Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
8 Điều trị di căn xa

8 Điều trị di căn xa

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



bổ trợ, truyền hóa chất qua động mạch gan sẽ hạn chế tái phát, kéo dài thời

gian sống thêm một cách có ý nghĩa.

1.9. Đại cương về dinh dưỡng liên quan phẫu thuật

Bệnh nhân phẫu thuật bệnh lý ống tiêu hóa là những bệnh nhân được

can thiệp ngoại khoa vào một phần, một điểm hay một đoạn của ống tiêu hóa

tính từ điểm bắt đầu của thực quản cho tới ống hậu mơn.

Phẫu thuật đường tiêu hóa là phẫu thuật can thiệp lớn, trong q trình

điều trị, chăm sóc cần được lưu ý, bởi chúng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe

và sự phục hồi của bệnh nhân.

Theo Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng châu Âu ESPEN 2006 thì tỷ lệ suy

dinh dưỡng chiếm 20 - 60% bệnh nhân nằm viện và có đến 30 - 90% bị mất

cân trong thời gian điều trị, trong đó tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở bệnh nhân

phẫu thuật là 40 - 50% [12].

Do đó, vấn đề hỗ trợ dinh dưỡng đầy đủ cho bệnh nhân phẫu thuật

đường tiêu hóa là cơng việc quan trọng và có thể nói là một trong những khâu

quyết định đến thành công trong công tác điều trị.

Sau cuộc phẫu thuật, vấn đề hỗ trợ dinh dưỡng bằng đường miệng vẫn

còn gây nhiều tranh luận, trên thực tế có hai hình thức thường được sử dụng để

ni dưỡng cho bệnh nhân: dinh dưỡng qua đường tiêu hóa (Enteral Nutrition EN) và dinh dưỡng ngồi đường tiêu hóa (Parenteral Nutrition - PN).

Dinh dưỡng qua đường tiêu hóa là phương pháp hỗ trợ tốt nhất phù hợp

với sinh lý, ít biến chứng, niêm mạc ruột được bảo tồn, duy trì được chức

năng ruột, ít bị thẩm lậu vi khuẩn và rẻ tiền hơn so với phương pháp ni ăn

ngồi đường tiêu hóa [13], [14], [15].

Chỉ định dinh dưỡng qua đường tiêu hóa: Khi cần phải hỗ trợ dinh

dưỡng, chức năng ruột còn hoạt động và khơng có chống chỉ định (tắc ruột,

chảy máu ruột cấp, miệng nối mới khơng có rò, sau đại phẫu vùng bụng,

viêm ruột,…).



26



Theo tác giả M.I.T.D Correia và cộng sự [14] nuôi ăn sớm qua đường

tiêu hóa làm giảm thời gian nằm viện sau khi phẫu thuật. Giảm tỷ lệ biến

chứng, giảm tỷ lệ tử vong và chức năng hệ tiêu hóa sớm hoạt động trở lại.

Trong giai đoạn hồi phục có thể cung cấp cho bệnh nhân 25-30 kcal/kg

cân nặng/ngày. Nên cung cấp khoảng 50 - 60% tổng năng lượng khuyến nghị

trên cho bệnh nhân trong 48 - 72h đầu. Hiện nay nhiều nghiên cứu đã cho

thấy rằng nếu sau phẫu thuật bệnh nhân có huyết động ổn định và hệ tiêu hóa

hoạt động tốt thì nên được ni ăn sớm (có thể trong vòng 24h đầu). Mục tiêu

của vấn đề dinh dưỡng sớm qua đường tiêu hóa cho bệnh nhân khơng phải là

đạt đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể mà là cung cấp các dưỡng chất thiết yếu

để ruột điều chỉnh quá trình bệnh lý cũng như chức năng hàng rào bảo vệ ruột.

Bệnh nhân khơng thể tự ăn được thì nên được đặt ống thông nuôi ăn.

Nghiên cứu về đánh giá và hướng dẫn dinh dưỡng trước phẫu thuật

được tiến hành [16], [17], nghiên cứu đã tập trung vào kiểm tra dinh dưỡng và

chế độ dinh dưỡng trước phẫu thuật ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật

tiêu hóa. Can thiệp dinh dưỡng đầy đủ làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng, tỷ lệ biến

chứng, giảm thời gian nằm viện, và chi phí. Tuy nhiên, tại Việt Nam tình

trạng q tải tại các bệnh viện nên các bác sĩ phẫu thuật thường cho bệnh

nhân nhập viện trước phẫu thuật một ngày và tình trạng ni dưỡng bệnh

nhân chưa được đầy đủ.

Dinh dưỡng trước và sau phẫu thuật đường tiêu hóa làm cải thiện kết

quả lâm sàng và giảm chi phí [18], [19]. Cơng thức dinh dưỡng có chứa các

thành phần (glutamine, arginine, axit béo n-3 và axit ribonucleic) rất có lợi

cho các phản ứng stress cấp tính [20], [21], [22], [23].

Sự suy giảm dinh dưỡng được kết hợp với những thay đổi trong cơ thể,

cơ quan chức năng, tình trạng miễn dịch và chức năng cơ bắp đều suy giảm

[24]. Vì vậy, bệnh nhân cạn kiệt dinh dưỡng có nguy cơ biến chứng nhiễm

trùng và suy giảm chức năng tim phổi [25], [26]. Những bệnh nhân trải qua



27



phẫu thuật đường tiêu hóa có nguy cơ cạn kiệt nguồn dinh dưỡng từ chế độ

dinh dưỡng không đầy đủ, cả trước phẫu thuật và sau phẫu thuật, stress trong

phẫu thuật và tăng tỷ lệ trao đổi chất. Gần đây, để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho

bệnh nhân đã được hỗ trợ dinh dưỡng cả trước và sau phẫu thuật. Cũng có

bằng chứng hỗ trợ dinh dưỡng ở bệnh nhân suy dinh dưỡng được hiệu quả

làm giảm các chi phí liên quan, giảm thời gian nằm viện và cải thiện chất

lượng cuộc sống [22]. Dinh dưỡng qua đường ruột sau khi cắt bỏ ruột thường

kéo theo tình trạng thiếu dinh dưỡng và ni dưỡng cho người bệnh thông qua

dịch truyền tĩnh mạch cho đến khi thơng qua trung tiện vì những lo ngại về

tắc ruột hậu phẫu hoặc bục miệng nối. Tuy nhiên, nhu động ruột hoạt động 68 giờ sau khi phẫu thuật và khả năng hấp thụ tồn tại ngay cả trong trường hợp

khơng có nhu động ruột bình thường [27]. Thức ăn nuôi qua đường ruột sau

phẫu thuật ở những bệnh nhân phẫu thuật cắt dạ dày ruột là an toàn và dung

nạp tốt ngay cả khi bắt đầu trong vòng 12 giờ phẫu thuật [28], [29]. Các tác

dụng phụ tiêu hóa thường gặp như đau bụng và đầy hơi [29]. Phương pháp

ni dưỡng thích hợp nên được lựa chọn, tùy thuộc vào thời gian, những nguy

cơ và giải phẫu đường tiêu hóa. Đường ni dưỡng qua ống thơng: mũi - dạ

dày hoặc cho ăn mũi - hỗng tràng là an toàn [30]. Ni theo đường ống thơng

đem lại lợi ích trên lâm sàng giảm tỷ lệ biến chứng nhiễm trùng sau phẫu

thuật, vết thương mau lành [31], [32]. Những nghiên cứu đã sáng tỏ dinh

dưỡng qua đường ruột làm điều chỉnh chức năng đường ruột [33], [34]. Dinh

dưỡng qua đường tĩnh mạch (PN) thời kỳ phẫu thuật nên được sử dụng cho

các bệnh nhân bị suy dinh dưỡng trong trường hợp khơng có sự hỗ trợ khác

[21]. Nghiên cứu sau đó đã tập trung vào bệnh nhân bị suy dinh dưỡng với

bệnh ác tính đường tiêu hóa, những bệnh nhân này đã được cho ăn qua đường

tiêu hóa tối thiểu là mười ngày trước khi phẫu thuật làm giảm đáng kể tỷ lệ

nhiễm trùng [16], [35]. Ăn qua đường ruột (EN) so với ăn theo đường tĩnh



28



mạch (PN) có thể ngăn ngừa teo niêm mạc đường tiêu hóa, duy trì hệ miễn

dịch và bảo tồn hệ thực vật đường ruột bình thường [36], [37]. Một nghiên

cứu về dinh dưỡng sớm đường ruột ở các bệnh nhân phẫu thuật có nguy cơ

cao đã phát hiện ra rằng sau phẫu thuật đường ruột dinh dưỡng sớm qua

đường tiêu hóa có hiệu quả và giảm tỷ lệ mắc nhiễm trùng so với những bệnh

nhân sử dụng dinh dưỡng qua PN [36]. Dinh dưỡng đường ruột là một lựa

chọn hiệu quả ở những bệnh nhân bị suy dinh dưỡng với bệnh ung thư đường

tiêu hóa và được liên kết với ít biến chứng hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn

[38], [39] và giảm chi phí so với nuôi dưỡng tĩnh mạch (PN). Nuôi dưỡng

đường ruột nên được sử dụng bất cứ khi nào có thể. Ngồi ra còn có một số

bằng chứng để hỗ trợ hỗ trợ dinh dưỡng trước phẫu thuật ở bệnh nhân bị bệnh

viêm ruột [38], [40] đã cho thấy giảm các phản ứng dị hóa sau phẫu thuật và

cải thiện tốt [41]. Glutamine là axit amin tự do, đóng một vai trò quan trọng

trong vận chuyển nitơ và cân bằng acid - base và là một nhiên liệu cho các tế

bào phân chia nhanh chóng như hồng cầu, tế bào lympho và các nguyên bào

sợi. Nó cũng được tham gia vào cơ chế phòng chống oxy hóa bằng cách ảnh

hưởng tổng hợp glutathione. Các nghiên cứu đã khám phá lợi ích của

glutamine giàu dinh dưỡng, đặc biệt cho ruột và hệ miễn dịch. Nó đã được

chứng minh rằng việc bổ sung glutamine đến chế độ dinh dưỡng cho bệnh

nhân sau khi phẫu thuật trong một thời gian làm giảm thời gian nằm viện [42]

và giảm chi phí [43]. Kết quả là sự cân bằng nitơ được cải thiện và phục hồi tế

bào lympho nhanh hơn [42]. Glutamine cũng đã được hiển thị để duy trì khả

năng thẩm thấu ruột ở những bệnh nhân sau phẫu thuật [44]. Cho đến nay,

những nghiên cứu cho ăn đường miệng ở bệnh nhân phẫu thuật đã giảm tỷ lệ

tử vong.

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng cần được được áp dụng cho những

bệnh nhân phẫu thuật để phát hiện những bệnh nhân có nguy cơ về dinh



29



dưỡng để can thiệp kịp thời [45]. Phát hiện được sự suy giảm dinh dưỡng sẽ

cho phép hỗ trợ dinh dưỡng để những bệnh nhân phẫu thuật có thể trạng tốt,

cải thiện kết quả sau phẫu thuật [46].

Bệnh nhân SDD ở trong tình trạng cân bằng nitơ âm tính vì lượng nhập

vào không đủ phục hồi lại những mất mát (SDD mạn tính) hoặc kèm tăng mất

nitơ (tăng dị hóa). Vì thế hỗ trợ dinh dưỡng hiệu quả đạt nhanh chóng cải

thiện cân bằng nitơ.

Sự suy giảm dinh dưỡng đã được chứng minh là một yếu tố quyết định

chính của sự phát triển của các biến chứng hậu phẫu [47]. Bệnh nhân được

ni ăn bằng đường tiêu hóa trong phẫu thuật đường tiêu hóa đã giảm thời

gian nằm viện, giảm tỷ lệ biến chứng, giảm chi phí điều trị, thậm chí giảm tỷ

lệ tử vong [44]. Thức ăn cung cấp qua đường tiêu hóa có thể cho ăn bằng

đường miệng hoặc ống thông.

Cho ăn sớm được định nghĩa là thức ăn được cung cấp bằng đường tiêu

hóa trong vòng 24 - 72h sau phẫu thuật [14].

1.10. Tác động của tình trạng dinh dưỡng trên kết quả phẫu thuật

1.10.1 Chức năng ruột

Ngồi chức năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng, ruột còn có

tác dụng như một hàng rào ngăn đối với các vi khuẩn khu trú ở đường tiêu

hóa. Hiệu quả của hàng rào ruột phụ thuộc vào:

- Sự có mặt của các chủng vi khuẩn bình thường, axit của dịch vị, mật,

pepsin,... trong lòng ruột.

- Sự nguyên vẹn của niêm mạc ruột.

- Chức năng đáp ứng miễn dịch tại chỗ và miễn dịch vùng (các tế bào

lympho, đại thực bào, mảng peyer, hạch bạch huyết). Những trường hợp bệnh

nặng, cơ thể có hiện tượng di chuyển của các độc tố và vi khuẩn ruột nội sinh

vào hệ tuần hoàn chung qua hàng rào ruột.



30



Sự xâm nhập của vi khuẩn và các độc tố dẫn đến giải phóng các Cytokin

và mẫn cảm quá trình đáp ứng hormon đối với stress (đáp ứng nội tiết), dẫn đến

trạng thái dị hóa, đó là nguyên nhân thường xuyên của nhiễm khuẩn.

Dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến sự toàn vẹn chức năng ruột. Đói ăn và

ni dưỡng đường tĩnh mạch đơn thuần làm giảm lượng protein tế bào ruột,

teo các nhung mao và ngắt quãng niêm mạc ruột. Sau phẫu thuật ống tiêu hóa

việc ni dưỡng đường tiêu hóa được đảm bảo sự nguyên vẹn của niêm mạc

ruột, do đó có thể làm giảm đáp ứng tăng chuyển hóa, ngược lại hiệu quả này

giảm nếu ni dưỡng đường tiêu hóa muộn. Trong quá trình sửa chữa và tái

tạo, các tế bào niêm mạc ruột thường sử dụng một lượng lớn chất Glutamin.

Tuy nhiên chất Glutamin nội mơ thường khơng đủ, vì vậy việc dùng thêm

Glutamin qua đường tiêu hóa là rất quan trọng.

1.10.2 Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng trên kết quả phẫu thuật

Bệnh nhân phẫu thuật đường tiêu hóa thường có tình trạng thiếu dinh

dưỡng và rất phổ biến ở bệnh nhân nhập viện. Bệnh nhân thường không được

để ý đến tình trạng dinh dưỡng trước khi can thiệp.

Suy dinh dưỡng (thiếu năng lượng - protein) là khái niệm dùng để chỉ

tình trạng người trưởng thành có chỉ số khối cơ thể BMI dưới 18,5.

Trong đó, BMI = cân nặng (kg)/[chiều cao (m) x chiều cao (m)].

Người có cân nặng chuẩn trong khoảng từ 18,5 đến 25 (theo Tổ chức Y

tế thế giới WHO) hoặc từ 18,5 đến 23 (theo hiệp hội đái tháo đường Châu Á

Thái Bình Dương).

Trên thực tế xảy ra mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và các phản

ứng sinh lý trong phẫu thuật. Có nghiên cứu đã cho thấy tình trạng dinh

dưỡng khơng đầy đủ đã gây ra kết quả xấu sau phẫu thuật làm tăng tình trạng

nhiễm trùng, tăng biến chứng và kéo dài thời gian nằm viện. Tuy nhiên khi

can thiệp dinh dưỡng đầy đủ làm giảm đáng kể kết quả xấu sau phẫu thuật.



31



Kết quả của cuộc phẫu thuật phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống bảo vệ

miễn dịch và khả năng liền vết thương. Cả hai đều có sự tổng hợp protein mới

được biểu hiện bằng cân bằng nitơ và cân bằng năng lượng

Theo một nghiên cứu [48] trên bệnh nhân phẫu thuật bụng và được

đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo phương pháp: Đánh giá tổng thể chủ

quan (SGA), chỉ số rủi ro dinh dưỡng (NRS), đo nhân trắc học, tổng số

protein huyết thanh, albumin huyết thanh, số tế bào lympho, cholesterol huyết

thanh. Bệnh nhân được theo dõi biến chứng xảy ra sau mổ hoặc tử vong.

Bệnh nhân trong nghiên cứu lúc nhập viện có 44% bệnh nhân bị suy dinh

dưỡng theo đánh giá tổng thể chủ quan (SGA), trong khi 61% số bệnh nhân bị

suy dinh dưỡng theo phương pháp đánh giá theo chỉ số rủi ro dinh dưỡng

(NRS). Khi ra viện, tỷ số này là 67% và 82% tương ứng. Tỷ lệ tử vong cao

hơn đã được tìm thấy trong các nhóm suy dinh dưỡng. Nguy cơ biến chứng

tăng lên ở những bệnh nhân bị suy dinh dưỡng với cả hai kỹ thuật đánh giá

SGA và NRS.

Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra kết luận: Suy dinh dưỡng là một dấu

hiệu cho kết quả xấu. Chỉ số dinh dưỡng tiên đoán được suy dinh dưỡng và

các biến chứng sau phẫu thuật ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật bụng.

Dinh dưỡng tốt dẫn đến cải thiện tình trạng dinh dưỡng và kết quả lâm sàng

cũng được cải thiện. Can thiệp dinh dưỡng đầy đủ làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng,

tỷ lệ biến chứng, giảm thời gian nằm viện, và chi phí. Sự suy giảm dinh

dưỡng được kết hợp với những thay đổi trong cơ thể, cơ quan chức năng, tình

trạng miễn dịch và chức năng cơ bắp đều suy giảm [24]. Vì vậy, bệnh nhân

cạn kiệt dinh dưỡng có nguy cơ biến chứng nhiễm trùng và suy giảm chức

năng tim phổi [25], [49]. Những bệnh nhân trải qua phẫu thuật đường tiêu hóa

có nguy cơ cạn kiệt nguồn dinh dưỡng từ chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, cả

trước phẫu thuật và sau phẫu thuật, sự xuất hiện stress trong phẫu thuật và gia



32



tăng tỷ lệ trao đổi chất. Gần đây, để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân đã

được hỗ trợ dinh dưỡng cả trước và sau phẫu thuật. Cũng có bằng chứng hỗ

trợ dinh dưỡng ở bệnh nhân suy dinh dưỡng được hiệu quả làm giảm các chi

phí liên quan, thời gian nằm viện giảm và cải thiện chất lượng cuộc sống. Sự

suy giảm dinh dưỡng đã được chứng minh là một yếu tố quyết định chính của

sự phát triển của các biến chứng hậu phẫu [47].

1.10.3 Dinh dưỡng và sự lành vết thương

Sự lành vết thương và dinh dưỡng có quan hệ mật thiết đã được cơng

nhận bởi các nghiên cứu có từ hàng trăm năm. Suy dinh dưỡng hoặc thiếu hụt

chất dinh dưỡng có tác động nghiêm trọng đến sự lành vết thương.

Suy dinh dưỡng protein - năng lượng, dạng phổ biến nhất của suy dinh

dưỡng trên thế giới dẫn đến giảm sức căng vết thương, giảm chức năng tế bào

T, giảm hoạt động thực bào và giảm bổ thể, kháng thể cuối cùng là giảm khả

năng đề kháng của cơ thể đối với vết thương chống lại nhiễm trùng. Trên lâm

sàng, suy giảm miễn dịch tương quan với tăng tỷ lệ biến chứng và tăng sự

không lành vết thương sau phẫu thuật. Suy dinh dưỡng có thể có trước vết

thương hoặc có thể thứ phát do dị hóa từ vết thương. Cần cung cấp dinh

dưỡng tốt nhất để đạt hiệu quả cho sự lành vết thương.

Suy dinh dưỡng rất phức tạp do giảm chức năng miễn dịch và giảm khả

năng lành vết thương. Chuyển hóa protein - năng lượng có thể được đi kèm

với những thay đổi sinh lý như chức năng cơ, biểu hiện như suy nhược cơ thể

và chức năng cơ hô hấp kém. Những thay đổi này làm tăng khả năng viêm

phổi sau phẫu thuật và khó khăn trong việc cai máy thở

Phẫu thuật đi kèm với đái tháo đường có thể làm chậm sự lành vết

thương và gia tăng biến chứng. Cơ chế do nhiều nguyên nhân và chưa xác

định rõ ràng, nhưng có thể liên quan đến sự tích tụ sản phẩm đường trong cơ

thể. Đái tháo đường ức chế phản ứng viêm, nguyên bào sợi và hoạt động của



33



tế bào nội mô, làm chậm lắng đọng chất nền, tái tạo vết thương và đóng mép

da. Tăng đường huyết gây ức chế cạnh tranh với acid ascorbic vào nguyên

bào sợi và bạch cầu, giảm hóa hướng động bạch cầu. Bệnh nhân đái tháo

đường dễ nhiễm trùng vì giảm sức đề kháng.

Tóm lại, yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng lên sự lành vết thương ở

bệnh nhân đái tháo đường là đạt được và duy trì đường huyết trong giới hạn

bình thường.

1.11. Vai trò dinh dưỡng trong các bệnh ngoại khoa

Trong thực hành ngoại khoa, nhiều yếu tố có thể giữ vai trò trong việc

xảy ra các biến chứng nhiễm trùng sau mổ. Các thông số quan trọng về tình

trạng chung của bệnh nhân bao gồm tình trạng dinh dưỡng, phương pháp

phẫu thuật, kinh nghiệm của phẫu thuật viên, tình trạng bệnh lý và chất lượng

của gây mê và chăm sóc sau mổ. Trong những thập niên gần đây, tình trạng

sụt cân khơng chủ ý, các chỉ số về nhân trắc, chức năng của cơ (sức co cơ bàn

tay), albumin, transferrin, protein huyết thanh và sự kết hợp các yếu tố này đã

từng được sử dụng để tiên đoán nguy cơ biến chứng sau mổ [48]. Theo nghiên

cứu của Phạm Văn Năng và cộng sự cho thấy biến chứng nhẹ và nặng lần lượt

là 6,6% và 17,8%. Trong phẫu thuật bệnh nhân ung thư tỷ lệ biến chứng còn

cao hơn. Trong một nghiên cứu bệnh nhân ung thư đầu và cổ tỷ lệ biến chứng

nhẹ và nặng là 25% và 31% [48]. Nguy cơ biến chứng và tử vong gia tăng

trên những bệnh nhân suy dinh dưỡng [50], [51], nên đã có nhiều nghiên cứu

về các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng để đánh giá tình trạng dinh

dưỡng. Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất về vấn đề này. Nhiều chỉ số và hệ

thống cho điểm đã được đưa ra, nhưng khơng có hệ thống cho điểm nào được

coi là tiêu chuẩn để sử dụng cho mọi bệnh nhân. Trong nghiên cứu này, tác

giả mong muốn khảo sát xem những phương pháp cận lâm sàng và lâm sàng

đơn giản nào có đủ độ đặc hiệu để nhận biết những bệnh nhân thật sự có nguy



34



cơ bị biến chứng nhiễm trùng sau mổ. Năm 1936, Studley đã chứng minh

rằng những bệnh nhân được mổ về bệnh lt tiêu hóa mạn tính, thì tỷ lệ biến

chứng bao gồm tử vong là 33,5% ở những bệnh nhân sụt cân trên 20% và

3,5% ở những bệnh nhân sụt cân ít hơn [52]. Những bệnh nhân được phẫu

thuật vùng đầu và cổ do ung thư tế bào vẩy mà sụt cân trên 10% trong vòng 6

tháng trước phẫu thuật sẽ có nguy cơ bị biến chứng nặng sau mổ cao hơn.

Trong nghiên cứu của Windsor trên những bệnh nhân được mổ bệnh đường

tiêu hóa trên, thì sụt cân là yếu tố nguy cơ căn bản và có kèm theo tổn thương

chức năng cơ quan [53]. Trong nghiên cứu của Sungurtekin, sụt cân đơn

thuần không là yếu tố nguy cơ, nhưng khi sử dụng yếu tố sụt cân trong trong

hệ thống cho điểm như SGA và NRS, thì hệ thống cho điểm này lại có khả

năng tiên đốn biến chứng sau mổ [54]. Trong nghiên cứu của tác giả, tỷ lệ

phần trăm sụt cân cao hơn hẳn trong nhóm có biến chứng và là một trong

những yếu tố tiên đoán tốt nhất về khả năng xảy ra biến chứng nhiễm trùng

sau mổ.

Dinh dưỡng trong ngoại khoa có vai trò quan trọng như sau:

+ Dinh dưỡng tốt làm tăng tỷ lệ thủ thuật có thể làm được, một số bệnh

nhân suy kiệt nếu khơng có dinh dưỡng tốt thì bệnh nhân sẽ khơng chịu được

phẫu thuật.

+ Giảm bớt khó khăn cho thủ thuật: ăn uống có thể làm giảm trướng

hơi đối với bệnh nhân bị trướng hơi.

+ Giảm bớt tỷ lệ tử vong của thủ thuật: chế độ dinh dưỡng tốt trước và

sau thủ thuật sẽ góp phần tăng sức chịu đựng của bệnh nhân cho cuộc mổ và

nhanh chóng phục hồi sức khỏe sau mổ.

1.12. Nguyên tắc của dinh dưỡng trong bệnh ngoại khoa

Về dinh dưỡng trong các bệnh ngoại khoa có thể chia ra làm 3 thời kỳ:

trước phẫu thuật, chuẩn bị phẫu thuật và sau phẫu thuật.



35



+ Dinh dưỡng thời kỳ trước phẫu thuật: thời kỳ này dài hay ngắn tùy

thuộc vào giai đoạn cần cấp cứu và phụ thuộc vào tình trạng dinh dưỡng của

bệnh nhân. Chế độ ăn cần tăng cường chất dinh dưỡng cho bệnh nhân đủ sức

chịu đựng phẫu thuật.

+ Dinh dưỡng trong thời gian chuẩn bị phẫu thuật: chú ý đảm bảo giảm

bớt cặn bẩn trong ruột, giảm nhiễm khuẩn đường ruột nhất là khi phẫu thuật

đường tiêu hóa, tránh nơn và chịu đựng được thuốc mê.

+ Dinh dưỡng sau khi phẫu thuật: thời kỳ này đòi hỏi phải có chế độ ăn

đặc biệt phù hợp với bệnh nhân.

1.12.1. Dinh dưỡng trước phẫu thuật

+ Nguyên tắc chung:

Chế độ dinh dưỡng trong thời kỳ này cần đảm bảo:

- Nhiều protein: Đây là điểm quan trọng nhất, vì bệnh ngoại khoa

thường làm cho cơ thể mất nhiều protein do chảy máu, vết thương, do viêm,

do nhiễm khuẩn,…

- Nhiều glucid: để cung cấp năng lượng và glucid còn làm cho gan tích

trữ được nhiểu glycogen và có tác dụng bảo vệ gan khỏi bị tổn thương do

dùng thuốc mê.

- Duy trì chế độ dinh dưỡng cao ít nhất 1 tháng đối với bệnh nhân bị

suy kiệt nhiều.

+ Dinh dưỡng trước phẫu thuật trong một số bệnh đặc biệt:

- Bệnh đái tháo đường: Đối với bệnh này trước khi phẫu thuật rất hay

có biến chứng. Vì vậy trước khi phẫu thuật phải cho chế độ ăn điều trị nhằm

giảm glucoza máu và giảm tình trạng toan.

- Béo phì: khi béo phì do lớp mỡ thành bụng quá dày nên vết mổ lâu

liền và béo phì dễ kèm theo các biến chứng khác như tăng huyết áp, tim

mạch,... Do vậy, phải cho chế độ ăn điều trị bệnh béo phì trước khi mổ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

8 Điều trị di căn xa

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×