Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đây là phương pháp chỉ được áp dụng khi phương pháp gây sẩy, GCD TCL thất bại và phải đủ điều kiện, cần được chuẩn bị tốt về phương tiện thuốc men đề phòng biến chứng chảy máu, nhiễm khuẩn, thủng tử cung...

Đây là phương pháp chỉ được áp dụng khi phương pháp gây sẩy, GCD TCL thất bại và phải đủ điều kiện, cần được chuẩn bị tốt về phương tiện thuốc men đề phòng biến chứng chảy máu, nhiễm khuẩn, thủng tử cung...

Tải bản đầy đủ - 0trang

22

1.7%, trong đó biến chứng chảy máu chiếm 1.2% và biến chứng nhiễm trùng

chiếm 0.3%.

- Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Xuân [44], nghiên cứu TCL tại

BVBVBM-TSS trong 2 năm 2001 - 2002 thì tỷ lệ TCL chiếm 8.24% so với

tổng số thai phụ vào đẻ. Bệnh lý của thai phụ có TCL cao nhất là nhiễm độc

thai nghén chiếm 2.35%. Lý do khiến thai phụ có TCL vào viện chủ yếu ở

nhóm tuổi thai ≤ 12 tuần là triệu chứng ra máu âm đạo (83.7%), ở nhóm tuổi

TCL 13-24 tuần là mất cử động thai (54.29%); TCL ≥ 25 tuần thì mất cử động

thai là phổ biến, chiếm 71.19%. Về cận lâm sàng, theo tác giả SSH giảm < 2g/l

chiếm 1.57%. Tỷ lệ biến chứng chảy máu và nhiễm trùng là 1.08%.

Về xử trí TCL ở nhóm tuổi thai ≤ 12 tuần chủ yếu là nạo, hút thai, chiếm

98.45%; nhóm tuổi TCL 13-24 tuần xử trí bằng phương pháp gây sẩy thai,

chiếm 73.92%, nhóm tuổi TCL ≥ 25 đẻ tự nhiên là 35.25% và GCD là 60%.

Phương pháp gây sẩy, GCD bằng Misoprostol sử dụng chủ yếu cho nhóm

TCL 3 tháng giữa và 3 tháng cuối với tỷ lệ thành cơng là 94.4%. Tổng liều

Misoprostol dùng phổ biến là 200µg - 300µg, phác đồ sử dụng chủ yếu là cứ

4h đặt âm đạo 100µg Cytotec.

- Nghiên cứu tình hình TCL tại BVPSTƯ từ 6/2005-5/2006 tác giả

Phùng Quang Hùng [50] kết luận: về triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng:

ra máu âm đạo chiếm tỷ lệ 23.2%. Nguy cơ TCL ở những thai phụ dưới 20

tuổi tăng so với những thai phụ trên 20 tuổi (nhưng không trên 35 tuổi) với

OR = 2,76; những thai phụ trên 35 tuổi có nguy cơ tăng so với những thai phụ

dưới 35 tuổi (nhưng không dưới 20 tuổi) với OR = 1.79 nguy cơ bị TCL ở

những thai phụ có tiền sử đẻ ≥ 3 lần tăng so với những thai phụ có tiền sử đẻ

1 lần (OR = 2.53), nguy cơ bị TCL ở những thai phụ có tiền sử sẩy ≥ 3 lần

tăng so với những thai phụ có tiền sử sẩy 1 lần (OR = 2.64), những thai phụ

có tiền sử nạo hút ≥ 3 lần nguy cơ bị TCL tăng so với những thai phụ có tiền

sử nạo hút 1 lần (OR = 2.53), nguy cơ bị TCL ở những thai phụ có tiền sử TCL

tăng so với những thai phụ khơng có tiền sử TCL (OR = 2.39), nguy cơ bị

TCL ở những thai phụ bị bệnh lý tăng so với những thai phụ không bị bệnh



23

(OR=4.24), nguy cơ bị TCL ở những thai phụ có tiền sử bệnh lý về thai và

phần phụ của thai tăng so với những thai phụ khơng có bệnh lý của thai và

phần phụ thai (OR = 1.77).

Về xử trí TCL: Phương pháp sử dụng Misoprostol chiếm tỷ lệ 82.6% với

tỷ lệ thành cơng cao là 98,1%. Xử trí bằng Oxytocin chiếm tỷ lệ 17.4% và tỷ

lệ thành công là 85.7%, MLT chiếm 3.8%. Biến chứng chung là 2% trong đó

chảy máu chiếm 1%, nhiễm khuẩn 0,5% và thủng tử cung do nạo thai 0.5%.

- Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Huệ [22] về tỷ lệ, cách xử trí và

biến chứng thai chết trong tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ

tuần thứ 22 đến chuyển dạ trong hai giai đoạn 1996-1997 và 2006-2007 thì

tỷ lệ chảy máu ở giai đoạn II là 4.9% cao hơn giai đoạn I là 3%. Một số yếu

tố liên quan đến biến chứng chảy máu: thai phụ ≥35 tuổi ở cả 2 giai đoạn

đều có nguy cơ chảy máu cao hơn những thai phụ < 35 tuổi 1 .86 lần ở GĐ I

và 4.29 lần ở GĐ II, thai phụ có vết mổ tử cung ở cả 2 giai đoạn đều có

nguy cơ chảy máu cao hơn những thai phụ khơng có vết mổ tử cung là 1.41

lần ở GĐ I và 3.02 lần ở GĐ 2.



24



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Tất cả các bệnh nhân có hồ sơ bệnh án chẩn đoán là thai chết lưu với

tuổi thai > 12 tuần và được xử trí tại BV PSTH trong năm 2013.

- Hồ sơ có đầy đủ các thơng tin nghiên cứu.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Tuổi thai < 12 tuần

- Các trường hợp trong hồ sơ không đầy đủ các thông tin nghiên cứu

- Thai chết trong chuyển dạ.

- TCL vào đã sẩy hoặc đã đẻ ở nơi khác chuyển đến.

- Các trường hợp đa thai (một thai sống, một thai chết).

2.2. Phương pháp nghiên cứu.

Nghiên cứu mô tả hồi cứu

2.2.1. Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện phụ sản Thanh Hoá.

2.2.2. Cỡ mẫu

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện không xác suất, 469 trường hợp

TCL tại BVPSTH trong năm 2013, thoả mãn tiêu chuẩn lựa chọn và khơng

có tiêu chuẩn loại trừ.



25

2.3. Các bước tiến hành.

2.3.1. Thu thập thông tin.

- Các thông tin thu thập từ hồ sơ được ghi chép vào mẫu phiếu nghiên cứu.

- Các thông tin được lấy trực tiếp từ kết quả trong hồ sơ tại phòng Kế

hoạch tổng hợp của BVPSTH trong năm 2013.

2.3.2. Các biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn của các biến số.

 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu:

- Tuổi mẹ: Các nhóm tuổi của mẹ: < 20, 20 – 24; 25 – 29; 30 – 34; ≥ 35

- Nghề nghiệp: Cán bộ, công nhân, làm ruộng, nghề khác.

- Nơi ở: Đồng bằng, miền núi và trung du, vùng biển.

- Tiền sử sản khoa: Số lần có thai, số lần đẻ, Số con hiện sống, số lần nạo

hút thai, số lần TCL, số lần mổ lấy thai.

- Tiền sử phụ khoa: Tiền sử mổ bóc nhân xơ tử cung, mổ u buồng trứng,

mổ chửa ngoài tử cung, mổ khác(ứ nước, ứ mủ vòi trứng, viêm phần phụ, lạc

nội mạc tử cung, mổ vô sinh), mổ phụ khoa, MLT, số lần mổ, khoảng cách

giữa các lần mổ.

- Tiền sử bệnh lý của mẹ liên quan đến TCL: Bệnh tim, TSG và SG,

thiếu máu, hen phế quản, tiểu đường, sang chấn…

- Tiền sử dùng thuốc trong quá trình mang thai: thuốc điều trị ung thư, hạ áp,

an thần…

- Tuổi TCL theo kết quả của siêu âm: Các nhóm tuổi TCL: 13-<18 tuần,

18-22 tuần, 23-27 tuần, 28-32 tuần, 33-36 tuần và ≥ 37 tuần.

- Thời gian tiềm tàng: Là khoảng thời gian từ khi biết thai chết đến khi

thai ra khỏi buồng tử cung.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đây là phương pháp chỉ được áp dụng khi phương pháp gây sẩy, GCD TCL thất bại và phải đủ điều kiện, cần được chuẩn bị tốt về phương tiện thuốc men đề phòng biến chứng chảy máu, nhiễm khuẩn, thủng tử cung...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×