Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
+ Lớp đệm: Dày đặc và có các nhú trồi ra dọc theo các nếp dọc của niêm mạc. Gồm các sợi liên kết chun có hướng dọc theo lòng thực quản, xen kẽ có đám tổ chức lympho.

+ Lớp đệm: Dày đặc và có các nhú trồi ra dọc theo các nếp dọc của niêm mạc. Gồm các sợi liên kết chun có hướng dọc theo lòng thực quản, xen kẽ có đám tổ chức lympho.

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



gần (vùng đáy và 1/3 trên của thân dạ dày) và dạ dày phần xa (2/3 dưới của

vùng thân và vùng hang). Dạ dày phần gần đóng vai trò tiếp nhận và chứa

đựng thức ăn. Dạ dày phần xa có chức năng nghiền, nhào trộn thức ăn với

dịch vị và kiểm soát việc đưa vị trấp xuống tá tràng. Sự tống thức ăn từ dạ dày

vào tá tràng phụ thuộc vào cường độ các co bóp nhu động của hang vị và một

phần vào cơ thắt môn vị. Các co bóp nhu động vùng hang vị bình thường

sóng nhu động yếu, tác dụng chủ yếu là nhòa trộn thức ăn với dịch vị. Khi

thức ăn vào dạ dày được 1 giờ các co bóp hang vị trở nên mạnh dần để đẩy

thức ăn thức ăn xuống môn vị. Khi dạ dày rỗng dần, các co bóp nhu động đi

xa dần lên thân dạ dày để dồn thức ăn vào hang vị rồi xuống môn vị. Nếu

trương lực cơ thắt môn vị bình thường, mỗi sóng nhu động của hang vị có thể

tống khoảng vài ml vị chấp vào tá tràng. Cơ môn vị ở trạng thái co trương lực

nhẹ nên môn vị thường hé mở đủ để nước và các chất bán lỏng đi qua, thức ăn

có kích thước lớn hoặc có thể rắn sẽ bị giữ lại. Mức độ co của cơ mơn vị chịu

sự điều hòa của hóc môn và thần kinh từ dạ dày và tá tràng là dây X và gastrin

do tế bào vùng hang vị bài tiết.

1.2.4. Ruột non

Ruột non gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Đoạn đầu của tá tràng

là hành tá tràng dễ bị loét vì thường xuyên chịu sự tấn công của HCl từ dạ dày

đưa xuống. Dây chằng Treitz là ranh giới giữa tá tràng và hỗng tràng . Sự

phân chia hỗng tràng và hồi tràng chỉ là quy ước vì thực tế khơng có ranh giới

giải phẫu giữa hai đoạn này. Niêm mạc ruột non chứa những hạch bạch huyết

đơn độc, nhưng ở hồi tràng các hạch bạch huyết tập trung thành từng đám gọi

là mảng Payer. Ở ruột non, thức ăn được nhào trộn với dịch tụy, mật và dịch

ruột. Tiêu hóa ở ruột non có hai chức năng chính:

- Hồn tất q trình tiêu hóa thức ăn trong lòng ruột và trong các tế bào

niêm mạc ruột non.

- Hấp thu các chất protid, lipid, gluxit, các loại vitamin và muối vô cơ và



9



nước. Vận động của ruột non chủ yếu chịu sự điều hòa của hệ thần kinh ruột

(đám rối Auerbach) và tương đối độc lập với những dây thần kinh từ ngoài

đến ruột.

1.2.5. Đại tràng

Đại tràng đóng vai trò quan trọng để tái hấp thu nước. Chức năng tái hấp

thu nước hoàn thiện như người lớn vào cuối năm thứ nhất, co bóp nhu động

đại tràng khoảng 3 nhu động/ phút. Sau khi sinh cơ thắt trong và ngồi hậu đã

biệt hóa, phản xạ đại tiện đã hồn thiện.

1.3. Các loại dị vật tiêu hóa

Dị vật tiêu hóa thường gặp bao gồm đồng xu, pin dẹt, đồ chơi, bộ phận

của đồ chơi, nam châm, kim băng, đinh vít, viên bi, xương, và bã thức ăn [2],

[22],[23].

- Đồng xu – Dị vật tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻ em[1], [24], [25].

- Pin dẹt – Tình trạng nuốt pin dẹt hay dạng đĩa đang gia tăng do việc sử

dụng trong các dụng cụ gia dụng ngày càng tăng. Di chứng nặng ( như: bỏng

thực quản, loét hay rò) xảy ra khoảng 3 % những trường hợp này. Thành thực

quản phẳng tiêp xúc với cả hai điện cực của pin dẫn tới tình trạng hoại tử và

loét thực quản. Ngồi ra, rò rỉ chất ăn mòn trong viên pin gây tổn thương

đường tiêu hóa như kim loại nặng (thủy ngân, bạc, lithium), kiềm mạnh

(NaOH, KOH) [23], [26], [27].

- Vật sắc nhọn – hay gặp như pin thẳng, kẹp giấy, kim, và xương cá,

chiếm 10-15 % dị vật tiêu hóa [17]. Dị vật sắc nhọn nguy cơ cao gây thủng

đường tiêu hóa (15-35%). Khi dị vật ở hạ họng có thể gây áp xe sau họng

[28], dị vật tăm và xương có khả năng gây thủng [17], [29].

- Nam châm- trở thành yếu tố nguy cơ cho trẻ em khi gia tăng sử dụng

nam châm nhỏ trong đồ chơi và đồ gia dụng [30], [31], [32]. Những viên nam

châm năng lượng cao chứa neodymium ngày càng được dùng nhiều trong vật



10



gia dụng, đồ giải trí (như buckyballs) chứa hơn 200 viên nam châm nhỏ, hình

khối hay hình trụ. Mặc dù các vật dụng này được sản xuất cho người lớn

nhưng có thể xảy ra tai nạn nuốt dị vật ở trẻ em. Một số trẻ chậm phát triển

tinh thần hay tự kỷ bị biến chứng do nuốt cùng lúc nhiều viên nam châm [30],

[33]. Một số trường hợp, trẻ lớn có thể vơ ý nuốt những viên nam châm này

khi bắt chước xuyên qua lưỡi [34], [35]. Năm 2011, Ủy ban về an toàn sản

phẩm tiêu dùng Mỹ đã phát hành cảnh báo nguy cơ sử dụng các sản phẩm

chứa nam châm [36], và ban hành luật nhằm hạn chế giảm giá những sản

phẩm này vẫn còn tranh cãi [37].

- Dị vật dài và tù, như bàn chải đánh răng, pin, và thìa, thường được nuốt

bởi trẻ lớn, trẻ vị thành niên hay người lớn. điều trị phụ thuộc vào kích thước

và bản chất của dị vật.

- Polymer siêu thấm- đồ chơi và vật dụng là từ polymer siêu thấm gây

nguy cơ tắc ruột nếu nuốt phải [38], [39]. Những sản phẩm này có thể phồng

to gấp 30-60 lần nếu hấp thụ nước [17].

- Sản phẩm chứa chì- như cục chì lưới đánh cá, đạn bắn chim, một số đồ

chơi hay huy chương. Ngộ độc chì cấp có thể xảy ra sau khi nuốt các vật này

và có nguy cơ gây tử vong [40], [41].

- Viên nang nội soi tiêu hóa- thỉnh thoảng mắc trong đường tiêu hóa.

Biến chứng này phổ biến hơn ở trẻ có một bệnh nền trước đó [42], [43] và có

thể cần nội soi hay phẫu thuật gắp bỏ [44], [45].

1.4. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của dị vật tiêu hóa ở trẻ em

1.4.1. Lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng dị vật tiêu hóa khá đa dạng, tùy thuộc vào lứa

tuổi, vị trí, loại dị vật. Hầu hết trẻ bị dị vật thực quản được mang tới trung tâm

y tế bởi bố mẹ trẻ sau khi nhìn thấy trẻ nuốt dị vật hay trẻ thông báo với họ

[4], [16] ,[46], [47]. Những trường hợp này thường khơng có triệu chứng.



11



Arana và cộng sự nghiên cứu 325 trẻ có dị vật thực quản, chỉ một nửa số trẻ

biểu hiện triệu chứng khi nuốt dị vật, như đau sau xương ức, tím, hoặc nuốt

khó, nhiều trường hợp triệu chứng chỉ thoáng qua [28]. Triệu chứng thường

liên quan vị trí của dị vật tiêu hóa:

- Thực quản – Trẻ bị dị vật thực quản có thể khơng có triệu chứng, hay

có thể biểu hiện biếng ăn, nuốt khó, chảy nước dãi, hay các triệu chứng hơ

hấp như khò khè, thở rít hay ngạt thở. Trẻ lớn có thể cảm giác mắc dị vật ở

vùng cổ hay ngực dưới. Trẻ có biểu hiện đau sau xương ức nhiều khả năng có

loét thực quản khi nội soi, đặc biệt dị vật tồn tại từ sau 72 giờ, hay phát hiện

tình cờ khi chụp ngực [48]. Dị vật thực quản kéo dài có thể gây giảm cân hoặc

viêm phổi hít phải. Dị vật có thể gây tổn thương niêm mạc và gây hẹp, hoặc

ăn mòn thành thực quản, gây rò vào khí quản hoặc cấu trúc xung quanh. Vật

nhọn có thể gây thủng thực quản, dẫn tới sưng cổ, tràn khí trung thất [4], Rò

vào động mạch chủ gây xuất huyết tiêu hóa đe dọa cuộc sống [49], [50].

- Dạ dày và ruột – Dị vật trong dạ dày thường khơng có triệu chứng gì,

trừ khi dị vật đủ lớn gây tắc môn vị, trẻ biểu hiện nôn không có dịch mật,

chướng thượng vị và/ hoặc biếng ăn [51]. Thỉnh thoảng, dị vật nằm trong

đoạn xa đường tiêu hóa gây biến chứng muộn. Betz (2004) mô tả trường hợp

trẻ 2 tuổi bị viêm ruột thừa do đồng xu ở manh tràng gây tắc [52]. Lowry

(1993) mô tả những trường hợp áp xe gan sinh mủ do dị vật sắc nhọn di

chuyển từ đường tiêu hóa tới gan [53], Green (1994) đã báo cáo những trường

hợp dị vật trong ruột thừa gây viêm ruột thừa nhiều năm sau [54], Cross

(2007) mô tả trường hợp thủng hồi tràng do đá sỏi [55].

- Khai thác bệnh sử và khám thực thể - nên khám đường thở và kiểu

thở đầu tiên. Khám vùng cổ có thể phát hiện sưng, đỏ hay tràn khí dưới da gợi

ý thủng thực quản và cần hội chẩn ngoại khoa [56]. Khám hơ hấp có thể phát

hiện dấu hiệu thở rít thì hít vào, khò khè thở ra, gợi ý dị vật thực quản chèn ép



12



khí quản. Khám bụng có thể thấy dấu hiệu của tắc ruột hay thủng ruột, những

trường hợp này cần kết hợp chẩn đoán hình ảnh và hội chẩn ngoại khoa.

Những triệu chứng thường gặp trong dị vật tiêu hóa:

- Nuốt khó(dysphagia) là tình trạng khó khăn trong khi nuốt, được chia

thành nuốt khó ở họng và nuốt khó ở thực quản. Nuốt khó ở họng là tình trạng

khó khăn khi đưa thức ăn từ miệng xuống thực quản. Biến chứng nguy hiểm

nhất của nuốt khó ở họng là sặc thức ăn vào đường thở đe dọa tính mạng.

Nuốt khó ở thực quản là tình trạng khó khăn khi đưa thức ăn qua thực quản,

tình trạng này có thể do ngun nhân thần kinh cơ hay tắc nghẽn cơ học.

Những rối loạn nhu động tiên phát gây nuốt khó ở trẻ em rất hiếm gặp. Theo

các nghiên cứu trên thế giới, nuốt khó chiếm 25%- 45% ở trẻ phát triển bình

thường, 30%- 80% ở trẻ rối loạn phát triển. Tỷ lệ này ngày càng tăng do tỷ lệ

trẻ đẻ non, đẻ thấp cân và phối hợp với các bệnh khác được cứu sống tăng lên

[57], [58]. Nhận định dấu hiệu nuốt khó trên trẻ em tương đối khó khăn. Đa

số trẻ có biểu hiện nuốt khó với các thức ăn rắn tuy nhiên một số trường hợp

trẻ có thể nuốt khó với cả các thức ăn lỏng. Nuốt khó là triệu chứng hay gặp ở

trẻ bị dị vật thực quản [16].

- Nuốt đau (odynophagia) là tình trạng đau khi nuốt, ngun nhân có thể

ở miệng, họng hay thực quản. Nuốt đau là biểu hiện thường được ghi nhận ở

những trẻ bị viêm loét miệng họng, abces vùng hầu họng, dị vật thực quản,

bỏng thực quản do hóa chất hay viêm, hẹp thực quản ở bệnh nhân trào ngược.

- Nghẹn thức ăn (food impactions) là triệu chứng gặp do dị vật mắc tại

thực quản. Một số trường hợp cần ăn thêm một lượng thức ăn để có thể đẩy dị

vật vượt qua, một số khác phải dùng thuốc hay nội soi lấy dị vật. Theo

Hurtado C.W, trong tất cả các trẻ em có biểu hiện tắc dị vật thực quản cấp

tính, thức ăn chỉ chiếm 10% [59].

- Nôn là hiện tượng thức ăn chứa đựng trong dạ dày hoặc ruột bị đẩy ra



13



ngoài một cách tùy ý hay khơng, do sự co bóp cơ trơn dạ dày ruột kèm theo

sự co thắt của các cơ vân thành bụng. Nôn là một triệu chứng hay gặp, nhất là

trẻ nhỏ. Nơn có thể do ngun nhân tiêu hóa hoặc ngồi tiêu hóa [11].

- Tăng tiết nước bọt (Drooling) là hiện tượng chảy nước bọt không tự

chủ từ miệng. Chảy nước bọt do nhiều nguyên nhân như cường tuyến nước

bọt, rối loạn chức năng nuốt, tổn thương thần kinh trung ương và cơ, thiểu

năng trí tuệ hay các tổn thương thực quản [60].

- Đau ngực là triệu chứng phổ biến ở trẻ, hầu hết lành tính nhưng nó có thể

ảnh hưởng đến các hoạt động và học tập của trẻ, làm trẻ và bố mẹ lo lắng. Đau

ngực có thể do bệnh tiêu hóa như dị vật thực quản, trào ngược dạ dày thực quản,

bệnh dạ dày, ruột, đường mật và tụy. Theo Saleeb S.F và cộng sự, trong 21 trẻ

đau ngực do nguyên nhân tiêu hóa có 16 trẻ viêm thực quản (đa số do trào ngược

dạ dày thực quản), 4 trẻ viêm dạ dày và 1 trẻ co thắt thực quản [61].

1.4.2. Cận lâm sàng

- Chụp Xquang- Tất cả bệnh nhân nghi ngờ di vật tiêu hóa cần chụp

Xquang hai tư thế (trước –sau và bên) vùng cổ, ngực và bụng [4], [28], [62].

Chụp Xquang cũng được thực hiện dù dị vật không cản quang, giúp đánh giá

khả năng nuốt dị vật khác hay phát hiện bằng chứng gián tiếp của dị vật

không cản quang như mức nước hơi hay khí tự do trong ổ bụng.



Hình 1.1. Hình ảnh Xquang dị vật thực quản [55]

- Nội soi dạ dàythực quản giúp phát hiện vị trí dị vật ở thực quản, hình



14



dáng,loại dị vật, đồng thời điều trị gắp dị

1.5. Biến chứng dị vật tiêu hóa

1.6. Điều trị

1.6.1. Nội soi gắp dị vật tiêu hóa

Chỉ định:

-



Dị vật pin, nam châm.



-



Dị vật sắc nhọn có khả năng đâm xuyên.



-



Dị vật thực quản cản quang bị tắc nghẽn tại thực quản sau 24 giờ.



-



Dị vật dạ dày cản quang có đường kính >20mm và/hoặc chiều dài >50mm.



-



Dị vật tù tồn tại trong cơ thể >4 tuần.



-



Bã thức ăn.



1.6.2. Phẫu thuật



15



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chỉ định nội soi tiêu

hóa can thiệp dị vật tại khoa nội soi- bệnh viện Nhi Trung ương trong thời

gian từ 01/01/2015 đến 31/06/2018.

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

- Dị vật pin, nam châm.

- Dị vật sắc nhọn có khả năng đâm xuyên.

- Dị vật thực quản cản quang bị tắc nghẽn tại thực quản sau 24 giờ.

- Dị vật dạ dày cản quang có đường kính >20mm và/hoặc chiều dài >50mm.

- Dị vật tù tồn tại trong cơ thể >4 tuần.

- Bã thức ăn.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Dị vật gây tổn thương hoặc xuyên thẳng vào động mạch chủ hoặc động

mạch lớn.

- Bệnh nhân mới ăn.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp với tiến cứu dựa trên khai

thác bệnh sử, tiền sử từ cha mẹ bệnh nhân và hồ sơ bệnh án các bệnh nhân di

vật tiêu hóa dưới 18 tuổi từ 01/01/2015 đến 31/06/2018 tại khoa nội soi - bệnh

viện Nhi Trung ương.

2.2.2. Cỡ mẫu

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đốn dị vật tiêu hóa có các thơng tin về

bệnh trong hồ sơ bệnh án thỏa mãn các tiêu chuẩn trên.



16



2.2.3. Phương pháp chọn mẫu

Lấy mẫu tồn bộ bệnh nhân được chẩn đốn dị vật tiêu hóa có các

thơng tin về bệnh trong các hồ sơ bệnh án thỏa mãn các tiêu chuẩn đã đưa ra

tại khoa nội soi - bệnh viện Nhi Trung ương.

2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu

Với bệnh nhi tiến cứu, nghiên cứu viên phỏng vấn cha mẹ trẻ hoặc

người chăm sóc trẻ theo bộ câu hỏi thiết kế phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

Mỗi trẻ cũng được khám lâm sàng, làm một số xét nghiệm sinh hóa và huyết

học theo chỉ định của bác sĩ. Với bệnh nhi hồi cứu, nghiên cứu viên trực tiếp

thu thập số liệu nghiên cứu từ các hồ sơ bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn theo

mẫu bệnh án nghiên cứu.

2.2.5. Các biến số nghiên cứu:

2.2.5.1. Các thơng tin chung

- Tuổi.

- Giới tính.

- Địa dư.

- Thời điểm mắc bệnh.

- Thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên cho đến khi vào viện.

2.2.5.2. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

- Tiền sử:

◦ Phẫu thuật ống tiêu hóa.

◦ Bệnh lí tâm thần kinh.

◦ Dị tật đi kèm

- Toàn thân: Cân nặng, chiều cao.

- Triệu chứng lâm sàng:

◦ Nuốt khó.

◦ Nuốt nghẹn.

◦ Nơn.



17



◦ Tăng tiết nước bọt.

◦ Nuốt đau.

◦ Đau ngực.

◦ Khò khè.

◦ Sặc.

◦ Khàn tiếng.

◦ Sùi bọt cua.

◦ Suy hô hấp.

◦ Sốt.

2.2.5.3. Cận lâm sàng

- Xquang trước sau và bên: vị trí, loại dị vật, chiều dài, chiều rộng dị vật,

bề dầy dị vật, dị vật chèn khí quản, hình ảnh áp xe thực quản, khí tự do trong

ổ bụng. Xquang được chụp tại khoa chẩn đốn hình ảnh bệnh viện Nhi Trung

ương. Kết quả phim do bác sỹ chuyên khoa đọc và kết luận.

- Nội soi tiêu hóa: vị trí, loại dị vật, kích thước dị vật, viêm loét niêm

mạc, thời gian nội soi can thiệp. Nội soi thực quản dạ dày được tiến hành tại

khoa Nội soi tiêu hóa, bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả nội soi do bác sỹ

chuyên khoa thực hiện và kết luận.

2.2.6. Phân tích và xử lí số liệu

Số liệu được xử lý theo thuật toán thống kê trên máy tính bằng phần

mềm Excell và SPSS 16.o.

Các test thống kê sử dụng:

- Thống kê mơ tả biến định tính.

- Thống kê mơ tả biến định lượng.

- Tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm.

- Sự khác biệt có ý nghĩa nếu giá trị OR khơng chứa 1, có ý nghĩa thống

kê khi p < 0.05.



18



2.2.7. Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được sự đồng ý của Bộ môn Nhi trường Đại học Y Hà Nội

và bệnh viện Nhi Trung ương.

- Đối tượng nghiên cứu (ở đây là cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ) hiểu

rõ mục tiêu nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu, có quyền rút

lui khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào.

- Đối với bệnh nhân đến khám và điều trị vẫn được khám bệnh toàn

diện, điều trị đúng phác đồ của bệnh viện Nhi Trung ương và khoa Tiêu hóa,

khoa Ngoại.

- Mọi thơng tin liên quan đến bệnh nhân được giữ bí mật.

- Nghiên cứu này chỉ nhằm phục vụ cho việc nâng cao khám chữa bệnh

cho bệnh nhân, ngồi ra khơng có mục đích nào khác.

- Các số liệu trong nghiên cứu trung thực, chính xác.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

+ Lớp đệm: Dày đặc và có các nhú trồi ra dọc theo các nếp dọc của niêm mạc. Gồm các sợi liên kết chun có hướng dọc theo lòng thực quản, xen kẽ có đám tổ chức lympho.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×