Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

34



đồ 3.1).

Tỉ lệ gặp HCAP trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự với nghiên cứu

của tác giả Kollef và cộng sự năm 2005 [58] tiến hành trên 4543 BN viêm

phổi do vi khuẩn trong đó có 20% là HCAP, và nghiên cứu trên 727 bệnh

nhân nhập viện vì viêm phổi từ Barcelona [59] trong đó 17,2% HCAP.

Nghiên cứu của chúng tơi có sự khác biệt với các nghiên cứu của tác giả

Hong Yeul Lee và cộng sự năm 2015 [48] trên 195 BN nhập viện được chẩn

đoán viêm phổi có 38,1% CAP, 37,6% HCAP và 24,4% HAP và nghiên cứu đa

trung tâm của tác giả Giannella M và cộng sự [4] trên 930 BN trong đó CAP

58,9%, HCAP 30,6%, HAP là 10,5%. Điều này có thể giải thích do nước ta

chưa phát triển các cơ sở điều trị ngoại trú, cơ sở điều trị ban ngày, các dịch vụ

chăm sóc liên quan đến y tế như các nước phát triển cho nên tỉ lệ HCAP có thể

thấp hơn so với các nghiên cứu này. Hơn nữa, nghiên cứu của chúng tơi là hồi

cứu, nên thơng tin về chăm sóc y tế trước vào viện của bệnh nhân còn chưa đầy

đủ, có thể dẫn đến nhầm lẫn trong phân loại HCAP thành CAP.

Tuy nhiên với kết quả này, chúng tôi thấy rằng tỉ lệ bệnh nhân HCAP

chiếm 20,4% cũng là một con số khá lớn để các bác sĩ lâm sàng lưu ý trong

quá trình khai thác bệnh sử của bệnh nhân lúc vào viện để chẩn đốn bệnh

chính xác và đưa ra điều trị ban đầu thích hợp.

4.1.2 Phân bố theo giới

Chúng tôi nghiên cứu trên 642 BN viêm phổi tỉ lệ nam giới chiếm

56,9%, tỉ lệ nữ chiếm 43,1 % (p< 0,05) (biểu đồ 3.2). Trong nhóm HAP tỉ lệ

này là 66,7% nam, 33,3% nữ, tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Hoài

Anh (2010) với tỉ lệ nam là 60%, nữ là 40% [60]. Tỉ lệ nam giới trong nhóm

HCAP là 55,7% và tỉ lệ nam giới của nhóm CAP 55,3 % kết quả này tương tự

với các nghiên cứu tiến hành ở Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản [23],[61],[62].



35



Trong nghiên cứu của Mario và cộng sự năm 2013 [63] tỉ lệ nam giới ở

nhóm HAP là 63,3%, HCAP là 62,2%, CAP là 58,8% p > 0,05. Nghiên cứu

của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả về tỉ lệ và sự

khác biệt trong tỉ lệ nam giới giữa ba nhóm. HAP có xu hướng có tỉ lệ nam

giới cao hơn nhóm HCAP, và tỉ lệ nam giới ở HCAP có xu hướng cao hơn

CAP (66,7%, 55,7%, 55,3%, p> 0,05).

Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nam giới có xu hướng mắc các

bệnh về hơ hấp hơn nữ giới bởi vì ở nam giới có liên quan đến các yếu tố làm

gia tăng tỉ lệ viêm phổi như thuốc lá, thói quen uống rượu. Thuốc lá làm giảm

hoạt động của lông chuyển biểu mô phế quản, ức chế chức năng đại thực bảo

của phế nang, phì đại và quá sản tế bào chế nhày. Uống rượu thường xuyên

làm thay đổi về các chủng vi khuẩn sinh sống tại vùng hầu họng, gia tăng các

vi khuẩn gram âm như K. pneumonia đây là loại vi khuẩn có độc tính cao, dễ

gây viêm phổi, người nghiện rượu khả năng ho khạc kém do rượu cũng là một

chất an thần gây ngủ nên phổi bị ứ đọng đờm dãi nhiều và người nghiện rượu

cũng hay bị trào ngược dạ dày thực quản, mang theo những vi khuẩn dưới

đường tiêu hóa lên, thêm nữa khi vi khuẩn xâm nhập đến phổi thì hệ miễn

dịch của người nghiện rượu lại hoạt động rất yếu. Do đó, nghiện rượu làm

tăng nguy cơ mắc viêm phổi lên 3- 4 lần. Trong nghiên cứu của chúng tơi có

59,2% BN nam có hút thuốc lá, 20,2% BN nam có uống rượu, trong khi tỉ lệ

hút thuốc lá và uống rượu ở nữ giới là 0%. Điều này giải thích tại sao tỉ lệ

mắc viêm phổi ở nam giới trong nghiên cứu lại cao hơn so với nữ giới.

4.1.3 Tuổi mắc bệnh

Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 61,4 ± 17,6 tuổi. Tuổi

trung bình của nhóm HAP là cao nhất 66,1± 16,6 tuổi. Tuổi trung bình của

HCAP là 62,9 ± 17,6 tuổi thấp hơn so với tuổi trung bình của HAP và cao hơn



36



so với tuổi trung bình của nhóm CAP 60 ± 17,8 tuổi. Sự khác biệt có ý nghĩa

với p = 0,007 (bảng 3.1).

Tuổi trung bình trong nghiên cứu về HAP của Nieves Sopena và cộng sự

2005 [64] tuổi trung bình là 63,7 ± 16,9 tuổi tương đương với độ tuổi trung

bình trong nhóm HAP của chúng tơi.

Ở nghiên cứu của tác giả Micek 2007, tuổi trung bình của nhóm CAP là

57± 16,7 thấp tuổi trung bình của nhóm HCAP là 59,8 ± 18,5 [61]. Trong

nghiên cứu của tác giả Seong và cộng sự tại Hàn Quốc năm 2014, tuổi trung

bình của nhóm CAP là 69 cũng thấp hơn tuổi trung bình của nhóm HCAP là

74 với p< 0,001 [23]. Tác giả Chalmer ở Anh [22] cũng đưa ra con số tuổi

trung bình của nhóm CAP là 65 ít hơn so với tuổi trung bình của nhóm HCAP

là 76 với p< 0,001.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở nhóm HAP tỉ lệ số bệnh nhân trên

65 tuổi cao gấp 2 lần nhóm tuổi dưới 65 (p < 0,05). Các nhóm HCAP số bệnh

nhân tuổi trên 65 có xu hướng cao hơn tuổi dưới 65. Trong nhóm CAP tỉ lệ

BN > 65T cũng chiếm tỉ lệ cao (biểu đồ 3.3). Các nghiên cứu trong và ngoài

nước cũng cho thấy tỉ lệ người già mắc viêm phổi ngày càng tăng. Nghiên

cứu của M. M. Abel- Fattah [65] trên 211 bệnh nhân HAP cũng cho thấy

nhóm tuổi trên 65 chiếm 37,9% . Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà trên

262 bệnh nhân chẩn đoán viêm phổi tại khoa Cấp cứu bệnh viện Bạch Mai tỉ

lệ bệnh nhân trên 65 tuổi ở nhóm CAP là 56,7%, HCAP là 66% [24]. Tình

trạng bệnh lí nền, vấn đề dinh dưỡng và các rối loạn về nuốt liên quan đến

tuổi già được cho là yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ mắc mới cho CAP ở người

già [66]. Người già có nhiều bệnh lí đồng mắc nên nguy cơ mắc HCAP tăng

lên. Trong quá trình điều trị bệnh lí có sẵn, BN dễ bị bội nhiễm, khả năng mắc

HAP cũng tăng lên.



37



Nghiên cứu của Mario năm 2015 [63] cho thấy độ tuổi trung bình của

HAP là 79,9 tuổi, HCAP là 77,4 tuổi, CAP là 73,9 tuổi. Như vậy tuy có sự

khác biệt về độ tuổi trung bình do đặc điểm về tiến bộ chăm sóc y tế giữa

nước ta và phương Tây nhưng nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy sự tương

đồng với nghiên cứu của chúng tôi về sự khác biệt về tuổi mắc bệnh của các

nhóm bệnh nhân.

4.2 Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân nghiên cứu

4.2.1 Triệu chứng cơ năng và toàn thân

Trong các triệu chứng cơ năng ba triệu chứng ho đờm, khó thở và sốt

đều gặp ở 3 nhóm với tỉ lệ cao. HAP ho đờm 73,8%, khó thở 82,1%, sốt

69,0%, HCAP ho đờm 72,5%, khó thở 71,0%, sốt 57,3%, CAP ho đờm

72,5%, khó thở 56,9%, sốt 61,8% (biểu đồ 3.4).

Trong nghiên cứu của Mario và cộng sự 2013 [63] ba triệu chứng này cũng

gặp với tỉ lệ cao HAP sốt 49%, khó thở 49%, ho đờm 34,7%, HCAP sốt 45,5%,

khó thở 70,0%, ho đờm 36,7%. CAP sốt 62,8%, khó thở 69%, ho đờm 32%.

Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà về

HCAP và CAP [24] và Phí Thị Thục Anh về CAP [67] trong đó ho đờm là

triệu chứng chiếm tỉ lệ cao nhất ở cả 2 nhóm CAP và HCAP, cao thứ 2 ở

nhóm HCAP.

Triệu chứng khó thở ở nhóm HAP và HCAP cao hơn có ý nghĩa thống kê

so với tỉ lệ BN khó thở ở nhóm CAP. Điều này là phù hợp vì HAP thường

biểu hiện nặng hơn so với HCAP, CAP. Nghiên cứu của Giannella và cộng sự

[4] cũng cho thấy triệu chứng khó thở ở nhóm HAP 88,5% cao hơn HCAP

82,4% và CAP 74% với p < 0,001. Tuy nhiên theo Y văn, ba triệu chứng

thường gặp của viêm phổi là sốt, ho khạc đờm và đau ngực. Khó thở xuất hiện

khi có tổn thương phổi nặng, lan tỏa. So sánh với các nghiên cứu về viêm



38



phổi tiến hành tại bệnh viện tuyến tỉnh của tác giả Ma Thị Hường 2015 [68] ,

Nguyễn Thị Thúy An 2016 [69] đều cho kết quả 3 triệu chứng hay gặp là sốt,

ho khạc đờm và đau ngực. Chúng tôi cho rằng sự khác biệt này do bệnh viện

Bạch Mai là bệnh viện tuyến cuối của miền Bắc, thường tiếp nhận những BN

nặng, điều trị ở các tuyến trước không đỡ, hoặc bệnh nặng lên và có biến

chứng chuyển đến. Do đó trong khi thực hành lâm sàng, lúc tiếp nhận BN các

bác sĩ cần chú ý đánh giá triệu chứng, đặc biệt là tình trạng khó thở của BN

tránh để xảy ra tình trạng suy hơ hấp.

Qua đây nhận thấy rằng các triệu chứng cơ năng khiến bệnh nhân vào

viện cũng như các dấu hiệu gợi ý chẩn đoán viêm phổi vẫn là ho đờm, khó

thở, sốt. Tuy nhiên các triệu chứng này khơng đặc hiệu cho chẩn đốn vì ho

đờm, khó thở có thể gặp nếu BN có các bệnh lí hơ hấp cũng như tim mạch

khác, sốt cũng gặp nhiều ở các bệnh lí nhiễm trùng khác nên khó phân biệt,

do đó chúng ta khơng thể chỉ đánh giá một triệu chứng riêng lẻ mà phải kết

hợp với sự xuất hiện của nhiều triệu chứng từ đó hướng tới xét nghiệm cần

làm tiếp theo để có chẩn đốn xác định.

4.2.2 Tính chất đờm

Màu sắc đờm thường gợi ý đến nguyên nhân gây bệnh. Trong cả 3 nhóm

BN ho đờm màu trắng đục chiếm tỉ lệ cao nhất, màu xanh và màu vàng chiếm

tỉ lệ thấp hơn, màu rỉ sắt chiếm tỉ lệ thấp nhất (biểu đồ 3.5). Khơng có sự khác

biệt về tỉ lệ màu sắc đờm giữa ba nhóm bệnh nhân. Các con số này cũng phù

hợp với nghiên cứu của Nguyễn Hoài Anh 2010 tỉ lệ đờm trắng đục chiếm tỉ

lệ cao nhất với 47,7%, đờm xanh 15,9% [60]. Tỉ lệ màu sắc đờm này cũng

phù hợp với biểu hiện đờm của viêm phổi do vi khuẩn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×