Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Chẩn đoán ung thư trực tràng

5 Chẩn đoán ung thư trực tràng

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



- Thay đổi khn phân: Khn phân nhỏ dẹt, hình lòng máng.

- Đau hạ vị, tầng sinh mơn.



18



1.5.1.2. Tồn thân:

- Gày sút: Có thể có tình trạng gầy sút nhanh, mệt mỏi kéo dài.

- Thiếu máu: Do chảy máu kéo dài

- Suy kiệt.

 Thực thể:

* Thăm trực tràng: Là một động tác thăm khám đơn giản, có thể thực

hiện ở mọi cơ sở y tế, có tác dụng phát hiện khối u một cách trực tiếp và

nhanh nhất đặc biệt là u trực tràng thấp. Có thể phát hiện được hầu hết khối u

cách rìa hậu mơn tới 10 cm. Trong UTTT, thăm trực tràng có thể thấy một ổ

loét thành cao, đáy cứng, khơng đều hoặc có một khối u sủi mủn trên nền

cứng hoặc một đoạn trực tràng hẹp, cứng, có máu theo găng. Thăm trực tràng

giúp thầy thuốc xác định các tính chất sau của khối u

- Khoảng cách từ u đến rìa hậu mơn, xác định u chiếm bao nhiêu phần

chu vi trực tràng

- Tính chất di động của khối u, từ đó suy ra mức độ xâm lấn ra xung

quanh của khối u.

Tuy nhiên thăm trực tràng có thể nhầm với các tổn thương khác: polyp,

lao, Crohn, u khác.

* Khám bụng và toàn thân: Phát hiện di căn gan, di căn phổi, hạch bẹn,

hạch thượng đòn.

1.5.2 Cận lâm sàng

1.5.2.1. Soi trực tràng

Soi trực tràng thấy được hình ảnh đại thể của tổn thương, ít bị nhầm lẫn

kể cả các tổn thương nhỏ. Điển hình là u sùi, loét ở giữa, màu đỏ sẫm, gờ ổ

loét sần sùi, dễ chảy máu. Xác định được vị trí, kích thước u, khoảng cách từ

u đến rìa hậu mơn. Có thể soi trực tràng bằng ống soi cứng hoặc ống soi mềm.



19



1.5.2.2. Sinh thiết qua soi trực tràng

Là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và kiểm soát các bệnh lý ác tính

của đại trực tràng, nếu sinh thiết âm tính phải soi và làm lại sinh thiết.

1.5.2.3. Chụp khung đại tràng cản quang

Trên phim chụp cản quang đại trực tràng, ung thư trực tràng thể hiện là

một hình khuyết nham nhở hoặc một đoạn chít hẹp khơng đều. Chụp khung

đại tràng còn có thê phát hiện các tổn thương phối hợp ở đại tràng.

1.5.2.4. Định lượng kháng nguyên bào thai ung thư CEA, CA 19 - 9

Độ nhạy và độ đặc hiệu của CEA, CA 19 - 9 trong ung thư trực tràng

đều thấp, chúng ít tăng ở BN ung thư trực tràng kém biệt hóa. CEA, CA 19 - 9

cũng tăng trong một số trường hợp khác như : Bệnh lý gan mật, tụy, hút thuốc

lá...Do vậy việc định lượng các kháng nguyên này không phải để chẩn đoán

bệnh mà chủ yếu để đánh giá mức độ triệt căn của cuộc phẫu thuật, phát hiện

ung thư tái phát, di căn sau mổ.

1.5.2.5. Các thăm dò khác

- Siêu âm nội soi : Hiện nay là phương pháp được lựa chọn để đánh giá

mức độ xâm lấn qua thành trực tràng và đánh giá di căn hạch vùng

- Chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) : giúp

cho việc đánh giá mức độ xâm lấn qua thành trực tràng và đánh giá di căn.

- Siêu âm bụng : Siêu âm được chỉ định để phát hiện di căn gan, di căn

hạch, dịch ổ bụng.

- PET (Positron Emision Tomography) : Ít khi được chỉ định trước phẫu

thuật. Thường chỉ định sau phẫu thuật, để có thể phân biệt ung thư tái phát

hay sẹo xơ tại vùng miệng nối.

- X quang phổi : tìm di căn phổi.

- Soi bàng quang, chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV) : khi nghi ngờ ung thư

thâm nhiễm hệ tiết niệu.



20



- Soi đại tràng ống mềm: Phát hiện các tổn thương phối hợp ở đại tràng.

1.6 Điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng

1.6.1 Sơ lược lịch sử :

Lịch sử của điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng đã trải qua hơn 200

năm với các mốc sau :

- Năm 1783 Dubois thực hiện làm hậu môn nhân tạo đại tràng Sigma

cho ung thư trực tràng.

- Năm 1826 : Lisfranc thực hiện phẫu thuật đầu tiên cắt u theo đường

tầng sinh môn.

- Năm 1873 Verneuil đưa ra kỹ thuật mở đường sau cắt bỏ xương cụt để

mổ cắt cụt trực tràng.

- Năm 1878 Volkmann cắt cụt trực tràng qua đường hậu môn.

- Năm 1908 Miles thực hiện ca phẫu thuật triệt căn đầu tiên phối hợp

đường bụng và tầng sinh môn.

- Năm 1920 Lockhart - Mummery cải tiến kỹ thuật Miles nhằm hạ tỷ lệ

tử vong do sốc, chia cuộc mổ làm hai thì.

- Năm 1921 Hartmann cơng bố kỹ thuật cắt bỏ u bằng đường mở bụng

đơn thuần, cắt u, nạo vét hạch mạc treo, đóng kín mỏm trực tràng, làm hậu

mơn nhân tạo hố chậu trái.

- Năm 1932 Babcock đề xuất kỹ thuật mổ kéo tụt bảo tồn cơ thắt.

- Năm 1939 Dixon công bố kỹ thuật mổ cắt đoạn trực tràng qua đường

bụng trước, nối đại tràng trực tràng còn lại. Phẫu thuật trở thành phương pháp

cơ bản để bảo tồn cơ thắt hậu môn.

- Năm 1950 Toupet đưa ra kỹ thuật mở đường bụng - hậu môn, lồng

đầu đại tràng đã cắt vào lòng đoạn trực tràng còn lại qua lỗ hậu môn.



21



- Năm 1971 Bancon cải tiến kỹ thuật Babcock thêm thì nong hậu mơn,

cắt vòng niêm mạc từ đường lược phẫu tích niêm mạc một đoạn qua cơ tròn

rồi cắt ruột.

- Năm 1972 Park cơng bố kỹ thuật cắt trực tràng nối ngay đại tràng ống hậu môn qua đường mổ bụng - hậu môn.

- Năm 1987 Mallaffosse bổ sung, cải tiến kỹ thuật Park đề xuất nối đại

tràng hậu mơn kiểu bên bên để tạo bóng hình chữ J.

1.6.2 Các phương pháp phẫu thuật điều trị ung thư trực tràng

Các phẫu thuật ung thư trực tràng chia làm 2 nhóm phẫu thuật chính :

• Phẫu thuật triệt căn: Gồm các phẫu thuật cắt bỏ cơ thắt và bảo tồn cơ thắt.



• Phẫu thuật u khơng triệt căn: Làm hậu môn nhân tạo, cắt u tạm thời.

1.6.2.1. Phẫu thuật triệt căn :

* Định nghĩa phẫu thuật triệt căn theo UICC (1992)

- Triệt căn R0 : Cắt hết u về mặt đại thể và khơng còn tế bào ung thư ở

diện cắt trên vi thể.

- Không triệt căn R1 : Cắt hết u về mặt đại thể nhưng còn tế bào ung

thư trên vi thể.

- Khơng triệt căn R2 : Cắt không hêt u và trên vi thể diện cắt còn tế bào

ung thư.

* Các nguyên tắc chung của phẫu thuật triệt căn ung thư trực tràng :

- Cắt rộng trực tràng có u, vượt qua bờ dưới u ≥ 2 cm.

- Lấy bỏ toàn bộ mạc treo trực tràng.

- Nạo vét hạch rộng rãi, gồm các nhóm hạch sau trực tràng dọc động

mạch trực tràng dưới.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Chẩn đoán ung thư trực tràng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×