Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân nghiên cứu

2 Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

38



phổi tiến hành tại bệnh viện tuyến tỉnh của tác giả Ma Thị Hường 2015 [68] ,

Nguyễn Thị Thúy An 2016 [69] đều cho kết quả 3 triệu chứng hay gặp là sốt,

ho khạc đờm và đau ngực. Chúng tôi cho rằng sự khác biệt này do bệnh viện

Bạch Mai là bệnh viện tuyến cuối của miền Bắc, thường tiếp nhận những BN

nặng, điều trị ở các tuyến trước không đỡ, hoặc bệnh nặng lên và có biến

chứng chuyển đến. Do đó trong khi thực hành lâm sàng, lúc tiếp nhận BN các

bác sĩ cần chú ý đánh giá triệu chứng, đặc biệt là tình trạng khó thở của BN

tránh để xảy ra tình trạng suy hơ hấp.

Qua đây nhận thấy rằng các triệu chứng cơ năng khiến bệnh nhân vào

viện cũng như các dấu hiệu gợi ý chẩn đoán viêm phổi vẫn là ho đờm, khó

thở, sốt. Tuy nhiên các triệu chứng này khơng đặc hiệu cho chẩn đốn vì ho

đờm, khó thở có thể gặp nếu BN có các bệnh lí hơ hấp cũng như tim mạch

khác, sốt cũng gặp nhiều ở các bệnh lí nhiễm trùng khác nên khó phân biệt,

do đó chúng ta khơng thể chỉ đánh giá một triệu chứng riêng lẻ mà phải kết

hợp với sự xuất hiện của nhiều triệu chứng từ đó hướng tới xét nghiệm cần

làm tiếp theo để có chẩn đốn xác định.

4.2.2 Tính chất đờm

Màu sắc đờm thường gợi ý đến nguyên nhân gây bệnh. Trong cả 3 nhóm

BN ho đờm màu trắng đục chiếm tỉ lệ cao nhất, màu xanh và màu vàng chiếm

tỉ lệ thấp hơn, màu rỉ sắt chiếm tỉ lệ thấp nhất (biểu đồ 3.5). Khơng có sự khác

biệt về tỉ lệ màu sắc đờm giữa ba nhóm bệnh nhân. Các con số này cũng phù

hợp với nghiên cứu của Nguyễn Hoài Anh 2010 tỉ lệ đờm trắng đục chiếm tỉ

lệ cao nhất với 47,7%, đờm xanh 15,9% [60]. Tỉ lệ màu sắc đờm này cũng

phù hợp với biểu hiện đờm của viêm phổi do vi khuẩn.



39



4.2.3 Triệu chứng thực thể

Trong nghiên cứu của chúng tôi 3 triệu chứng thường gặp nhất là ran nổ,

ran ẩm và rì rào phế nang giảm. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu

của các tác giả Ngô Quý Châu 2004 [41], Nguyễn Thị Thu Hà 2015 [24].

Hội chứng đơng đặc có thể khám thấy tại một phân thùy hoặc một thùy

phổi, một hoặc cả hai bên phổi. Đây là hội chứng đặc trưng của bệnh lý viêm

phổi. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của chúng tôi (biểu đồ 3.6) chỉ có 13 BN

(2,0%) có hội chứng này, chủ yếu là trong nhóm CAP (10 BN) và HCAP (3

BN). Nguyên nhân có thể do đây là hội chứng tương đối khó phát hiện, do

nhận định chủ quan của từng cá nhân, có thể nhầm lẫn với hội chứng ba giảm

do đó bác sỹ lâm sàng cần thăm khám thêm, kết hợp cùng các triệu chứng

khác nếu không rõ cần chỉ định cận lâm sàng để phát hiện bệnh sớm, tránh bỏ

sót bệnh, làm giảm tỉ lệ biến chứng và tử vong.

Ran nổ, ran ẩm là ran hay gặp trong viêm phổi, trong nghiên cứu của

chúng tôi ran nổchiếm tỉ lệ cao (74,8%) và có sự khác biệt về tần suất xuất

hiện triệu chứng này ở ba nhóm BN: HAP 83,3%, HCAP 83,2%, CAP 70,5%.

Ran nổ, ran ẩm biểu hiện tình trạng viêm tại nhu mơ phổi. Tần suất xuất hiện

các triệu chứng này rất cao, triệu chứng này một lần nữa được khẳng định.Tỉ

lệ ran ẩm trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn ran nổ rất nhiều (40,5% so

với 74,8%).

Nhiều bệnh nhân có bệnh lí có thể nghe phổi có tiếng ran mà khơng phải

viêm phổi như giãn phế nang, phù phổi cấp…và nhiều bệnh nhân có những

hình thái viêm phổi mà khơng xuất hiện ran như viêm phổi kẽ. Trong nghiên

cứu của chúng tơi có từ 20%- 30% BN không xuất hiện ran tại phổi, do đó

nghe phổi có ý nghĩa chẩn đốn thấp. Dù vậy trong quá trình theo dõi bệnh

nhân, bác sỹ lâm sàng vẫn phải nghe phổi hàng ngày để đánh giá, so sánh tìm

nguyên nhân nếu xuất hiện tiếng ran mới.



40



Hội chứng ba giảm phản ánh tình trạng có dịch trong khoang màng phổi.

Có 4,7%- 9,9% BN có triệu chứng này như vậy tình trạng viêm phổi có thể kèm

theo viêm màng phổi và phản ứng màng phổi, do vậy cần đánh giá hội chứng

này để đưa ra hướng điều trị hợp lí tránh biến chứng tràn mủ màng phổi.

4.3 Đặc điểm vi khuẩn ở BN nghiên cứu

4.3.1 Đặc điểm xét nghiệm nuôi cấy định danh vi khuẩn

4.3.1.1 Tỷ lệ phân lập được vi khuẩn trên số bệnh nhân làm xét nghiệm tìm vi khuẩn

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 357/642 BN được lấy bệnh phẩm

nuôi cấy định danh vi khuẩn chiếm 55,6% (bảng 3.2). Như vậy tỉ lệ này chỉ

chiếm một nửa số BN trong nghiên cứu, trong khi đó định danh được vi

khuẩn rất quan trọng trong quá trình lựa chọn kháng sinh điều trị. Gần một

nửa số BN còn lại khơng được làm xét nghiệm, ngun nhân có thể do không

lấy được bệnh phẩm như: BN không khạc được đờm hoặc đờm không đạt tiêu

chuẩn, không lấy được máu do BN khơng có cơn sốt khi nhập viện, không lấy

được dịch phế quản do BN không đủ điều kiện hoặc không đồng ý làm nội soi

phế quản… Do đó, vấn đề giải thích, chuẩn bị bệnh nhân, giáo dục sức khỏe

hướng dẫn bệnh nhân để có thể lấy được bệnh phẩm đúng quy trình đóng vai

trò rất quan trọng trong nâng cao tỉ lệ tìm ra căn nguyên để điều trị chính xác,

hiệu quả, giảm tỉ lệ tử vong cho BN.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi có 70 BN (19,6%) cho kết quả dương

tính (biểu đồ 3.7). So sánh với nghiên cứu của Manella và cộng sự [4] trên

các BN nhập viện vì viêm phổi tỉ lệ dương tính của chúng tơi thấp hơn so với

của tác giả (19,6% so với 28,7%). Sự khác biệt có thể do trong nghiên cứu

của chúng tôi định danh vi khuẩn chỉ sử dụng một kĩ thuật xét nghiệm, còn

trong nghiên cứu của tác giả có áp dụng thêm một số kĩ thuật hiện đại như

PCR và huyết thanh học tìm vi khuẩn.



41



Đánh giá cụ thể ở từng nhóm BN, tỉ lệ tìm được căn ngun ở ba nhóm

BN của chúng tơi có sự khác biệt. Trong đó nhóm HAP có 53/ 84 BN (63,1%)

được nuôi cấy định danh vi khuẩn, có 21 BN (39,6%) dương tính. Trong

nhóm HCAP 79 BN (60,3%) được nuôi cấy định danh vi khuẩn cho kết quả

14 BN (17,7%) dương tính.Trong nhóm CAP có 225 BN (52,7%) được nuôi

cấy định danh vi khuẩn, cho kết quả dương tính là 35 BN (15,6%). Các

nghiên cứu tại Hàn Quốc, Mỹ [48],[63] cũng cho thấy tỉ lệ tìm được căn

nguyên ở nhóm BN HAP cao nhất, sau đó là HCAP, và thấp nhất là CAP.

Nguyên nhân có thể do đối với những BN HAP, bệnh nhân đang điều trị bệnh

lí khác tại bệnh viện nên khi xuất hiện triệu chứng của HAP đều được lấy xét

nghiệm trước khi sử dụng kháng sinh, cũng có thể do BN HAP thường nặng

nên thường được áp dụng các biện pháp lấy bệnh phẩm tích cực hơn, kịp thời

hơn, cũng có thể do vi khuẩn gây HAP có độc lực cao nên khơng bị tiêu diệt

bởi các kháng sinh thơng thường. Còn đối với nhóm BN CAP, đa số các bệnh

nhân đều khơng vào viện ngay mà đã điều trị kháng sinh trước đó tại các bệnh

viện tư, bệnh viện tuyến dưới, hoặc tự ý điều trị, độc lực vi khuẩn gây CAP có

thể khơng cao, còn nhạy với những kháng sinh thơng thường nên có thể đã bị

tiêu diệt bởi điều trị kháng sinh trước khi lấy bệnh phẩm.

So sánh riêng từng nhóm, trong nhóm HAP tỉ lệ BN được lấy bệnh phẩm

làm xét nghiệm là 63,1%, tỉ lệ tìm được vi khuẩn là 39,6%. Tỉ lệ này cũng

tương tự với nghiên cứu của tác giả Nieves Sopena 2005 [64] trên 165 BN

HAP không nằm trong ICU cho thấy tỉ lệ cấy dương tính 36,4%.

Trong nhóm CAP, tỉ lệ được làm xét nghiệm tìm vi khuẩn của chúng tơi

tương tự với nghiên cứu của Ngô Quý Châu năm 2003 [41] trên 257 BN được

chẩn đốn CAP điều trị tại Trung tâm Hơ hấp bệnh viện Bạch Mai có 144 BN

được làm xét nghiệm chiếm 56%. Tuy nhiên tỉ lệ xét nghiệm vi khuẩn dương

tính của chúng tơi thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả (15,6% so với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×