Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tỡnh hỡnh mc bnh tuyn giỏp v mt s c im dch t hc tuyn giỏp.

1 Tỡnh hỡnh mc bnh tuyn giỏp v mt s c im dch t hc tuyn giỏp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ ước tính có 17000 ca ung thư tuyến giáp được chẩn

đốn và có 1300 trường hợp tử vong do ung thư. Tuy nhiên, nếu được chẩn

đốn và điều trị tốt thì tỉ lệ sống sót cao. Tại Hoa Kỳ, ước tính có 190000

bệnh nhân ung thư tuyến giáp còn sống, có bệnh nhân sống sót sau 40 năm.

Tại Việt Nam, số liệu ghi nhận ung thư 2004 – 2008 tại Thành phố. Hồ

Chí Minh và Hà Nội, cho thấy ung thư tuyến giáp đúng hàng thứ 5 và 6 trong

10 loại ung thư ở giới nữ, chiếm khoảng 1,5% tổng số các loại ung thư. Trong

đó, chủ yếu là u nguyên phát, trong khi u thứ phát chiếm không quá 1%,

thường do di căn từ ung thư da, vú, thận và phổi.[2], [8], [9]

1.2. Các phương pháp chẩn đoán bệnh tuyến giáp

Hiện nay chúng ta đã có nhiều phương tiện để xác định chẩn đoán bệnh

của tuyến giáp bằng nhiều phương pháp khác nhau (trực tiếp và gián tiếp): Đo

chuyển hóa cơ bản, phương pháp dùng chất đồng vị phóng xạ I 131 - nghiệm

pháp Werner, PBI, BEI, cholestérol huyết thanh đo mức độ tiết vào của hóc

mơn tuyến giáp (T3, T4, FT4 v.v..) và tuyến yên (TSH) với mục đích xác định

tính chất cường giáp, bình giáp hoạt thiểu năng của tuyến giáp, từ đó có

phương hướng điều trị đúng đắn và thích hợp v.v.. Kết hợp với bệnh cảnh lâm

sàng, kết quả xét nghiệm tế bào học tuyến giáp, xét nghiệm giải phẫu bệnh lý.

Nhờ những phương pháp chẩn đoán kể trên chúng ta có thể xác định được dễ

dàng chức năng của tuyến giáp bị bệnh như bình giáp, thiểu năng của tuyến

giáp, cường giáp, xác định được tính chất của bướu giáp - lành tính, độc tính

hay ác tính …[7]

1.2.1 Thăm khám lâm sàng

-



Đa số bệnh nhân đến khám vì nuốt vướng, nuốt nghẹn, đơi khi có khàn



tiếng hoặc khó thở hoặc xuất hiện khối sưng phồng vùng cổ trước.

- Dịch tễ, địa lý để phát hiện sự ảnh hưởng của Iod đến bệnh tuyến giáp.

- Tiền sử: Nếu trong gia đình có người mắc UTTG hoặc có tiền sử tiếp

xúc với bức xạ lúc nhỏ nên nghi ngờ đến một UTTG.



5



- Triệu chứng thực thể: tuyến giáp to lan tỏa hoặc có thể có một hoặc



nhiều nhân với đặc điểm nhân cứng, bờ rõ, bề mặt nhẵn hoặc gồ ghề, di động

theo nhịp nuốt. Di căn hạch cổ thường gặp, nhiều u tuyến giáp có hạch cổ

cùng bên, một số trường hợp có hạch cổ đối bên hoặc hai bên với biểu hiện rắn, di

động, không đau. [10], [11], [12]

1.2.2 Xét nghiệm sinh hóa

- Xét nghiệm chức năng tuyến giáp: bộ xét nghiệm chức năng tuyến giáp



tiêu chuẩn được tiến hành tại Australia bao gồm:

+ Thyroid Stimulating Hormone (TSH): Hormone kích thích tuyến giáp

do thùy trước tuyến yên tiết ra, có tác dụng kích thích tuyến giáp bài tiết

hormon T3, T4 và điều hòa chuyển hóa theo cơ chế điều hòa ngược.

+ Free Triiodothyronine (Free T3 hay FT3): Triiodothyronine tự do.

+ Free Thyroxine (Free T4 hay FT4): Thyroxine tự do.[13]

- Xét nghiệm kháng thể tuyến giáp: gồm 3 loại chính là kháng thể kháng

Thyroglobulin, kháng thể kháng peroxidase (Thyroid peroxidise hay TPO),

kháng thể kháng thụ thể kích thích thụ thể TSH (TRAb)

+ Kháng thể kháng Thyroiglobulin: Đây là một dạng tiền chất của

hormone giáp. Kháng thể này được tìm thấy trong phần lớn các bệnh nhân

mắc Basedow (hay còn gọi là bệnh Graves) và gần như toàn bộ bệnh nhân

viêm giáp Hashimoto đều có kháng thể này. Kháng thể này thường được dùng

làm marker để phát hiện tình trạng u còn sót lại hoặc u tái phát ở những bệnh

nhân đã trải qua điều trị ung thư tuyến giáp.

+ Kháng thể kháng peroxidase (Anti TPO): Là loại kháng thể được tìm

thấy ở hầu hết bệnh nhân bệnh Graves và viêm giáp Hashimoto và ngày nay,

người ta còn phát hiện sự gia tăng kháng thể này trong một số trường hợp như

sau sinh và trong một sốt bệnh lý tự miễn như viêm khớp dạng thấp

+ Kháng thể kháng thụ thể TSH (TRAbs): Phần lớn, Kháng thể này tác

động trực tiếp lên thụ thể của TSH (Hormone kích thích tuyến giáp) và hoạt

hóa q trình tổng hợp và giải phóng hormone giáp và tăng trưởng tuyến giáp.



6



Kết quả là tuyến giáp phì đại lan tỏa, bắt iode rất mạnh, tăng cao hoạt động

sản xuất hormone giáp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp kháng thể này

gắn vào thụ thể TSH và gây tác dụng ức chế quá trình sản xuất hormone giáp.

Việc đo lường TRAbs giúp ích trong việc chẩn đoán bệnh Graves và được

phát hiện trong 90% các trường hợp.[13]

- Nhóm chỉ dấu ung thư tuyến giáp như Tg, CFEA, CA125, CA19-9,

CA72-4, and Cyfra 21-1 vẫn đang được nghiên cứu và sẽ được triển khái

trong thời gian tới. Xét nghiệm calcitonin, kháng nguyên phôi thai (CEA):

trong ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy CEA và calcitonin thường tăng cao

tuy nhiên khơng đặc hiệu.[9]

1.2.3 Chẩn đốn hình ảnh

1.2.2.1 Siêu âm tuyến giáp

Siêu âm được sử dụng để đo kích thước và tính năng của các nhân giáp

như ranh giới, mật độ, tăng sinh mạch. Siêu âm tuyến giáp có thể giúp phát

hiện các khối u tuyến giáp nhỏ, vị trí sâu dễ bỏ sót khi khám lâm sàng, giúp xác

định dạng tổn thương là nang hay nhân, có một hay nhiều nhân. Siêu âm giúp

theo dõi về sự thay đổi kích thước, mật độ của u tuyến giáp trong điều trị nội

khoa, sớm phát hiện được nhân tiềm tàng hay tái phát.

Hình ảnh siêu âm giúp gợi ý một u ác tính gồm: nhân giảm âm, vi vơi hóa

trong nhân giáp, đường viền không đều hoặc đa cung, tăng sinh mạch trong khối

u, xâm lấn phá vỡ vỏ bao giáp, có hạch vùng cổ.

Một số phân loại được đặt tên là TI-RADS (Thyroid Imaging, Reporting

and Data System – Hệ thống dữ liệu hình ảnh và báo cáo tuyến giáp) vì chúng

dựa trên kiểu mẫu của ACR’s BI-RADS (American College of Radiology

Breast Imaging, Reporting and Data System) cho tuyến vú, mà đã được thừa

nhận và áp dụng rộng rãi trên thế giới. Trong đó European – TIRADS 2017



7



là một bảng phân loại được áp dụng phổ biến hơn do phù hợp, đơn giản, dễ

ứng dụng trên lâm sàng.[14]

Bảng 1.1: Phân loại European – TIRADS 2017.[14]



• Dấu hiệu siêu âm gợi ý ác tính: Hồi âm rất kém, hình dáng cao lớn hơn

rộng, bờ khơng đều, vi vơi hóa.

• Ngưỡng kích thước để làm FNA: Có.

-



EU-TIRADS 3 ≥ 2 cm),

EU-TIRADS 4 ≥ 1.5 cm,

EU-TIRADS 5 ≥ 1cm,

EU-TIRADS 5 < 1cm lựa chon làm FNA hoặc theo dõi (tùy theo



trường hợp cụ thể trên lâm sàng)

• Đánh giá về xâm lấn ra ngồi giáp: Khơng.

• Đánh giá về hạch cổ: Có (nhưng khơng thể hiện trong bảng phân loại).

• Vai trò của siêu âm Doppler: Khơng.

• Vai trò của siêu âm đàn hồi: Khơng.

Vì thế phân loại TIRADS trong siêu âm tuyến giáp có vai trò quan trọng

giúp cho các bác sĩ lâm sàng chẩn đốn mức độ ác tính của bướu giáp, từ đó

nâng cao hiệu quả chẩn đốn và điều trị cho bệnh nhân.

1.3.2.2 Chụp X-quang, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ



8



- Chụp X-quang tư thế cổ thẳng, nghiêng xem khối u có chèn ép khí

quản, thực quản hoặc tìm các nốt vơi hóa trong tuyến giáp. Ngồi ra X-quang

phổi còn có giá trị tìm ổ di căn của UTTG.

- Chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân là phương tiện giúp

đánh giá chính xác vị trí u ngun phát, kích thước, mật độ, nốt canxi hóa, mức

độ tăng sinh mạch, đánh giá sự lan rộng khối u tuyến giáp vào cấu trúc lân cận

và di căn hạch. [15]

1.2.2.1 Chụp xạ hình tuyến giáp và xạ hình tồn thân.

- Chụp xạ hình tuyến giáp là phương pháp để đánh giá chức năng và

hình thái của tuyến giáp và nhân giáp. Thường được chỉ định khi bệnh nhân

có TSH thấp. Phần lớn UTTG không bắt xạ và biểu hiện bằng hình ảnh nhân

lạnh, nhưng phần lớn nhân lạnh là u lành, nang tuyến. Vì vậy chụp xạ hình

tuyến giáp ít có giá trị xác định bản chất u và còn có thể bỏ sót khối u có kích

thước nhỏ [16]. Ở Việt Nam thường xạ hình với I-131 hoặc Tc-99m. Kết quả

xạ hình có thể là nhân tăng chức năng (nhân nóng): Tăng bắt chất phóng xạ,

gặp ở 10% bướu giáp nhân, hầu hết là lành tính; hay nhân giảm chức năng

(nhân lạnh): giảm bắt chất phóng xạ, có nguy cơ ung thư khoảng 5% và nhân

ấm bắt tương đương mơ xung quanh. Do đó với những BN có TSH thấp, xạ

hình là nhân nóng thì có thể không cần chọc hút tế bào bằng kim nhỏ.

- Chụp xạ hình tồn thân rất có ích trong việc xác định di căn xa,

tái phát sau điều trị.[17]

1.2.4 Tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ

1.2.4.1 Vai trò

- Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ có vai trò quan trọng trong chẩn đốn



các khối u giáp, có thể áp dụng cho mọi tuyến giáp to, bình năng trước khi

phẫu thuật. Đây là xét nghiệm tốt nhất để phát hiện các khối u tuyến giáp với

kĩ thuật đơn giản, thực hiện nhanh, ít tốn kém, độ nhạy, độ đặc hiệu cao, an

tồn ít gây tai biến.[9]



9



- Theo DeMay, trước khi chưa sử dụng phương pháp chọc hút tuyến giáp



bằng kim nhỏ, trong số các bệnh nhân được phẫu thuật chỉ có khoảng 15 - 25 %

là các u ác tính. Phẫu thuật tuyến giáp có rất nhiều tai biến nghiêm trọng thậm

chí có thể tử vong. Cùng với các phương pháp chẩn đoán khác, việc sử dụng

phương pháp chọc hút kim nhỏ đã làm giảm 50% số trường hợp phẫu thuật và

tăng gấp đôi tỷ lệ UTTG được phẫu thuật. Một số báo cáo cho thấy tỷ lệ chẩn

đốn dương tính về tế bào học đối với các ung thư tuyến giáp đạt 85 - 90%.

Với những bác sỹ giàu kinh nghiệm độ chính xác của chẩn đốn có thể đạt tới

95% hoặc hơn với các mẫu thỏa đáng.[18]

- Chọc hút tuyến giáp dưới sự hướng dẫn siêu âm được chỉ định với những

nhân nhỏ, nhân ở sâu không sờ thấy được, các khối có thành phần nang > 25%,

các khối đã chọc hút trước đó mà bệnh phẩm khơng thỏa đáng, những khối có

đặc điểm siêu âm gợi ý ác tính (echo kém, bờ khơng đều, vi vơi hóa…).

- Tuy nhiên, chọc hút kim nhỏ cũng bộc lộ một số giới hạn:

+ Nếu không được huấn luyện về kĩ thuật có thể chọc hút khơng đạt

được đủ số tế bào để chẩn đốn.

+ Chọc hút mù có thể khơng chọc trúng nếu kích thước u q nhỏ

+ Có thể dẫn đến một số tai biến như chọc quá sâu vào khí quản, chọc

vào mạch máu, đau, nhiễm trùng, chảy máu trong, shock vagal…

+ Không thể phân biệt được ung thư tuyến giáp dạng nang và u tuyến

tuyến giáp dạng nang do không thể đánh giá dấu hiệu xâm nhập mạch, xâm

nhập vỏ trên tế bào học.[12]

1.2.4.2 Các kĩ thuật chọc hút kim nhỏ[1]:

- Có 2 kĩ thuật chọc hút kim nhỏ là chọc hút dưới hướng dẫn của tay

(hay còn gọi là chọc mù) và chọc hút dưới hướng dẫn siêu âm.

- Khi so sảnh về giá trị của hai kĩ thuật, một số nghiên cứu cho thấy rằng

chọc hút dưới hướng dẫn siêu âm có ưu thế hơn chọc mù ở một số điểm như:

+ Độ chính xác của chọc mù là 60,9% trong khi chọc dưới hướng dẫn

siêu âm là 80%. Nhờ có siêu âm, độ nhạy, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên

đoán âm gia tăng đáng kể.



10



+ Tỉ lệ mẫu không thỏa đáng giảm từ 11,2% (trong nhóm chọc mù)



xuống 7,1% (trong nhóm chọc dưới hướng dẫn siêu âm). Tỉ lệ ác tính của nhân

khơng sờ được trên lâm sàng được phát hiện nhờ siêu âm (5,1%) tương đương với

tỉ lệ ác tính của các nhân được chọc mù (6,8%)

- Tuy nhiên, về mặt kinh phí ban đầu thì chọc hút dưới hướng dẫn siêu

âm cao hơn chọc hút mù.

1.2.5 Mơ bệnh học và hóa mơ miễn dịch

Chẩn đốn mơ bệnh học trên các bệnh phẩm phẫu thuật vẫn rất cần

thiết và quan trọng bởi vì việc xác định lại chẩn đốn và định típ mơ bệnh

học, xem xét tính chất và mức độ xâm nhập. Giúp các nhà lâm sàng lựa chọn

phương pháp điều trị bổ sung thích hợp. Hầu hết các khối u tuyến giáp được

chẩn đoán dễ dàng bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn mô bệnh học.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc chẩn đốn và xác định típ mơ

bệnh học có thể khá tinh tế, bao gồm những khối u có giới hạn, có xâm nhập

tối thiểu vỏ xơ, tổn thương di căn từ nơi khác đến, những biến thể nang và

biến thể tế bào ưa acid của UTBM thể nhú và UTBM thể tủy. Những trường

hợp này cần nhuộm hóa mơ miễn dịch để hỗ trợ cho chẩn đoán.

Một số kháng thể thường dùng trong chẩn đoán các u tuyến giáp [24]:

- TTF-1: Ở tuyến giáp tính bắt màu của nhân với TTF-1 được thấy trong

các tổn thương lành tính và ác tính có nguồn gốc từ tế bào nang tuyến và

UTBM thể tủy.

- Thyroglobulin: Là một dấu ấn miễn dịch có độ nhạy cao với các tế bào

có nguồn gốc từ nang tuyến, âm tính trong UTBM tủy.

- Calcitonin: UTBMTG thể tủy và tế bào C dương tính với calcitonin,

cùng với CEA, chromogranin, synaptophysin, calcitonin là các dấu ấn có giá

trị trong chẩn đốn UTBM thể tủy.

- HBME-1: Là một kháng thể đơn dòng, được coi là một dấu ấn quan

trọng phát hiện tính chất ác tính trong các u tuyến giáp, kể cả ung thư biệt hóa

và kém biệt hóa, đặc biệt trong UTBM nang.



11



- Ngồi ra một số kháng thể khác cũng được dùng trong chẩn đoán u tuyến

giáp như: các Cytokeratin, chromogranin, synaptophysin, CEA, P53, Ki67…

1.2.6 Sinh học phân tử

Đánh giá đột biến gen RAS trong các mẫu tế bào học nang tuyến giáp khơng

ghi nhận đột biến. Kết quả này có giá trị phát hiện các tổn thương dạng nang

(trong đó có carcinơm). Những trường hợp tế bào khơng điển hình có ý nghĩa

khơng xác định, bao gồm cả carcinơm dạng nhú có thể được phát hiện qua một số

xét nghiệm phân tử như BRAF, RET/PTC, PAX8/PPAR gama và RAS. Một số

dấu ấn khác có độ nhạy cao cũng được kiểm tra. Xét nghiệm tìm đột biến gen

BRAF trong các mẫu tế bào học khơng điển hình hoặc khơng xác định có thể hữu

ích trong chẩn đốn carcinơm tuyến giáp dạng nhú. Ngồi ra, sự hiện diện của u

tuyến có kèm đột biến gen BRAF có ý nghĩa tiên lượng và dự báo các biến chứng

sau điều trị. Bệnh có kèm đột biến này thường tiến triển và không đáp ứng điều trị

bằng iod phóng xạ do suy giảm khả năng hấp thụ iod. Hơn nữa, liệu pháp mới

nhắm mục tiêu đến gen BRAF đã được sử dụng thành công trong một số ung thư

biểu mô tuyến giáp.

Kết hợp tế bào học tuyến giáp và các xét nghiệm phân tử góp phần làm tăng

tần suất chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp. Tuy nhiên, một số trường hợp tế bào khơng

điển hình âm tính với các dấu ấn phân tử có thể dẫn đến bỏ sót một số trường hợp

ác tính.

1.3. Phân loại tế bào học trong bệnh lý tuyến giáp

Trước khi hệ thống Bethesda ra đời, đã có nhiều bất cập về mặt thuật ngữ

chẩn đoán tế bào như việc khác nhau về thuật ngữ chẩn đốn giữa các la bơ

với nhau, thiếu sự chuẩn hóa giữa các thuật ngữ chẩn đốn, việc sử dụng

chồng chéo giữa các thuật ngữ chẩn đoán tế bào học và mô bệnh học, gây cản

trở việc chia sẻ dữ liệu giữa các phòng thí nghiệm với nhau.

Để giải quyết vấn đề về thuật ngữ và các vấn đề các liên quan đến chọc hút

tuyến giáp, Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ đã tổ chức một hội nghị khoa học



12



về tình trạng chọc hút kim nhỏ tuyến giáp. Hội nghị này diễn ra vào ngày 22 –

23 tháng 10 năm 2007 tại Bethesda với sự tham gia của các chuyên gia về

lĩnh vực giải phẫu bệnh, nội tiết, ngoại khoa và hình ảnh học. Những thành

viên tham gia hội nghị đã thừa nhân tầm quan trọng của việc thống nhất một

thuật ngữ chung về báo cáo kết quả tế bào học tuyến giáp và đã đề xuất hệ

thống về chẩn đoán tế bào học tuyến giáp dựa trên cảm hứng từ hệ thống

Bethesda chẩn đoán tế bào học cổ tử cung. Kết quả cuộc hội nghị đã cho ra

đời “Hệ thống Bethesda chẩn đoán tế bào học tuyến giáp” với thuật ngữ súc

tích, tiêu chuẩn hình thái học rõ rang, đầy đủ nguy cơ ác tính đối với từng

nhóm chẩn đốn, được chấp nhận rộng rãi bởi nhiều chuyên khoa, hữu ích

cho các nhà lâm sàng trong việc quản lý và điều trị bệnh nhân có nhân giáp.

Năm 2018, Bảng phân loại Bethesda lại được cập nhật dựa trên những

nghiên cứu về bảng phân loại 2007 trong thực hành lâm sàng. [20], [21]

BẢNG PHÂN LOẠI BETHESDA 2018

I. Khơng đủ tiêu chuẩn chẩn đốn (Nondiagnostic or Unsatisfactory)

Nhóm này được lập ra nhằm loại bỏ các tiêu bản không đạt yêu cầu về:

- Chất lượng: phết quá dày, nhiều máu, cố định kém

- Số lượng: không đủ tế bào nang giáp (<6 nhóm tế bào nang giáp, mỗi

nhóm <10 tế bào) hoặc chỉ chứa đại thực bào (hay còn gọi là mô bào).

Tuy nhiên tiêu chuẩn này sẽ được miễn áp dụng đối với 3 trường hợp sau:

- Tiêu bản chứa các tế bào nang giáp khơng điển hình dù số lương ít.

- Chứa nhiều lympho bào, bạch cầu đa nhân, tế bào dạng biểu mô và đại

bào vẫn được xem là đủ tiêu chuẩn chẩn đốn (nhóm II) dù chỉ chứa ít

tế bào nang giáp.

- Chứa tồn keo dù đặc hoặc lỗng (lấy từ phình giáp đa hạt) cũng đủ

tiêu chuẩn chẩn đốn (nhóm II) dù chỉ chứa ít tế bào nang giáp.



13



Cố định kém.



Phết quá dầy, máu che khuất

tế bào nang giáp.



Chỉ tồn hồng cầu.



Chỉ có mơ bào.



Hình 1.1: Các tiêu bản khơng đủ tiêu chuẩn [2]

II. Lành tính

Các bệnh lý thường gặp cho hình ảnh tế bào học lành tính:

- Nhân dạng nang lành tính (bao gồm nốt dạng u tuyến, nhân keo, …)

- Viêm giáp giàu lympho bào (Hashimoto) đa dạng về tế bào, gồm các tế

bào nang giáp bình thường và nhiều đám phẳng 2 chiều tạo bởi các tế bào

Hurthle có nhân lớn, hạt nhân rõ, bào tương nhiều và dạng hạt. Nền tiêu bản

nhiều lympho bào, tương bào, các đám mô bào- lympho bào và đại thực bào

ăn thể bắt màu và có thể có đại thực bào nhiều nhân.

- Viêm giáp bán cấp, viêm giáp mạn tính. Khác…

III. Tế bào khơng điển hình, ý nghĩa khơng xác định hoặc tổn

thương dạng nang, ý nghĩa không xác định (Atypia of undetermined

significance or Follicular lesion of undetermined significance)



14



Nhóm này dùng để chỉ những mẫu tế bào học chứa những tế bào với đặc

điểm cấu trúc khơng điển hình hoặc đặc điểm nhân khơng điển hình, khơng

đủ tiêu chuẩn để xếp vào nhóm nghi ngờ. Có một trong các tiêu chuẩn sau:

- Cấu trúc vi nang chiếm ưu thế trong mẫu chọc hút nhưng không đủ tiêu

chuẩn của u dạng nang

- Mật độ tế bào ít nhưng tế bào Hurthle chiếm ưu thế

- Hình ảnh tế bào nang giáp khơng điển hình do q trình chuẩn bị mẫu

- Hình ảnh khu trú gợi ý ung thư tuyến giáp thể nhú trong mẫu chọc hút

lành tính

- Tế bào lót nang giáp có đặc điểm khơng điển hình

- Một nhóm nhỏ tế bào nang giáp nhân lớn, hạt nhân rõ

- Nhiều lympho khơng điển hình nhưng mức độ khơng điển hình khơng

đủ để nghi ngờ ác tính

IV.U tuyến giáp dạng nang hoặc Nghi ngờ u tuyến giáp dạng nang

(Follicular neoplasm or Suspicious for a follicular neoplasm)

- Do việc xác định hiện tượng xâm nhập của tế bào u vào vỏ bao hoặc

mạch máu là điều không thể trên tiêu bản tế bào học nên FNAC chỉ có thể

chẩn đốn nghi ngờ 1 tổn thương dạng cục của tuyến giáp là u tuyến giáp

dạng nang chứ không phân biệt được là lành tính hay ác tính.

Trên tiêu bản thấy: Giàu tế bào. Các tế bào nang giáp sắp xếp chồng lên

nhau tạo thành đám đặc hoặc bè 3 chiều và rất nhiều cấu trúc nang giáp nhỏ

(> 50%) với kích thước khá đồng đều, mỗi nang chỉ có 6-12 tế bào nang.

Khơng có các đám phẳng hình tổ ong. Các tế bào nang giáp có nhân tròn, tăng

sắc nhẹ và ít bào tương. Khơng có chất keo trên nền tiêu bản.

- U tuyến tế bào Hurthle được xem là 1 biến thể của u tuyến giáp dạng

nang. Việc phân biệt lành tính ác tính cũng dựa trên sự xâm nhập tế bào u vào

vỏ bao và mạch máu. Nên chẩn đoán cũng là nghi ngờ u tế bào Hurthle.

Tiêu bản tồn tế bào Hurthle có nhân tròn, hạt nhân lớn, bào tương nhiều

dạng hạt xếp rời rạc hoặc tạo thành đám nhỏ 3 chiều chứ không kết đám

phẳng 2 chiều như trong viêm giáp Hashimoto. Nền tiêu bản khơng có chất

keo, khơng có lympho bào và tương bào.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tỡnh hỡnh mc bnh tuyn giỏp v mt s c im dch t hc tuyn giỏp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×