giá chính xác hơn ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ đến tình trạng

đái tháo đường ở người 30 đến 69 tuổi.



45



KẾT LUẬN



1. Thực trạng bệnh đái tháo đường

Kết quả nghiên cứu trên 2564 đối tượng là người dân hiện đang sinh

sống tại Việt Nam có độ tuổi từ 30 – 69 tuổi, không mang thai cho thấy:

- Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 4,91%.

- Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tăng dần theo tuổi ở cả hai giới nam và

nữ, cao nhất là ở nhóm tuổi 60 – 69 (7,35%).

- Nam giới có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ cao hơn nữ giới (5,47% và 4,5%).

2. Các yếu tố nguy cơ với bệnh đái tháo đường

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa đái tháo đường và các yếu

tố nguy cơ như sau:

- Có tình trạng tăng huyết áp (so với khơng có): OR=2,35, 95%CI: 1,63 – 3,38

- Có tiền sử tăng huyết áp (so với khơng có): OR=1,9, 95%CI: 1,27 – 2,85.

- Có tình trạng tăng cholesterol tồn phần (so với khơng có): OR=1,93,

-



95%CI: 1,35 – 2,77.

Có tình trạng béo phì (so với bình thường): OR=4,03, 95%CI: 1,83 – 8,87.

Có tình trạng thừa cân (so với bình thường):OR=1,65, 95%CI: 1,06 – 2,59.

Có tình trạng béo bụng (so với khơng có): OR=1,74, 95%CI: 1,21 – 2,50.

Nhóm tuổi 50 – 59 (so với 30 – 39): OR=2,04, 95%CI: 1,20 – 3,47.

Nhóm tuổi 60 – 69 (so với 30 -39): OR=2,48, 95%CI: 1,41-4,35.

Ăn rau/quả dưới mức tiêu chuẩn (so với khơng có): OR=1,52, 95%CI:



1,04 – 2,22.

- Hay sử dụng mỡ động vật để chế biến món ăn (so với dùng dầu thực vật):

OR=0,49, 95%CI: 0,26 – 0,93.

- Hoạt động thể lực ở mức trung bình (so với mức cao): OR=2,29, 95%CI:

1,47 – 3,58.

- Hoạt động thể lực ở mức thấp (so với mức cao): OR=1,66, 95%CI: 1,08 – 2,55)

-



46



KIẾN NGHỊ



Dựa vào những kết quả trên chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị như sau:

1. Đối với các nhà hoạch định chính sách

- Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học giúp xây dựng chiến lược

phòng chống bệnh ĐTĐ phù hợp với thực tế, tác động đến các yếu tố

nguy cơ.

2. Đối với cơ quan chuyên mơn

- Tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để tìm hiểu mối liên quan giữa tình

trạng mắc bệnh ĐTĐ với việc thường xuyên sử dụng mỡ động vật để

chế biến món ăn để đưa ra khuyến cáo phù hợp nhằm phòng bệnh

ĐTĐ.

- Tăng cường truyền thơng giáo dục sức khỏe về cách phòng chống bệnh

ĐTĐ bằng cách thay đổi lối sống, đặc biệt là chế độ ăn nhiều rau/quả

và tăng cường hoạt động thể lực.

- Khuyến cáo khám sàng lọc và phát hiện sớm ĐTĐ ở cộng đồng với

những đối tượng có nguy cơ cao: trên 40 tuổi, mắc bệnh THA, tăng

Cholesterol, thừa cân, béo phì…

- Tăng cường quản lý bệnh ĐTĐ ở tuyến Y tế cơ sở nhằm tư vấn chế độ

dinh dưỡng, hoạt động thể lực hợp lý và tư vấn kiểm soát các yếu tố

nguy cơ về tim mạch, huyết áp, rối loạn mỡ máu.

3. Đối với cá nhân

- Cần phải xây dựng lối sống lành mạnh với chế độ dinh dưỡng hợp lý,

không lạm dụng các chất kích thích như rượu/bia, thuốc lá, chế độ ăn

nhiều rau xanh và trái cây, kết hợp tăng cường hoạt động thể lực.



TÀI LIỆU THAM KHẢO



1.



Lozano R., Naghavi M., Foreman K. và cộng sự. (2012). Global and

regional mortality from 235 causes of death for 20 age groups in 1990

and 2010: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study

2010. The Lancet, 380(9859), 2095–2128.



2.



Guariguata L., Whiting D.R., Hambleton I. và cộng sự. (2014). Global

estimates of diabetes prevalence for 2013 and projections for 2035.

Diabetes Research and Clinical Practice, 103(2), 137–149.



3.



International Diabetes Federation Committee (2014), The sixth edition of

the IDF Diabetes Atlas



4.



International Diabetes Federation (2012), “IDF Diabetes Atlas 5th Editon

2012 Update”, tr.2.



5.



Bộ Y tế (2015), “Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015 tăng

cường y tế cơ sở hướng tới chăm sóc sức khỏe tồn dân”, tr. 16-19



6.



Global Burden of Disease Study 2010 (GBD 2010) Results by Cause

1990-2010 | GHDx. ,



accessed:



25/05/2018.

7.



WPRO



|



The



growing



burden



of



diabetes



in



Viet



Nam.




health_day_2016_vietnam/en/>, accessed: 11/04/2018.

8.



Văn bản chỉ đạo điều hành.


class_id=2&mode=detail&document_id=179404>, accessed:

25/05/2018.



9.



WeberMB,Oza-FrankR,và cộng sự (2012). Type 2 diabetes in Asians:

prevalence, risk factors, and effectiveness of behavioral intervention at

individual and population levels. Annu Rev Nutr;32, 417–39.



10. American Diabetes Associantion (2010). Standards of Medical Care in

Diabetes—2010. Diabetes Care, 33(Suppl 1), S11–S61.

11. Tạ Văn Bình (2006), Dịch tế học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam - Các

phương pháp điều trị và biện pháp phòng chống, Nhà xuất bản Y học,

Hà Nội.

12. American Diabetes Associantion. (2017). Standards of Medical Care in

Diabetes—2017:



Summary



of



Revisions.



Diabetes



Care,



40(Supplement 1), S4–S5.

13. Absetz P., Oldenburg B., Hankonen N. và cộng sự. (2009). Type 2

Diabetes Prevention in the Real World. Diabetes Care, 32(8), 1418–

1420.

14. Tạ Văn Bình (2003). Dịch tễ học bệnh đái tháo đường, các yếu tố nguy

cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường tại khu vực

nội thành 4 thành phố lớn. Dịch tễ học bệnh đái tháo đường, các yếu tố

nguy cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường tại

khu vực nội thành 4 thành phố lớn. Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội.

15. WHO | Definition and diagnosis of diabetes mellitus and intermediate

hyperglycaemia.



WHO,



,

accessed: 11/04/2018.

16. IDF diabetes atlas - 2017 Atlas.

, accessed:

11/04/2018.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ambala, Haryana, Ấn Độ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×