Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Đặc điểm huyết học và sinh hóa của hai nhóm trước phẫu thuật

3 Đặc điểm huyết học và sinh hóa của hai nhóm trước phẫu thuật

Tải bản đầy đủ - 0trang

66



Bảng 3.19. Nồng độ glucose máu trước phẫu thuật

Các chỉ tiêu



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



P



Nồng độ glucose



5,46 ± 1,54



5,25 ± 1,57



> 0,05



Nhận xét: Nồng độ glucose máu trung bình ở hai nhóm đều trong mức giới

hạn bình thường.

Bảng 3.20: Protein tồn phần và Albumin trước phẫu thuật

Các chỉ tiêu



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



P



Protein TP



72,31 ± 4,25



72,15 ± 3,60



>0,05



Albumin



41,01 ± 4,75



40,68 ± 3.54



>0,05



Nhận xét: Nồng độ protein toàn phần và albumin máu trung bình ở hai nhóm

đều ở trong mức giới hạn bình thường.

Bảng 3.21: Nồng độ Triglycerid và Cholesteron trước phẫu thuật

Các chỉ tiêu

Tryglycerid

Cholesteron



Nhóm chứng

1,7 ± 0.6

4,8 ± 1,2



Nhóm can thiệp

1,65 ± 0,45

4,9 ± 1,1



P

>0,05

>0,05



Nhận xét: Nồng độ tryglycerid và cholesteron trung bình ở hai nhóm đều ở

trong mức giới hạn bình thường.



67



3.4. Khả năng dung nạp của các bệnh nhân được nuôi dưỡng sớm qua

đường miệng

Bảng 3.22: Phân bố thời gian nuôi dưỡng đường ruột

Bệnh nhân



Thời điểm nuôi dưỡng



n

10

9

11



≤ 12

12-24

>24h



%

33,33%

30%

36,67%



Nhận xét: Các bệnh nhân được nuôi dưỡng sớm qua đường miệng từ 24-48 h

sau phẫu thuật. Thời điểm bắt đầu nuôi dưỡng gồm ≤ 12h, 12-24h, và > 24h.



Biểu đồ 3.4. Phân bố thời gian nuôi dưỡng sớm qua đường miệng

Bảng 3.23. Khả năng dung nạp của nuôi dưỡng sớm bằng đường miệng

Dung nạp

Buồn nôn

Nôn, trào ngược

Chướng hơi

Tiêu chảy

Dung nạp tốt



n

1

2

2

0

26



%

3,33%

6,66%

6,66%

0

86,68%



Nhận xét: Trong 30 bệnh nhân được nuôi dưỡng sớm qua đường miệng, có 1

trường hợp buồn nơn, 2 trường hợp nôn, trào ngược, 2 trường hợp chướng

hơi. Các bệnh nhân sau đó đều được giảm tốc độ ni dưỡng và hút bớt dịch

tồn dư dạ dày. 1 trường hợp buồn nơn và 1 trườn hợp nơn trào ngược sau đó



68



đã dung nạp tốt và khơng xảy ra phản ứng gì. 3 trường hợp còn lại khơng thấy

chuyển biến tốt lên đã được chuyển sang nuôi dưỡng tĩnh mạch.

Bảng 3.24: Liên quan giữa thời điểm bắt đầu nuôi dưỡng và khả năng

dung nạp

Thời điểm nuôi

dưỡng

≤ 12

12-24

>24h



Dung nạp tốt



Dung nạp không

tốt

0

1

4



10

8

7



P

P<0,05



Nhận xét: Các trường hợp được bắt đầu nuôi dưỡng sớm ≤ 12h đều dung nạp

tốt và không xảy ra phản ứng gì. Các trường hợp được bắt đầu ni dưỡng

qua đường miệng sớm 12-24h có 1 trường hợp bị chướng hơi. Các trường hợp

được bắt đầu nuôi dưỡng sớm > 24h có 1 trường hợp buồn nơn, 2 trường hợp

nơn, trào ngược và 1 trường hợp chướng hơi.

Bảng 3.25. Liên quan giữa lượng dịch tồn dư trong dạ dày và thời điểm

bắt đầu nuôi dưỡng

Thời điểm nuôi dưỡng



Tồn dư sau 2h



Tồn dư sau 24h



≤ 12



30,3 ± 8,69



35,3 ± 8,1



12-24



50,78 ± 11,76



70,78 ± 18,82



>24h



95 ± 20,06



147 ± 45,95



Nhận xét: Những bệnh nhân được bắt đầu ni dưỡng đường ruột càng sớm

thì có lượng dịch tồn dư dạ dày càng ít và ngược lại. Có 2 bệnh nhân được

ni dưỡng sau 24h có lượng dịch tồn dư dạ dày > 200 ml.



69



Biểu đồ 3.5. Thể tích tồn dư của dạ dày ở các thời điểm

3.5. Biến đổi các chỉ tiêu dinh dưỡng sau phẫu thuật

Bảng 3.26: Biến dổi các chỉ tiêu dinh dưỡng

Các chỉ tiêu



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



P



Thay đổi cân nặng



2,03 ± 1,00



1,50 ± 0,72



> 0,05



Thay đổi BMI



0,79 ± 0,38



0,61 ± 0,31



> 0,05



Nhận xét: Trọng lượng bệnh nhân và BMI giảm ở cả hai nhóm sau phẫu thuật

so với trước phẫu thuật.



70



3.6. Thay đổi các chỉ tiêu sinh hóa, huyết học sau phẫu thuật

Bảng 3.27. Thay đổi số lượng Hồng cầu và Hemoglobin sau phẫu thuật

Các chỉ tiêu



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



P



Số lượng HC



4,15 ± 0,57



4,17 ± 4,77



>0,05



Hemoglobin



117,53 ± 12,49



120,53 ± 14,57



>0,05



Nhận xét: Số lượng HC và Nồng độ Hemoglobin giảm ở cả hai nhóm sau

phẫu thuật so với trước phẫu thuật.

Bảng 3.28. Thay đổi nồng độ glucose máu sau phẫu thuật

Các chỉ tiêu



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



P



Nồng độ glucose



5,83 ± 0,79



5,84 ± 0,99



>0,05



Nhận xét: Nồng độ Glucose máu tăng lên ở cả hai nhóm sau phẫu thuật so

với trước phẫu thuật.

Bảng 3.29: Thay đổi Protein TP và Albumin sau phẫu thuật

Chỉ tiêu



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



P



Protein toàn phần



68,69 ± 3,69



67,60 ± 3,77



>0,05



Albumin



38,44 ± 4,22



38,89 ± 3,37



>0,05



Nhận xét: Nồng độ protein toàn phần và albumin giảm ở cả hai nhóm sau

phẫu thuật so với trước phẫu thuật.



71



Bảng 3.30: Thay đổi Cholesteron và Triglycerid sau phẫu thuật

Chỉ tiêu



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



p



Tryglycerid



1,8 ± 0.6



1,75 ± 0,45



>0,05



Cholesteron



4,9 ± 1,01



4,93 ± 1,12



>0,05



Nhận xét: Nồng độ Tryglycerid và cholesteron ở hai nhóm khơng khác biệt

có ý nghĩa thống kê.

3.7. Biến chứng ở hai nhóm

Bảng 3.31. Một số biến chứng của nhóm can thiệp và nhóm chứng

Biến chứng



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



n



%



n



%



Sốt



4



13,33%



3



10%



Đái khó



2



6,67%



3



10%



Nhiễm trùng vết mổ



2



6,67%



1



3,33%



Nhiễm trùng tiết niệu



2



6,67%



1



3,33%



Tắc ruột



0



0



0



0



Viêm phổi



1



3,33



0



0



P



>0,05



Nhận xét: Nhóm nghiên cứu can thiệp có 8 trường hợp biến chứng, có 3 bệnh

nhân bị sốt, xét nghiệm có BC cao > 10000. Các bệnh nhân này đều được

được xét nghiệm nước tiểu và chụp phổi nhưng khơng có bất thường gì. Có 3

bệnh nhân đái khó sau khi rút sonde bàng quang và có cầu bàng quang và sau

đó được đặt lại. 1 bệnh nhân nhiễm trùng vết mổ đã được chúng tơi chăm sóc

vết mổ cẩn thận, và kéo theo thời gian nằm viện của bệnh nhân đó dài ra là 20

ngày, 1 bệnh nhân nhiễm trùng tiết niệu đã được đổi kháng sinh sang nhóm

quinolon và sau đó ổn định. Nhóm chứng cũng có 4 bệnh nhân sốt nhưng diễn

biến khơng có gì đặc biệt và đều được điều trị ổn định. Có 2 bệnh nhân đái



72



khó sau khi rút sonde bàng quang và đã được đặt lại. Có 2 bệnh nhân bị

nhiễm trùng vết mổ và được thay băng cẩn thận và 2 bệnh nhân này cũng có

thời gian nằm viện dài là 23 và 21 ngày. Có 2 bệnh nhân nhóm chứng nhiễm

trùng tiết niệu được chuyển sang dùng kháng sinh nhóm quinonlon và sau đó

diễn biến ổn định. 1 bệnh nhân nhóm chứng bị viêm phổi đã được chuyển

dùng sang Tienam và sau 1 tuần điều trị bệnh nhân cũng khỏi hoàn toàn.

Bảng 3.32: Liên quan giữa thời điểm nuôi dưỡng qua đường miệng và

biến chứng của nhóm can thiệp

Thời điểm bắt



Có biến chứng



Khơng biến chứng



đầu ni dưỡng



n



%



n



%



≤ 12



2



20%



8



80%



12-24



3



33,33%



6



66,67%



>24h



2



18,²%



9



81,82%



P



>0,05



Nhận xét: Khơng có mối liên quan giữa thời điểm ni dưỡng và biến chứng

của nhóm can thiệp. Sự khác biệt là khơng có ý nghĩa thống kê.



73



3.8. Thời gian có nhu động ruột trở lại và thời gian nằm

viện của hai nhóm

Bảng 3.33. Thời gian xuất hiện nhu động ruột trở lại và thời gian nằm viện

Các chỉ tiêu

Thời gian có nhu

động ruột trở lại

Thời gian nằm viện



Nhóm chứng



Nhóm can thiệp



P



3,1 ± 0,49



2,4 ± 0,42



<0,05



12,76 ± 5,4



10.89 ± 4,09



<0,05



Nhận xét: Thời gian có nhu động ruột trở lại và thời gian nằm viện ở nhóm

can thiệp giảm hơn so với nhóm chứng. Nhóm được ni dưỡng sớm qua

đường miệng có thời gian nằm viện lâu nhất là 20 ngày của bệnh nhân bị

nhiễm trùng vết mổ. Nhóm được ni dưỡng tĩnh mạch có trường hợp nằm

viện lâu nhất là 25 ngày ở bệnh nhân viêm phổi.



74



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng

4.1.1. Giới

Ung thư trực tràng là ung thư thường gặp của đường tiêu hóa. Bệnh gặp

nhiều ở nam giới, ít gặp ở người trẻ tuổi. Theo Nguyễn Văn Hiếu, tỷ lệ

nam/nữ là 1,3; Vũ Đức Long là 1,16; Lâm Việt Trung là 1,5; Leroy và cộng

sự là 1,28; Geoffrery A. Porter là 1,56; K Leung là 1,5. Nghiên cứu của chúng

tơi có 35 nam và 25 nữ, tỷ lệ nam/nữ là 1,4, phù hợp với các tác giả trên.

4.1.2. Tuổi

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tơi là 58,77 ± 12,29, trong

đó cao nhất là 80 tuổi và thấp nhất là 29 tuổi, tỷ lệ mắc ở nhóm tuổi 50 - 70

cao nhất là 56,67%. Theo nghiên cứu của Phạm Như Hiệp tuổi trung bình là

58,5 ± 12,8 tuổi và nhóm tuổi hay gặp là 50 – 70 tuổi. Theo Phạm Văn Bình

và cộng sự, nghiên cứu trên 27 bệnh nhân ung thư trực tràng thấp được PTNS

từ 6/2007 đến 6/2008 tại bệnh viện K thì tuổi trung bình là 58,4.

So với các tác giả nước ngồi, tuổi trung bình của bệnh nhân ở nhóm

nghiên cứu của chúng tơi thấp hơn:

Bảng 4.1. Tuổi trung bình so với một số tác giả nước ngồi

Tác giả

Geoffrey A. Porter

Leroy

K.L.Leung

M.Degiuli và cs

Wen Xi Wu và cs



Năm công bố

1998

2004

2000

2004

2004



Tuổi trung bình

65,1

67,45

62,2

65,1

52,4



Tuổi trung bình của chúng tơi thấp hơn các tác giả nước ngồi có thể

được giải thích như sau: Thứ nhất do tuổi thọ trung bình của người nước

ngồi cao; thứ hai do chúng tôi chủ yếu thống kê trên những bệnh nhân được



75



tiến hành phẫu thuật cắt cụt trực tràng qua đường bụng và tầng sinh môn chứ

không phải tất cả các bệnh nhân ung thư trực tràng. Trong khi đó chỉ định

phẫu thuật của nước ta khơng giống với các nước tiên tiến, phần đông những

bệnh nhân tuổi cao trên 70 tuổi, thể trạng yếu, mắc bệnh phối hợp như đái

đường, tăng huyết áp nên không được phẫu thuật. Chính vì lý do trên mà tuổi

trung bình của chúng tôi thấp hơn là hợp lý.

4.1.3. Thời gian mắc bệnh

Đối với bệnh ung thư nói chung và UTTT nói riêng, việc chẩn đốn

bệnh sớm có ý nghĩa rất quan trọng trong điều trị và tiên lượng bệnh. UTTT ở

nước ta thường được chẩn đoán chậm do bệnh nhân ít quan tâm đến các triệu

chứng đầu tiên trong khi bệnh lại tiến triển một cách âm thầm, tâm lý sợ đi

khám bệnh, tự điều trị bằng thuốc đông y hay do các bác sỹ tuyến y tế cơ sở

chẩn đoán nhầm với các bệnh lý khác như trĩ, lỵ. Theo nghiên cứu của Võ Tấn

Long trên 190 bệnh nhân bị ung thư trực tràng được điều trị tại khoa Ngoại

bệnh viện Chợ Rẫy trong 8 năm từ 1986 đến 1993 thấy 53,7% số bệnh nhân

được phát hiện bệnh trước 6 tháng kể từ khi có triệu chứng đầu tiên. Tại bệnh

viện Việt Đức, theo Nguyễn Xuân Hùng, trong 206 bệnh nhân được phẫu

thuật UTTT từ 1989 - 1996 thời gian phát hiện bệnh trước 6 tháng là 48%,

trước 3 tháng là 25%, trước 1 tháng là 6%, thời gian phát hiện muộn sau 12

tháng là 20%. Theo Vũ Đức Long 65,5% bệnh nhân được chẩn đốn trong

vòng 6 tháng kể từ khi có triệu chứng đầu tiên, 6,9% được chẩn đốn sau 12

tháng. Trong nghiên cứu của chúng tơi có 73,34% bệnh nhân được chẩn đốn

trước 6 tháng, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán trước 3 tháng là 51,67%, bệnh

nhân được chẩn đoán muộn sau 12 tháng chiếm 20%. So với các nghiên cứu

trước tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán trước 6 tháng trong nghiên cứu của

chúng tơi tăng hơn, điều này có thể giải thích rằng các thầy thuốc ở tuyến trước

ngày càng có ý thức hơn trong việc thăm khám khi đứng trước một bệnh nhân



76



đến viện với lý do đại tiện phân nhày máu và bệnh nhân đã quan tâm nhiều hơn

đến sức khỏe của bản thân. Tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ khá lớn bệnh nhân đến

viện và được chẩn đoán muộn sau 12 tháng. Điều này có thể lý giải như sau:

thứ nhất bệnh tiến triển âm thầm, bệnh nhân còn ít quan tâm đến các triệu

chứng khi bệnh mới ở giai đoạn khởi phát. Thứ hai là điều kiện kinh tế còn khó

khăn và sự hiểu biết khơng đầy đủ về bệnh ung thư nói chung và ung thư trực

tràng nói riêng nên dân ta vẫn có thói quen điều trị bằng đông y khi bệnh chưa

ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và khả năng lao động. Thứ ba kiến thức về ung

thư trực tràng của nhân viên y tế cơ sở còn hạn chế, nhiều bác sỹ dễ dàng hài

lòng với chẩn đốn kiết lỵ, trĩ, viêm đại tràng, rối loạn cơ năng đại tràng… Một

thủ thuật đơn giản là thăm trực tràng cũng thường bị bỏ qua mặc dù bệnh nhân

đến khám với biểu hiện ỉa máu, ỉa phân nhày máu, rối loạn tiêu hóa. Với những

chẩn đốn ban đầu này, bệnh nhân được áp dụng các biện pháp điều trị không

thỏa đáng, khi bệnh không khỏi mới tiến hành các biện pháp như thăm trực

tràng, nội soi trực tràng và sinh thiết.

4.1.4. Lý do vào viện

Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tơi có lý do vào viện là

ỉa máu, chiếm tỷ lệ 81,66%. Kết quả này của chúng tôi phù hợp với kết quả

nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hùng (74%), Vũ Đức Long (90,4%). Do đó

đứng trước một bệnh nhân cao tuổi (trên 50 tuổi) vào viện với lý do ỉa máu thì

ta nên phải tiến hành các thăm khám tỉ mỉ như thăm trực tràng, thực hiện các

xét nghiệm cận lâm sàng thích hợp tránh bỏ sót bệnh này.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đặc điểm huyết học và sinh hóa của hai nhóm trước phẫu thuật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×