Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thời gian hậu phẫu trung bình là 13,1 ± 3,3 ngày. Nhiều nhất là 24 ngày, ít nhất là 9 ngày.

Thời gian hậu phẫu trung bình là 13,1 ± 3,3 ngày. Nhiều nhất là 24 ngày, ít nhất là 9 ngày.

Tải bản đầy đủ - 0trang

52



3.2.3. Biến chứng và tử vong sau mổ

Bảng 3.15. Biến chứng và tử vong sau mổ.

Khơng biến chứng

Có biến chứng

Viêm phổi

Nhiểm trùng vết mổ

Rò mỏm tá tràng

Rò miệng nối thực quản – ruột

Rò bạch huyết

Tắc ruột sớm

Chảy máu ổ bụng

Tử vong

Tổng số

Nhận xét:



Số bệnh nhân

42

28

10

12

2

2

2

1

1

1

70



Tỷ lệ %

60,0

40,0



100



Trong số 70 BN được phẫu thuật, có 42 BN khơng có biến chứng nào

suốt thời gian hậu phẫu chiếm tỷ lệ 60%, 28 bệnh nhân còn lại đều gặp phải ít

nhất 1 loại biến chứng.

Có 12 BN (17,1%) bị nhiễm trùng vết mổ và 10 BN (14,3%)bị viêm phổi

trong thời gian hậu phẫu.

Có 4 BN (5,7%) gặp phải biến chứng liên quan đến xì rò miệng nối,

trong đó có 2 trường hợp rò mỏm tá tràng và 2 trường hợp rò miệng nối thực

quản – ruột. Cũng chỉ có 2 BN (2,9%) xuất hiện rò bạch huyết.

Tắc ruột sớm sau mổ và chảy máu ổ bụng đều chỉ gặp 1 trường hợp.

Trong thời gian hậu phẫu có 1 trường hợp tử vong (1,4%) do tắc mạch phổi.

3.2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến biến chứng và tử vong sau mổ

Bảng 3.16. Một số yếu tố ảnh hưởng đến biến chứng viêm phổi

Viêm phổi

≤ 60 tuổi

Nhóm tuổi

> 60 tuổi



Khơng

47

13





4

6



p

0,02



53



51

5

Chỉ số tồn PS=0,1

0,02

trạng

PS=2

9

5

Tổng số

60

10

70

Nhận xét:

Trong số 51 bệnh nhân dưới 61 tuổi, có 4 BN gặp biến chứng viêm phổi

chiếm tỷ lệ 7,8%. Trong số 13 bệnh nhân trên 60 tuổi, có 6 trường hợp bị

viêm phổi (31,6%). Tỷ lệ bị viêm phổi ở nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi tăng

cao hơn và có ý nghĩa thống kê (p=0,02).

Trong nhóm 56 bệnh nhân có chỉ số tồn trạng tốt PS=0,1 thì chỉ có 5

trường hợp bị viêm phổi (8,9%). Tỷ lệ bị viêm phổi ở nhóm bệnh nhân có

PS=2 là 35,7%. Khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,022.

Bảng 3.17. Một số yếu tố ảnh hưởng đến biến chứng nhiễm trùng vết mổ

Nhiễm trùng vết mổ

≤ 60 tuổi

Nhóm tuổi

> 60 tuổi

Chỉ số tồn PS=0,1

trạng

PS=2

Tổng số

Nhận xét:



Khơng

43

15

46

12

58





8

4

10

2

12



p

0,72

1,0

70



Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ của nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi là 21,1%

cao hơn nhóm bệnh nhân dưới 60 tuổi (15,7%). Tuy nhiên khác biệt này

khơng có ý nghĩa thống kê với p=0,7.

Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ ở nhóm bệnh nhân có chỉ số toàn trạng

PS=0,1 và PS=2 lần lượt là 17,9% và 14,3%. Sự khác biệt này cũng khơng có

ý nghĩa thống kê (p=1,0).

Bảng 3.18. Một số yếu tố ảnh hưởng đến các biến chứng khác

Yếu tố nguy cơ

Cắt tạng

theo



kèm Khơng





Khơng biến

chứng

55

6



Có biến

chứng

5

4



p

0,02



54



D1

D2

Phương

pháp Roux-en-Y

làm miệng nối

Omega

Sử dụng máy cắt Khơng

nối



Tổng số

Nhận xét:

Mức độ vét hạch



12

49

58

3

15

46

61



2

7

8

1

4

5

9



1,0

0,43

0,24



Tỷ lệ biến chứng ở nhóm bệnh nhân cắt toàn bộ dạ dày mở rộng là

40,0% cao hơn so với nhóm cắt tồn bộ dạ dày tiêu chuẩn (8,3%). Khác biệt

này có ý nghĩa thống kê với p=0,02.

Hai nhóm bệnh nhân được nạo vét hạch ở mức D1 và D2 có tỷ lệ gặp

biến chứng lần lượt là 14,3% và 12,5%. Khơng có sự khác biệt trong tỷ lệ

xuất hiện biến chứng ở 2 nhóm này (p=1,0).

Trong 4 BN được làm miệng nối theo phương pháp Omega, có 1 BN

(25%) có biến chứng. Tỷ lệ này ở nhóm BN được phục hồi lưu thông theo

phương pháp Roux-en-Y là 12,1%. Tuy nhiên sự khác biệt này khơng có ý

nghĩa thống kê p=0,43.

Ở nhóm bệnh nhân có sử dụng máy nối tròn và máy cắt nối thẳng, tỷ lệ

gặp biến chứng là 9,8%. Tỷ lệ này ở nhóm làm miệng nối thủ công là 21,1%.

Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thơng kê p=0,24.



55



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng



Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 70 bệnh nhân ung

thư biểu mô dạ dày được phẫu thuật cắt TBDD tại bệnh viện K

từ tháng 6/2015 – 6/2018.

4.1.1. Tuổi và giới



Theo kết quả nghiên cứu, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 51,4

± 8,2 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 76 tuổi, bệnh nhân trẻ tuổi

nhất là 22 tuổi. Kết quả này phù hợp với kết quả của một số tác

giả trongnước: Đỗ Trọng Quyết là 58,2 tuổi[47]; của Trịnh Hồng

Sơn là 54,6 tuổi[39]; của Nguyễn Văn Hiếu là 46 tuổi[7].Nghiên

cứu của Sang Eok Lee và cộng sự (2009) trên 67 BN được cắt

TBDD nội soi có độ tuổi trung bình 52,3 ± 13,6 tuổi[48].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi chiếm tỷ lệ nhiều

nhất là từ 41 – 60 tuổi (51,4%), chỉ có 21,4 % BN dưới 40 tuổi.

Một số nghiên cứu khác cũng có kết quả tương tự: nghiên cứu

Đặng Văn Thởi có 54% BN trong độ tuổi từ 41 – 60 và chỉ có

8% BN dưới 40 tuổi[6], nghiên cứu của Isobe T. và cộng sự tỷ lệ

bệnh nhân UTDD dưới 40 tuổi chỉ là 6%. Nhìn chung các

nghiên cứu đều chỉ ra rằng UTDD thường hiếm gặp ở những

bệnh nhân trẻ tuổi[49].



56



Về đặc điểm giới tính, tỷ lệ nam giới mắc bệnh là 70%, tỷ lệ

nam/nữ là 2,3/1. Một vài tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu của các

tác giả khác: Trịnh Hồng Sơn là 1,75/1[39]; Nguyễn Lam Hòa

và Đỗ Trọng Quyết đều là 2,5/1[47],[50]. Trong thống kê của

You Jin Jang và cộng sự (2010) trên 1239 BN tỷ lệ nam/nữ là

1,8[51]. Tuy kết quả có sự chênh lệch nhưng đều có chung kết

luận là tỷ lệ UTDD ở nam giới cao hơn nhiều so với nữ giới, có

thể do nam giới chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nguy cơ như

hút thuốc lá, uống rượu.

4.1.2. Thời gian diễn biến bệnh và tiền sử

Thời gian diễn biến bệnh từ lúc xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến

thời điểm chẩn đoán của các bệnh nhân trong nghiên cứu được thể hiện

trong bảng 3.2. Phần lớn bệnh nhân đến viện trong vòng 3 tháng đầu kể

từ khi có biểu hiện sớm nhất của bệnh, chiếm tỷ lệ 68,6%. Chỉ có

14,3% bệnh nhân phát hiện bệnh trên 6 tháng. So sánh với kết quả của

một số nghiên cứu khác trong nước: Trong nghiên cứu của Trịnh Hồng

Sơn (2001), thời gian phát hiện bệnh trung bình là 6 tháng[39]; trong

nghiên cứu của Nguyễn Đức Huân (2006) là 12,1 tháng[20]. Kết quả

nghiên cứu của Trịnh Thị Hoa (2009) cho thấy, tỷ lệ số bệnh nhân có

thời gian diễn biến bệnh dưới 3 tháng chỉ chiếm 36,8%, phần lớn bệnh

nhân đến khám sau khoảng thời gian 3 – 6 tháng (49%)[52]. Nghiên

cứu của Trần Trung Bách (2015) có tỷ lệ bệnh nhân đến viện trong 3

tháng đầu là 64,8%[53]. Có thể thấy xu hướng là tỷ lệ bệnh nhân đi

khám sớm kể từ khi có triệu chứng tăng dần. Lý giải cho kết quả này có

thể do đời sống kinh tế xã hội ngày càng được cải thiện, người dân có

điều kiện tốt hơn tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, hiểu



57



biết về bệnh tăng lên, quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của bản thân,

đồng thời có nhiều điều kiện để đi khám kiểm tra và phát hiện bệnh

sớm.

Yếu tố tiền sử bản thân và gia đình liên quan đến UTDD là những

thông tin quan trọng được nhiều tác giả quan tâm[53],[54],[55]. Trong

nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân bị ung thư dạ dày có tiền sử

viêm loét dạ dày là 21,4%; trường hợp có tiền sử lâu nhất trên 20 năm,

tỷ lệ BN có người thân trong gia đình mắc UTDD là 8,6%. Một số kết

quả nghiên cứu của các tác giả khác: nghiên cứu của Đỗ Trọng Quyết là

11,4%[47], Nguyễn Lam Hòa là 31,5%[50]. Trong một số nghiên cứu

khác lại cho thấy tỷ lệ bệnh nhân ung thư dạ dày có tiền sử viêm loét dạ

dày rất cao:nghiên cứu của Trịnh Thị Hoa (2009) là 75,5%[52], nghiên

cứu của Nguyễn Thị Vượng (2013) là 91,1%[56]. Siddavaram Nagini

(2012) thống kê được gần 80% trường hợp UTDD có liên quan đến

nhiễm H. pylory và tình trạng viêm dạ dày trước đó[57]. Anderl và

cộng sự, qua nghiên cứu đã cơng nhận rằng có một trình tự thời gian

thay đổi tiền ung thư, cuối cùng dẫn đến UTDD[58]. Một đặc điểm phổ

biến của việc bắt đầu và tiến triển đến UTDD loại đường ruột là yếu tố

viêm nhiễm. Nhiễm trùng H. pylori là nguyên nhân chính của viêm dạ

dày và nếu không được điều trị một cách hợp lý, đây cũng chính là tác

nhân liên quan đến ung thư dạ dày[58],[59],[60],[61],[62].

4.1.3. Lý do vào viện và các triệu chứng lâm sàng

Ung thư dạ dày là bệnh lý có biểu hiện lâm sàng rất phong phú,

với những triệu chứng khơng điển hình như gầy sút cân, chán ăn, đầy

bụng và ợ hơi, bệnh nhân thường chủ quan không đi khám, hoặc nếu có

đi khám thì đơi khi thầy thuốc cũng có thể bỏ sót nếu ở giai đoạn sớm.

Hầu hết, trong những trường hợp đó, bệnh nhân ít nghĩ rằng mình bị

UTDD mà cho rằng có thể bị viêm dạ dày[50],[63].



58



Nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước ghi nhận đau bụng

thượng vị là lý do vào viện của hầu hết bệnh nhân UTDD với tỷ lệ

97,8% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Vượng (2014)[56]; 97,4% của

Trịnh Hồng Sơn[39]; 95,8% của Lê Thành Trung[64]… Trong nghiên

cứu của chúng tôi, đau bụng thượng vị chỉ là lý do thứ 2 khiến bệnh

nhân đến viện khám bệnh với tỷ lệ 34,3%. Lý do vào viện phổ biến

nhất là nuốt nghẹn (44,3%). Kết quả này có thể giải thích là do trong

nghiên cứu của chúng tôi gồm 70 BN được phẫu thuật cắt TBDD nên tỷ

lệ khối u ở vùng tâm vị hoặc lan đến tâm vị có số lượng lớn, khiến cho

tỷ lệ BN vào viện do nuốt nghẹn tăng cao.

Các triệu chứng cơ năng thường gặp nhất trong ung thư dạ dày là

đau bụng vùng thượng vị, gầy sút cân, nôn, đầy bụng khó tiêu và chán

ăn. Ở giai đoạn sớm, UTDD biểu hiện rất mơ hồ, không đặc hiệu; giai

đoạn muộn thường là đau thượng vị, nơn ra máu, đi ngồi phân đen…

Theo các tác giả trong và ngồi nước, thì triệu chứng đau bụng thượng

vị luôn là triệu chứng cơ năng thường gặp nhất, chiếm tỷ lệ 75% đến

100%[65],[66]. Nghiên cứu về UTDD sớm của Lê Minh Sơn có kết

quả tỷ lệ đau bụng thượng vị là 92,7%[67]; Đỗ Trọng Quyết đau bụng

thượng vị đối với UTDD là 93,3%[47]. Trong nghiên cứu của chúng

tôi, triệu chứng đau bụng thượng vị xuất hiện trên 84,3% bệnh nhân,

cũng tương tự với kết quả của các tác giả kể trên.

Từ bảng 3.4 có thể thấy, triệu chứng nuốt nghẹn cũng khá thường

gặp chiếm tỷ lệ 54,3%. Kết quả nghiên cứu của Sang Eok Lee (2009)

trên 67 bệnh nhân UTDD được cắt toàn bộ dạ dày nội soi cũng có kết

quả tương tự là 58,2% trường hợp có triệu chứng nuốt nghẹn[48].

Trong nghiên cứu của Đặng Văn Thởi (2017) trên 50 bệnh nhân ung

thư cực trên dạ dày còn có tỷ lệ xuất hiện triệu chứng nuốt nghẹn là

64%[6]. Đây cũng là đặc điểm riêng biệt của những bệnh nhân ung thư



59



phần trên dạ dày hay những bệnh nhân được cắt toàn bộ dạ dày, vì tỷ lệ

gặp phải triệu chứng nuốt nghẹn trong các thống kê ở bệnh nhân ung

thư dạ dày nói chung là thấp hơn nhiều.

Triệu chứng gầy sút cân chiếm tỷ lệ 41,4%, triệu chứng này

thường ít được bệnh nhân quan tâm vì cho rằng đây có thể là dấu hiệu

bình thường. Theo một số tác giả, tỷ lệ sút cân ở bệnh nhân ung thư dạ

dày chiếm tỷ lệ khá cao, nghiên cứu của Nguyễn Lam Hòa tỷ lệ này lên

đến 98%[50]; nghiên cứu của Đỗ Trọng Quyết là 93,3%[47]; nghiên

cứu của Vũ Hải là 80,1%[46]. Tuy nhiên một số nghiên cứu khác trong

nước lại cho thấy tỷ lệ này không cao như vậy: kết quả nghiên cứu của

Nguyễn Văn Lượng là 47,5%[68]; Nguyễn Quốc Đạt là 8,1%. Như vậy,

tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng gầy sút cân trong nghiên cứu của chúng

tôi và nhiều tác giả khác là có sự biến thiên khá lớn. Điều này có thể

được giải thích do các đặc điểm nghiên cứu khác nhau như: vị trí tổn

thương của ung thư, thời điểm bệnh nhân vào viện, giai đoạn, tiêu

chuẩn lựa chọn BN hay cỡ mẫu nghiên cứu. Nhiều tác giả đã cho rằng,

mức độ sút cân tỷ lệ với giai đoạn của bệnh, khi bệnh phát hiện càng

muộn, thì thể trạng bệnh nhân càng suy kiệt, đây cũng là yếu tố tiên

lượng trong và sau phẫu thuật.

Chán ăn là triệu chứng có thể gặp ở nhiều bệnh lý khác nhau. Đối

với ung thư dạ dày, chán ăn có thể là hậu quả của tình trạng đầy bụng,

khó tiêu hoặc cũng có thể do tình trạng suy kiệt, dẫn đến mệt mỏi và

chán ăn. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân chán ăn là

67,1%. Một số kết quả của các tác giả khác, Đỗ Trọng Quyết tỷ lệ này

là 78%[47], Nguyễn Lam Hòa là 97,5%[50].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 6 BN (8,6%) có khối u bụng.

Đây là triệu chứng thực thể trong ung thư dạ dày. Khi bệnh ở giai đoạn

sớm, thăm khám thường không thấy được triệu chứng này. Chỉ khi khối



60



u đã đạt được kích thước nhất định mới có thể sờ thấy trên lâm sàng.

Kết quả trong một số nghiên cứu của tác giả khác: Đỗ Trọng Quyết là

9,5%[47]; Nguyễn Lam Hòa là 17,8%[50]; Vũ Hải tỷ lệ này lên đến

23,8%[46]. Nhìn chung, nghiên cứu của các tác giả khác đều có tỷ lệ sờ

được khối u cao hơn nghiên cứu của chúng tôi, điều này có thể được

giải thích do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những bệnh nhân ở

giai đoạn không quá sớm, còn chỉ định phẫu thuật triệt căn. Đồng thời

đối với các bệnh nhân được cắt dạ dày toàn bộ thường có triệu chứng

nuốt nghẹn xuất hiện sớm, bệnh nhân đi khám sớm hơn, nên khả năng

sờ được khối u ở bụng là thấp hơn.

Một nghịch lý trong thực tế lâm sàng chẩn đoán và điều trị của ung

thư dạ dày là khi bệnh nhân chưa có triệu chứng thì chẩn đốn thường gặp

nhiều khó khăn, nhưng thuận lợi trong điều trị và khả năng chữa khỏi

bệnh cao. Ngược lại, khi bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng rõ ràng thì

đồng nghĩa với việc bệnh đã ở giai đoạn muộn, chẩn đốn dễ dàng hơn,

nhưng ít có cơ hội điều trịtriệt để, tỷ lệ chữa khỏi bệnh thấp và tỷ lệ tái

phát cao[28],[50],[59],[69],[70],[71],[72].

Để đánh giá khách quan hơn ảnh hưởng của UTDD đến sức khỏe chung

của bệnh nhân, chúng tôi lượng giá qua chỉ số BMI và chỉ sơ tồn trạng PS

theo phân loại của ECOG. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 31,4% bệnh nhân

có BMI ở mức gầy, còn lại đa số bệnh nhân vẫn trong giới hạn BMI bình

thường. Về chỉ số tồn trạng, tỷ lệ bệnh nhân có PS=0,1 cao lên tới 80%, chỉ

có 20% bệnh nhân có PS=2 và khơng có bệnh nhân nào có PS=3,4. Trong

nghiên cứu của Trần Trung Bách (2015) tỷ lệ bệnh nhân có BMI ở mức gầy là

39,8% và có 63,3% bệnh nhân có chỉ số tồn trạng PS=2,3[53]. Nghiên cứu

của Nguyễn Thị Vượng (2013) tỷ lệ bệnh nhân có PS=0,1 lên đến 91%[56].

Kết quả nghiên cứu của De la Medina (2004) trên BN ung thư dạ dày dưới 40



61



tuổi cho thấy có 39% BN có PS=2,3 và có 56% BN có BMI nhỏ hơn 20[73].

Một nghiên cứu khác của Sang Eok Lee (2009) cũng cho tỷ lệ bệnh nhân có

PS=2 là 31,3% và có BMI trung bình là 22,9 ± 2,9[48].

4.1.4. Các xét nghiệm máu

Một số đặc điểm xét nghiệm máu (nhóm máu, huyết sắc tố, chỉ điểm u)

của các bệnh nhân nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.5.

Về nhóm máu: Một trong những đặc điểm nổi bật của ung thư dạ dày

được nhiều tác giả đề cập đến là tỷ lệ nổi trội bệnh nhân nhóm máu A. Đặc

điểm này cũng được thể hiện trong nghiên cứu của chúng tơi với số bệnh nhân

nhóm máu A chiếm 44,3%; nhóm máu O là 35,7%; tỷ lệ nhóm máu B và AB

tương ứng là 15,7% và 4,3%. Trong phân bố nhóm máu chuẩn ở người Việt

Nam theo Phạm Quang Vinh, tỷ lệ nhóm máu A là 21,15% và nhóm máu O là

42,15%[74].

Nhóm máu A đã được phát hiện có liên quan đến UTDD từ những

năm 50 của thế kỷ trước. Hiện nay, nhóm máu A được xác định làm

tăng nguy cơ một số bệnh ung thư, không chỉ riêng ung thư dạ dày.

Nghiên cứu của Li B.,Tan B. và cộng sự (2014) cho thấy người có

nhóm máu A có nguy cơ mắc ung thư dạ dày cao hơn 24,5% so với

người mang nhóm máu khác[75]. Nghiên cứu của các tác giả Edgren

(2010), Zhiwer Wang (2012) hay Xiao (2015) cũng cho thấy tỷ lệ mắc

UTDD ở người mang nhóm máu A cao hơn từ 1,18 đến 1,30 lần[76],

[77],[78].

Huyết sắc tố: Tuy chỉ có 11,4% bệnh nhân trong nghiên cứu của

chúng tơi có biểu hiện của xuất huyết tiêu hóa cao, nhưng tỷ lệ bệnh

nhân thiếu máu ở các mức độ lên tới 47,1%. Trong đó có 15,7% BN

thiếu máu mức độ nhẹ, 18,6% BN thiếu máu trung bình và 12,8% BN

thiếu máu nặng với huyết sắc tố dưới 80 g/l. Tình trạng thiếu máu trước



62



điều trị là một yếu tố quan trọng, gián tiếp phản ánh mức độ nặng của

bệnh và ảnh hưởng đến toàn trạng của bệnh nhân, tác động không nhỏ

đến kết quả điều trị[53].

Chất chỉ điểm khối u: CEA, CA 72-4 là những chất chỉ điểm khối

u của ung thư dạ dày được sử dụng thông dụng hiện nay trên thực hành

lâm sàng. Nồng độ chất chỉ điểm khối u trong máu trước điều trị đã

được chứng minh vai trò trong chẩn đốn và tiên lượng bệnh, giúp dự

đoán mức độ lan tràn của bệnh, tiên lượng nguy cơ tái phát, tiến triển

bệnh và theo dõi diễn biến sau điều trị. Giá trị dự báo càng cao khi phối

hợp các chất chỉ điểm cùng nhau.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tất cả 70 bệnh nhân đều có đủ xét

nghiệm CEA và CA 72-4 trước phẫu thuật. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh

nhân có nồng độ CEA và CA 72-4 tăng trước phẫu thuật lần lượt là

37,4% và 44,3%. Có 64,3% bệnh nhân có tăng ít nhất 1 trong 2 loại

chất chỉ điểm u trên[79],[80]. Một kết quả phân tích gộp của H.

Shimada (2014) cho thấy tỷ lệ tăng CEA trên ngưỡng 5 ng/ml dao động

từ 16-68% theo từng nghiên cứu. Chỉ số CEA liên quan mạnh đến mức

độ xâm lấn khối u, tình trạng di căn hạch và di căn xa[80]. Tỷ lệ tăng

từng loại chất chỉ điểm u trong ung thư dạ dày qua phân tích gộp từ 19

nghiên cứu trên 2774 bệnh nhân được thể hiện cụ thể qua biểu đồ dưới

đây. Trong đó tỷ lệ số BN tăng CA 72-4 cao hơn CEA, phù hợp với

nghiên cứu của chúng tôi.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thời gian hậu phẫu trung bình là 13,1 ± 3,3 ngày. Nhiều nhất là 24 ngày, ít nhất là 9 ngày.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×