Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Đặc điểm vi khuẩn ở BN nghiên cứu

3 Đặc điểm vi khuẩn ở BN nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

41



Đánh giá cụ thể ở từng nhóm BN, tỉ lệ tìm được căn ngun ở ba nhóm

BN của chúng tơi có sự khác biệt. Trong đó nhóm HAP có 53/ 84 BN (63,1%)

được ni cấy định danh vi khuẩn, có 21 BN (39,6%) dương tính. Trong

nhóm HCAP 79 BN (60,3%) được nuôi cấy định danh vi khuẩn cho kết quả

14 BN (17,7%) dương tính.Trong nhóm CAP có 225 BN (52,7%) được nuôi

cấy định danh vi khuẩn, cho kết quả dương tính là 35 BN (15,6%). Các

nghiên cứu tại Hàn Quốc, Mỹ [48],[63] cũng cho thấy tỉ lệ tìm được căn

nguyên ở nhóm BN HAP cao nhất, sau đó là HCAP, và thấp nhất là CAP.

Nguyên nhân có thể do đối với những BN HAP, bệnh nhân đang điều trị bệnh

lí khác tại bệnh viện nên khi xuất hiện triệu chứng của HAP đều được lấy xét

nghiệm trước khi sử dụng kháng sinh, cũng có thể do BN HAP thường nặng

nên thường được áp dụng các biện pháp lấy bệnh phẩm tích cực hơn, kịp thời

hơn, cũng có thể do vi khuẩn gây HAP có độc lực cao nên khơng bị tiêu diệt

bởi các kháng sinh thơng thường. Còn đối với nhóm BN CAP, đa số các bệnh

nhân đều khơng vào viện ngay mà đã điều trị kháng sinh trước đó tại các bệnh

viện tư, bệnh viện tuyến dưới, hoặc tự ý điều trị, độc lực vi khuẩn gây CAP có

thể khơng cao, còn nhạy với những kháng sinh thơng thường nên có thể đã bị

tiêu diệt bởi điều trị kháng sinh trước khi lấy bệnh phẩm.

So sánh riêng từng nhóm, trong nhóm HAP tỉ lệ BN được lấy bệnh phẩm

làm xét nghiệm là 63,1%, tỉ lệ tìm được vi khuẩn là 39,6%. Tỉ lệ này cũng

tương tự với nghiên cứu của tác giả Nieves Sopena 2005 [64] trên 165 BN

HAP không nằm trong ICU cho thấy tỉ lệ cấy dương tính 36,4%.

Trong nhóm CAP, tỉ lệ được làm xét nghiệm tìm vi khuẩn của chúng tơi

tương tự với nghiên cứu của Ngô Quý Châu năm 2003 [41] trên 257 BN được

chẩn đốn CAP điều trị tại Trung tâm Hơ hấp bệnh viện Bạch Mai có 144 BN

được làm xét nghiệm chiếm 56%. Tuy nhiên tỉ lệ xét nghiệm vi khuẩn dương

tính của chúng tơi thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả (15,6% so với



42



38,9%). Điều này có thể giải thích bởi sự sử dụng kháng sinh trước vào viện

ngày càng tăng.

Trong nghiên cứu của Tạ Thị Diệu Ngân năm 2016 [51] trên 142 BN

nhập viện vì CAP tỉ lệ bệnh nhân phát hiện căn nguyên là 62% khi sử dụng cả

PCR, huyết thanh học và ni cấy tìm vi khuẩn. Kết quả phát hiện căn nguyên

là 40,1% nếu chỉ sử dụng nuôi cấy đơn thuần. Kết quả này cao hơn của chúng

tôi rất nhiều, chúng tôi cho rằng nguyên nhân khác biệt bởi tác giả sử dụng

phương pháp nghiên cứu tiến cứu: Tác giả giám sát, áp dụng các quy trình

chuẩn từ thu thập bệnh phẩm, tiếp nhận xử lí bệnh phẩm, thực hiện xét

nghiệm, đánh giá kết quả.

Qua đây chúng tôi nhận thấy rằng để tăng tỉ lệ phân lập được vi khuẩn

nên lấy xét nghiệm trước khi sử dụng kháng sinh cho BN, cần lấy bệnh phẩm,

bảo quản đúng quy trình, đạt tiêu chuẩn, áp dụng nhiều phương pháp xét

nghiệm chẩn đoán vi khuẩn học tốt hơn và vận dụng các phương pháp hiện

đạy để độ nhạy, độ đặc hiệu cao hơn.

4.3.1.2 Tỉ lệ phân lập được vi khuẩn trên những bệnh phẩm khác nhau

Trong nghiên cứu của chúng tơi (biểu đồ 3.8), có 328/ 357 BN (51,1%)

được nuôi cấy và định danh vi khuẩn bằng bệnh phẩm đờm, chiếm tỉ lệ cao

nhất trong các bệnh phẩm. Tỉ lệ dương tính của phương pháp cấy đờm trong

nghiên cứu của chúng tôi là 13,7%. Trong nghiên cứu về CAP của Ngô Quý

Châu 2004 [41] tỉ lệ cấy đờm là 68,7%, tỉ lệ dương tính là 37,4%, nghiên cứu

của Nguyễn Thanh Hồi 2003 [70], tỉ lệ xét nghiệm đờm là 74%, kết quả

dương tính là 81,58% [70]. Trong nghiên cứu của Nieves Sopena 2005 [64]

cấy đờm được thực hiện ở 53,95% BN. So sánh kết quả nghiên cứu của chúng

tơi với các nghiên cứu trên có sự thấp hơn rõ rệt về cả số bệnh phẩm đờm và

tỉ lệ phân lập được căn nguyên. Chúng tôi cho rằng sự khác nhau này do việc

sử dụng kháng sinh bừa bãi trước vào viện, kĩ thuật lấy đờm không đảm bảo,



43



đờm khơng đạt tiêu chuẩn, có nhiều BN vào viện tuổi cao, nghiện rượu, nhiều

bệnh đồng mắc, cho nên BN ho khạc đờm kém, ảnh hưởng đến chất lượng

đờm. Ngoài ra, kết quả cấy đờm còn ảnh hưởng bởi việc vận chuyển, bảo

quản đờm. Thực tế ở các bệnh viện tuyến Trung ương ở nước ta luôn phải đối

mặt với tình trạng quá tải, thiếu nhân viên y tế, nên việc chuẩn bị BN còn

chưa kĩ lưỡng, sau khi có bệnh phẩm thì việc gửi bệnh phẩm chưa đảm bảo

trong thời gian quy định.

Nuôi cấy máu là một trong những xét nghiệm quan trọng được chỉ định

để xác định nguyên nhân gây bệnh ở những bệnh nhân viêm phổi nặng, tuy

nhiên tỉ lệ cấy máu dương tính thường chỉ 5%- 14% [42]. Tỉ lệ cấy máu

dương tính của chúng tơi lần lượt ở các nhóm BN HAP, HCAP, CAP là

17,0%, 4,4%, 6,5%. Tỉ lệ cấy máu dương tính ở nhóm HAP tương tự các

nghiên cứu trong và ngoài nước [60],[71]. Tỉ lệ cấy máu dương tính ở nhóm

HCAP và CAP của chúng tôi tương đương với các nghiên cứu của tác giả

Nguyễn Thanh Hồi 2003 là 10,5% [70] và Ngô Quý Châu 2004 là 7,4% [41],

thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà 2015 [24] với tỉ lệ dương

tính là 19,4% với CAP và 18,5% với HCAP. Tuy tỉ lệ tìm được căn nguyên

thấp nhưng độ đặc hiệu của phương pháp này lại cao, do vậy cần có biện pháp

tăng tỉ lệ dương tính của cấy máu như lấy máu trong cơn sốt, lấy máu nhiều vị

trí và lấy máu trước khi sử dụng kháng sinh.

Tỉ lệ dương tính của ni cấy và phân lập vi khuẩn trên bệnh phẩm dịch

phế quản của chúng tôi là 5,8%, tỉ lệ này trong nghiên cứu của Ngô Quý Châu

2004 [41] là 57,1%, trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hồi 2003 [70] là

18,92%. Tỉ lệ dương tính phụ thuộc vào vùng phổi lấy mẫu xét nghiệm, trình

độ kĩ thuật viên, sử dụng kháng sinh trước đó. Trong nghiên cứu của chúng

tôi, việc lấy dịch phế quản chỉ áp dụng khi BN tình trạng hơ hấp được đảm

bảo, sau khi BN đã điều trị kháng sinh không đỡ, xuất hiện biến chứng, hoặc



44



cần chẩn đốn phân biệt. Do đó tỉ lệ dương tính có thể thấp hơn so với các

nghiên cứu này.

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 42 BN làm xét nghiệm dịch màng

phổi, tất cả đều cho kết quả âm tính. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà

2015 [24] xét nghiệm nuôi cấy dịch màng phổi đều cho kết quả âm tính.

Như vậy, xét nghiệm đờm thực hiện đơn giản, dễ lấy, không cần kĩ thuật

xâm lấn, tuy tỉ lệ tạp nhiễm cao nhưng nếu hướng dẫn BN tốt, lấy đờm đạt

chuẩn, bảo quản và làm xét nghiệm đúng quy trình thì đây vẫn là bệnh phẩm

quan trọng và có giá trị để chỉ định trong chẩn đốn căn nguyên.

4.3.2 Số chủng vi khuẩn cấy được trên một BN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 70 BN phân lập được vi khuẩn thì 66

BN (91,4%) cấy ra một chủng vi khuẩn, 5 BN (7,1%) tìm được 2 chủng, 1BN

(1,4%) tìm được 3 chủng. 100% sự kết hợp giữa các chủng đều là Gram âm

(bảng 3.3). Một số tác giả cho rằng viêm phổi chỉ có một tác nhân gây bệnh,

phân lập được 2 vi khuẩn có độc lực là hiếm. Sự phát triển của chủng này thì

chủng khác bị ức chế, trừ khi hít phải vi khuẩn với số lượng lớn, đa tác nhân

hay tác nhân thứ 2 chỉ là vi khuẩn thường trú ở đường hô hấp trên [71],[72].

Trong 6 BN phân lập ra ≥ 2 tác nhân, 5/6 BN tìm được 2 vi khuẩn từ

bệnh phẩm đờm, 4 BN có kết quả điều trị đỡ, 1 BN có kết quả điều trị nặng

nên gia đình xin về tuy nhiên BN này thuộc nhóm HCAP và trên BN này có

bệnh lí nền là lupus ban đỏ hệ thống và đang có đợt cấp, hệ miễn dịch suy

giảm. 1/6 BN tìm được 2 tác nhân gây bệnh từ bệnh phẩm dịch phế quản,

thuộc nhóm HAP, có kết quả điều trị bệnh nặng xin về. Do đó chúng tơi cho

rằng, có thể ở những BN có kết quả điều trị ổn định mà 2 căn nguyên tìm

được ở vi khuẩn đờm là do bệnh phẩm đã bị tạp nhiễm, dẫn tới tình trạng

dương tính giả bác sỹ lâm sàng cần chú ý xem lại kết quả cấy. Nếu thực sự bị

nhiễm 2 vi khuẩn thì cần điều trị tích cực vì bệnh diễn biến thường nặng.



45



4.3.3 Căn nguyên gây viêm phổi ở các nhóm BN

Trong nghiên cứu của chúng tơi, căn nguyên thường gặp ở cả 3 nhóm là

Gram âm nhất là ở nhóm HAP (86,4%) và HCAP (93,75%), tỉ lệ này thấp hơn

ở nhóm CAP (79,45%). Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trong

và ngoài nước [24],[48],[60],[73]. Do đó, khi thực hành lâm sàng, đối với

những trường hợp viêm phổi do vi khuẩn không rõ nguyên nhân cụ thể các

bác sỹ cần cho KSBĐ bao phủ cả vi khuẩn gram âm.

Kết quả của chúng tôi cho thấy, trong nhóm HAP ba chủng vi khuẩn

thường gặp là A. baumannii 50%, K. pneumoniae 13,6%, S. aureus 13,6%.

Trong nhóm HCAP P. aeruginosa và A. baumannii là hai căn nguyên chính

với tỉ lệ lần lượt là 37,5%, 31,3%. Trong nhóm CAP căn nguyên thường gặp

là P. aeruginosa (20,5%), K. pneumonia (17,9%) và S. pneumoniae (10,25%)

(bảng 3.4). Kết quả này cho thấy tác nhân gây bệnh của nhóm HCAP có cả

đặc điểm của CAP và HAP.

Nguyễn Thị Minh Châu 2007 [74] nghiên cứu trên 61 BN mắc HAP tại

các khoa của bệnh viện Bạch Mai: Trong đó 3 tác nhân chủ yếu là A.

baumanni 28,2%, P. aeruginosa 20,0%, K. pneumoniae 16,5%.

Nghiên cứu của tác giả Ngô Quý Châu 2004 tại trung tâm Hơ Hấp Bệnh

viện Bạch Mai [41] trên nhóm CAP cho kết quả ba chủng gặp nhiều nhất là K.

pneumoniae 25,4%, P.aeruginosa 22,4%, và S. pneumoniae 17,9% kết quản

này tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà 2015 tại khoa Cấp cứu Bệnh viện

Bạch Mai [24] căn ngun gây bệnh chính ở nhóm HCAP là A. baumannii

(20,7%), K. pneumoniae (7,8%) và P. aeruginosa (6,9%). Ở nhóm CAP là E.

coli 10,9%, P. aeruginosa 9,3%, K. pneumoniae 6,3%.



46



Nghiên cứu của Ma Thị Hường năm 2015 tại bệnh viện tuyến tỉnh [68]

cho kết quả 3 căn nguyên hay gặp nhất ở CAP là S. pneumoniae 25,0%, H.

influenza 16,7%, K. pneumoniae 12,5% .

Ở châu Á, nghiên cứu của tác giả Hong Yeul 2016 [48] của Hàn Quốc

trên cả ba nhóm BN CAP, HCAP, HAP cho thấy: Ở nhóm HAP S. aureus

44,8%, P. aeruginosa 24,1%, K. pneumoniae 24,1%. Ở nhóm HCAP K.

pneumoniae 45,6%, S. aureus chiếm 26,1%, E. coli 15,3%. Ở nhóm CAP S.

aureus 37,8%, K. pneumoniae 23,3%, P. aeruginosa 10,8%. Kết quả này cho

thấy S. aureus xuất hiện ở cả 3 nhóm BN, MSSA xuất hiện thường xuyên hơn

trong nhóm CAP. MRSA xuất hiện thường xuyên hơn trong nhóm HAP.

Trong nghiên cứu của Manella tại châu Âu 2007 [42] căn nguyên xuất

hiện nhiều nhất ở nhóm HAP là P. auruginosa 28,6%, Enterobacteriaceae

23,8%, S. aureus 19,0%. Trong nhóm HCAP S. pneumoniae 38,5%, P.

aeruginosa 16,9%, S. aureus 13,8%. Trong nhóm CAP S. pneumoniae chiếm

63,5%, sau đó là Enterobacteriaceae 11,5%, và L. pneumophila 7,4%.

Kết quả này cho thấy, có sự khác nhau về mơ hình vi khuẩn giữa các địa

điểm nghiên cứu, các tuyến điều trị, các khoa, các khu vực nghiên cứu và từng

thời điểm nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên vẫn có một số nguyên nhân chung

hay gặp ở nhóm CAP vẫn là S.pneumoniae, ở HAP là A. baumannii hay gặp

nhất và ở HCAP có cả những chủng hay gặp ở HAP và chủng hay gặp ở CAP.

Việc nghiên cứu đánh giá ở từng khu vực và thời gian cụ thể sẽ cho kết quả cập

nhật hơn. Nghiên cứu của chúng tơi cỡ mẫu còn nhỏ chưa đại diện được cho

quần thể nghiên cứu, do đó cần nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn.



47



4.3.4 Đặc điểm kháng kháng sinh của vi khuẩn

4.3.4.1 Đặc điểm kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân theo nhóm

bệnh nhân

Trong tổng số các chủng vi khuẩn chúng tơi nghiên cứu thì tỉ lệ đa kháng

chiếm 43,9% (MDR 14,1%, XDR 21,1%, PDR 12,7%) (biểu đồ 3.9).Nghiên

cứu của tác giả Silpi Basak 2016 [75] trên 1060 chủng vi khuẩn được phát

hiện trên các bệnh nhân tại các khoa nội trú và ICU. Tỉ lệ đa kháng là 50,9 %

(MDR 37,1%, XDR 13,8% và khơng có PDR).

Trong từng nhóm BN nghiên cứu, nhóm HAP tỉ lệ các chủng vi khuẩn đa

kháng chiếm tỉ lệ cao 81% (MDR 4,8%, XDR 42,9%, PDR 33,3%). Nhóm

HCAP tỉ lệ này là 50% (MDR 7,1%, XDR 35,7%, PDR 7,1%). Nhóm CAP tỉ

lệ đa kháng là 27,8% (MDR 22,2%, XDR 2,8%, PDR 2,8%), kết quả này cho

thấy có sự khác biệt rõ ràng về tính kháng kháng sinh của vi khuẩn giữa 3

nhóm. Trong Y văn đã ghi nhân sự khác biệt giữa nhóm HAP và CAP, còn sự

khác biệt của HCAP và CAP, HAP chưa rõ ràng. Nghiên cứu của chúng tôi

ghi nhận tỉ lệ đa kháng ở HCAP cao gần gấp đôi so với CAP, điều này cho

thấy sự cần thiết của phân loại BN theo nhóm viêm phổi để giúp lựa chọn

KSBĐ phù hợp.

Nghiên cứu của Hong Yeul và cộng sự [48] tỉ lệ vi khuẩn đa kháng ở

nhóm HAP là 79,3% tương tự với nghiên cứu của chúng tơi, tỉ lệ vi khuẩn đa

kháng ở nhóm HCAP là 39,1%, CAP là 13,5% thấp hơn so với nghiên cứu

của chúng tôi.

Nghiên cứu của Lê Tiến Dũng 2016 [76] nghiên cứu trên 376 BN HAP

điều trị tại bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM cho thấy có 58,6% chủng vi

khuẩn đa kháng, trong đó MDR 24,4%, XDR 31,4%, PDR 2,8%. Số chủng đa

kháng trong nghiên cứu của tác giả thấp hơn của chúng tôi. Số chủng PDR

cũng thấp hơn.



48



Nghiên cứu của Manella và cộng sự 2007 [42] tỉ lệ đa kháng ở HAP là

2,9%, HCAP là 3,6%, và CAP là 0,7%. Tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều so với kết

quả của nghiên cứu chúng tôi. Như vậy sau gần 10 năm tính kháng kháng sinh

của vi khuẩn đã tăng lên rất nhiều, chúng ta ngày càng yếu thế. Một trong

những ngun nhân gây tình trạng đó là lạm dụng kháng sinh của BN và cả

thầy thuốc làm phát triển các chủng đa kháng, thậm chí tồn kháng.

4.3.4.2 Phân bố tính kháng kháng sinh theo từng chủng vi khuẩn

 Kết quả kháng sinh đồ của Acinetobacter baumannii (bảng 3.5)

Từ năm 2004, vi khuẩn A. baumannii đã đứng vị trí thứ nhất về nguyên

nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện ở bệnh viện Bạch Mai, vào thời điểm đó vi

khuẩn này còn nhạy nhiều với imipenem và aminoglycosid [21] từ đó đến nay

đã xuất hiện nhiều chủng kháng thuốc. Theo báo cáo của tác giả Đoàn Mai

Phương, năm 2011 A. baumannii đã kháng meropenem 65%, ceftazidime

69%, ciprofloxacin 77,2% [20].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỉ lệ kháng imipenem ở nhóm HAP là

100%, HCAP 80%, CAP 50%, tỉ lệ kháng ceftazidime lần lượt là 100%,

100%, 100%, tỉ lệ kháng ciprofloxacin là 100%, 80%, 100%. Các chủng A.

baumanni ở ba nhóm BN còn nhạy với nhóm cycline. Các chủng A. baumanni

ở nhóm HCAP và CAP còn nhạy cảm với nhóm ức chế β- lactamase.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà 2015 [24] trong nhóm HCAP các

chủng này kháng với imipenem đạt 90%- 95%, ceftazidime 95%,

ciprofloxacin 90%, còn nhạy cảm với nhóm cyclin 50%- 70%. Kết quả này

tương tự với kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Theo tác giả Tạ Thị Diệu

Ngân nghiên cứu trên CAP năm 2015 [51] A. baumannii kháng với imipenem

35,7%, ceftazidime 45,4%, còn nhạy cảm với ức chế β- lactamase.

Kết quả này cho thấy sự tăng nhanh về tính kháng kháng sinh của A.

baumannii, giải thích cho vấn đề này nhiều nghiên cứu đã chứng minh chúng



49



có thể cùng một lúc kháng lại nhiều loại kháng sinh, do vi khuẩn mang nhiều

gen kháng thuốc nằm trên plasmid và từ một chủng A. baumannii mang gen

kháng thuốc này có thể truyền cho một chủng A. baumannii (cùng loài) hoặc

một vi khuẩn khác (khác loài) khả năng kháng nhiều loại thuốc kháng sinh

của nó [77].

Trong lựa chọn kháng sinh điều trị đối với các chủng A. baumanii có sự

khác nhau giữa nhóm HAP, HCAP và CAP. Đối với HAP, HCAP việc điều trị

kháng sinh ngày càng khó khăn, hầu hết đã kháng với các kháng sinh được

làm, cần phải tìm thêm các kháng sinh có tác động hiệp đồng hoặc làm thêm

các xét nghiệm với colistin để đưa ra phác đồ phù hợp. Đối với A. baumanii

gây CAP, còn 50% nhạy với carbapenem, cycline, nên chúng ta có thể bắt đầu

KSBĐ với carbapenem + doxycycline hoặc minocycline.

 Kết quả kháng sinh đồ K. pneumoniae (bảng 3.6)

Trong nhóm HAP K. pneumoniae còn nhạy cảm với kháng sinh nhóm

amikacin 100%, gentamycin 66,7%. Theo nghiên cứu của Lê Tiến Dũng 2015

[76] K. pneumoniae còn nhạy cảm 90% với amikacin, các kháng sinh nhóm

Cephalosporin tỉ lệ kháng > 70%.

Trong nhóm CAP K. pneumoniae nhạy cảm cao với các kháng sinh, còn

trong nhóm HCAP K. pneumoniae kháng với cepholosporin, quinolon,

aminoglycosid. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà

2015 [24]. Trong nghiên cứu trên 21 chủng K. pneumoniae gây CAP của tác giả

Tạ Thị Diệu Ngân 2016 [51] 100% các chủng này vẫn còn nhạy cảm với

aztreonam, cefipim, ciprofloxacin, levofloxacin, amikacin, ertapenem. Với các

kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 và nhóm ức chế β- lactamase tỷ lệ nhạy cảm

trên 90%. Kết quả này cũng tương đương với nghiên cứu của chúng tôi.

Như vậy đối với K. pneumoniae gây CAP chúng ta vẫn còn nhiều lựa

chọn, việc sử dụng cephalosporin 3 vẫn là một lựa chọn kháng sinh ban đầu.



50



Đối với K. pneumoniae gây HAP và HCAP, chúng khá giống nhau về kết quả

KSĐ, việc lựa chọn kháng sinh chỉ thu hẹp trong một số nhóm gồm

aminoglycosid, fosmycin. Cho nên việc xác định rõ nhóm viêm phổi là rất cần

thiết trong việc lựa chọn KSBĐ hợp lí, tránh làm gia tăng thêm tình trạng

kháng thuốc.

 Kết quả KSĐ của P. aeruginosa (bảng 3.7)

Trong nhóm HCAP P. aeruginosa kháng 40% với imipenem, còn nhạy

cảm trên 75% các kháng sinh còn lại. Trong nhóm CAP P. aeruginosa nhạy

cảm cao với các nhóm kháng sinh. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà

2015 [24] ở nhóm CAP tỉ lệ kháng kháng sinh thấp. Ở nhóm HCAP

P.aeruginosa đã kháng trên 60% với nhóm carbapenem, trên 80% với nhóm

cephalosporin 3, 4. Sự khác nhau giữa kết quả KSĐ của P. aeruginosa gây

HCAP và CAP cho thấy sự cần thiết để phân loại các nhóm viêm phổi giúp

cho việc lựa chọn KSBĐ hợp lí.

 Kết quả KSĐ của S. aureus (bảng 3.8)

Trong nghiên cứu của chúng tơi ở nhóm HAP có S. areus còn nhạy cảm

cao với linezolid. Ở nhóm CAP S. aureus còn nhạy cảm cao với các loại

kháng sinh. Kết quả nghiên cứu trên CAP của Nguyễn Thị Thu Hà 2015 [24]

cũng cho thấy vi khuẩn S. aureus còn nhạy cảm cao với linezolid,

vancomycin, levofloxacin và co- trimoxazol.

4.4 Kết quả điều trị

Tỉ lệ tử vong- xin về ở nhóm HAP là 29,8% cao hơn so với nhóm CAP

(16,9%) với p < 0.05. Khơng có sự khác biệt giữa HAP và HCAP (19.1%),

khơng có sự khác biệt giữa nhóm HCAP và CAP (bảng 3.9).

Nghiên cứu của Giannella và cộng sự 2012 [4] tỉ lệ tử vong của nhóm

HAP là 26,9%, HCAP là 18,9%, nhóm CAP 7,8% kết quả này tương tự với



51



nghiên cứu của chúng tôi. Nghiên cứu của tác giả Hong Yeul 2016 [48] tỉ lệ tử

vong ở nhóm HAP là 43,5%, HCAP là 27,0%, CAP là 28,0% cao hơn so với

nghiên cứu của chúng tơi. Có thể giải thích điều này là do độ tuổi nhóm

nghiên cứu của tác giả cao hơn so với độ tuổi trung bình của chúng tơi. Tác

giả Chalmer năm 2011 có đề cập đến vấn đề bệnh nhân có tuổi cao hơn, nhiều

bệnh kèm hơn, nguy cơ sặc hơn và hạn chế điều trị hơn nên tỉ lệ tử vong cao

hơn [22].

Điều trị kháng sinh khi khơng có chẩn đốn xác định vi khuẩn gây viêm

phổi khơng phải là vơ hại, vì nó có thể tạo điều kiện để phát triển những vi

khuẩn kháng thuốc. Người ta cũng thấy sự liên quan trực tiếp giữa tiêu thụ

kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn. Tuy nhiên trong điều

kiện cấy vi khuẩn tỉ lệ mọc rất thấp, việc điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm

là rất quan trọng, là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến kết quả điều trị, do đó cần

thiết phải đưa ra một phác đồ điều trị ban đầu thích hợp cho các BN viêm

phổi nói chung và BN viêm phổi tại Trung tâm Hô Hấp nói riêng, giúp cải

thiện hiệu quả điều trị của BN, giảm tỉ lệ tử vong, góp phần tránh gia tăng

tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn.



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 642 BN chẩn đoán viêm phổi điều trị tại Trung tâm Hô

hấp bệnh viện Bạch Mai từ 01/1/2015 đến 31/12/2015, chúng tôi rút ra một số

kết luận như sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đặc điểm vi khuẩn ở BN nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×