Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa p53 với độ mô học

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa p53 với độ mô học

Tải bản đầy đủ - 0trang

59



Độ II

Độ III

Tổng số



11

2

24



45,8

8,3

100



10

0

13



76,9

0

100



Nhận xét

Những bệnh nhân ung thư có độ mơ học III khơng có trường hợp nào

có p53 âm tính.



60



 Một số hình ảnh trước và sau nhuộm hóa mơ miễn dịch.

Ca lâm sàng 1.



Nhuộm HE



Nhuộm HMMD p53 (âm tính)



61



Ca lâm sàng 2.



Nhuộm HE



62



Nhuộm HMMD p53 (Dương tính)



63



Chương 4

BÀN LUẬN

Qua phân tích số liệu thu thập được trên 37 bệnh nhân ung thư biểu

mô khoang miệng điều trị tại khoa phẫu thuật và tạo hình hàm mặt Bệnh

viện Răng hàm mặt Trung ương từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2014 chúng

tôi nhận thấy một số đặc điểm sau.

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA UTBM KHOANG MIỆNG

4.1.1. Tuổi, giới

Theo nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ nam và nữ là 19/18 tương ứng

với tỷ lệ 1,05: 1. Tuổi thấp nhất là 16, cao nhất là 81. Độ tuổi trung bình

hay gặp nhất là từ 50 đến 60 với CI = 95%.

So với các nghiên cứu trước đây, tỷ lệ giới trong nghiên cứu của

chúng tơi có sự khác biệt. Ung thư biểu mô miệng thường xảy ra ở nam

nhiều hơn nữ , theo Regezi. (2003) ở Mỹ, hiện nay tỷ lệ nam/nữ là 2/1, còn

trước kia thì tỷ lệ này cao hơn khoảng 3/1. Theo Vũ Quảng Phong thì tỷ lệ

này là 1,94/1. Còn theo Nguyễn Thị Hồng và cộng sự điều tra về hốc miệng

năm 1996 thì tỷ lệ này là 1,9/1.

Có 12/37 Bn dưới 40 tuổi, điều này cho thấy ung thư ngày nay có xu

hướng ngày càng gặp nhiều ở người trẻ.

Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 50 đến 60 với độ tin cậy bằng 95%. Độ

tuổi này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây của các tác giả như Hàn Thị

Vân Thanh, Nguyễn Thị Hồng. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Trần Đặng

Ngọc Linh (1999) tại bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh, tuổi mắc bệnh



64



trung bình là 64, độ tuổi thường gặp nhất là 60-74 tuổi [12]. Như vậy, bệnh

nhân mắc UTBM khoang miệng trong nghiên cứu của chúng tơi trẻ hơn.

Trong nghiên cứu này chúng tơi nhận thấy.

Nhóm tuổi < 50: Nam chiếm tỷ lệ cao 92,3% (12/13 bệnh nhân).

Nhóm tuổi 50 – 60: Tỷ lệ nam/nữ là 1:1 (5/5 bệnh nhân).

Nhóm tuổi > 60: Nữ chiếm 85,7% ( 12/14 bệnh nhân).

Như vậy có sự dịch chuyển khá rõ ràng về tỷ lệ bị bệnh giữa 2 giới khi tuổi

thay đổi. Tuổi càng cao thì tỷ lệ nữ càng cao và ngược lại.

4.1.2. Tiền sử

Chúng tôi chỉ đề cập đến một các yếu tố là nguy cơ gây ung thư

miệng gồm: hút thuốc, uống rượu, ăn trầu, các tổn thương mạn tính và tiền

sử gia đình. Ngày nay HPV đã được chứng minh là một trong những

nguyên nhân gây ung thư miệng họng, tuy nhiên trong nghiên cứu này

chúng tôi không khai thác được các yếu tố nguy cơ nhiễm HPV trước đó

cộng thêm kỹ thuật PCR nhằm xác định HPV khá đắt nên chúng tôi rất tiếc

không lấy được yếu tố nguy cơ này vào tiền sử, chúng tơi hy vọng có thể

tiếp tục nghiên cứu yếu tố nguy cơ này trong một nghiên cứu khác.

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ hút thuốc chiếm 37,8%, hầu hết

bệnh nhân đã hút thuốc trên 10 năm. Tỷ lệ bệnh nhân uống rượu chiếm

29,7%, ăn trầu chiếm 8%, tiền sử gia đình có người mắc ung thư chiếm

5,4%. Tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm mạn tính cao chiếm

48,6%.

Theo Hàn Thị Vân Thanh (2012) bệnh nhân có tiền sử hút

thuốc lá, thuốc lào trên 10 năm chiếm tỷ lệ 51,2%. Tiếp đến là nhóm bệnh

nhân uống rượu chiếm tỷ lệ 46,3%. Bệnh nhân ăn trầu chiếm tỷ lệ 14,6%



65



và bệnh nhân có tổn thương mạn tính vùng khoang miệng chiếm tỷ lệ thấp

9,7%. Như vậy tỷ lệ viêm nhiễm mạn tính của chúng tơi cao hơn nhiều so

với của tác giả. Điều này có thể gián tiếp cho thấy rằng đa phần các bệnh

nhân đến muộn, để viêm nhiễm tiến triển lâu ngày.

Còn theo Nguyễn Thị Hương Giang (2002) nghiên cứu 288 trường

hợp UTBM khoang miệng đã nhận thấy tỷ lệ hút thuốc là 67,7%, uống

rượu là 62,2% và ăn trầu ở nữ giới là 61,8%. So với chúng tôi các yếu tố

nguy cơ của tác giả có tỷ lệ cao hơn.

4.1.3. Thời gian đến khám và điều trị

Thời gian đến khám được tính là khoảng thời gian từ khi bệnh

nhân phát hiện triệu chứng đầu tiên đến khi bệnh nhân đến cơ sở tế

khám. Trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian trung bình là 7,6 tháng.

Hay gặp nhất là 6 tháng. Bệnh nhân khám ngay trong tháng đầu tiên khi

có triệu chứng chỉ có 4, chiếm 10,8%. Tuy nhiên có những bệnh nhân

không đi khám mà để một thời gian dài 36 đến 48 tháng mới đi khám và

điều trị, những bệnh nhân này là người ở vùng cao hoặc gia đình khó

khăn, bản thân kém nhân thức về nguy cơ khi bị viêm nhiễm mạn tính.

Thời gian từ khi đi khám đến khi điều trị được tính là khoảng thời

gian kể từ khi bệnh nhân đi khám lần đầu tiên đến khi vào viện răng hàm

mặt điều trị. Thời gian ngắn nhất là 1 tháng, lâu nhất có bệnh nhân Vũ Thị

H 60 tháng sau mới được chẩn đoán xác định và được điều trị. Thời gian

trung bình từ khi phát hiện đến khi điều trị là 6,3 tháng. Đây là lý do giải

thích tại sao đa số bệnh nhân đến muộn vào giai đoạn II, III của bệnh.

Thời gian từ khi bị bệnh đến khi điều trị là khoảng thời gian từ khi

phát hiện triệu chứng đầu tiên đến khi điều trị. Tính bằng tổng hai khoảng

thời gian trên. Trung bình 13,9 tháng. Lâu nhất là 72 tháng.



66



So sánh với 1 số tác giả khác thì tơi nhận thấy thời gian từ khi phát

hiện đến khi điều trị trong nghiên cứu của chúng tôi dài hơn. Theo Hàn Thị

Vân Thanh thời gian trung bình là 4,1 tháng, lâu nhất là 13 tháng. Còn theo

Nguyễn Thị Hương Giang thì thời gian trung bình là 6,7 tháng, lâu nhất là

10 năm.

4.1.4. Vị trí khối u

Trong nghiên cứu của chúng tơi vị trí khối u gặp nhiều nhất là lợi

hàm dưới (40,5%) sau đó đến sàn miệng (21,6%), lợi hàm trên và khẩu cái

cứng (16,2%), lưỡi (10,8%), niêm mạc má (8,1%), cuối cùng là môi

(2,7%). Tỷ lệ này rất khác nhau ở các nghiên cứu khác nhau. Tại Việt Nam,

thứ tự các vị trí thường gặp khác nhau giữa các nghiên cứu. Theo nghiên cứu

của Nguyễn Thị Hồng và cộng sự (năm 2006) cho thấy rằng ung thư lưỡi

chiếm tỷ lệ cao nhất, thứ tự tiếp theo là sàn miệng, lợi, khẩu cái, tam giác sau

hàm, má và cuối cùng là mơi. Còn nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Giang

(năm 2002) thì thứ tự các ung thư theo tỷ lệ giảm dần như sau: lưỡi, lợi, má,

môi, sàn miệng và khẩu cái [19], [28]. Tuy nhiên trong hầu hết các nghiên cứu

khác đều cho thấy tỷ lệ ung thư lưỡi là cao nhất, Tuy nhiên trong nghiên cứu

của chúng tôi ung thư lưỡi chỉ xếp ở vị trí thứ tư.

Vị trí hay gặp thứ hai là sàn miệng chiếm 21,6 %. Theo nghiên cứu

của Nguyễn Thị Hồng và cộng sự (2006) thì tỷ lệ này là 19,9%, còn theo

Vũ Quảng Phong (2013) thì tỷ lệ này thấp hơn chiếm 12,7%.

Vị trí ít gặp nhất là môi chiếm 2,7% (1/37 bệnh nhân). Tỷ lệ này

cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Hàn Thị Vân Thanh, Vũ

Quảng Phong [20], [42].



67



4.1.5. Hình thái tổn thương của u.

Về hình thái tổn thương của khối u chúng tôi chia làm 4 loại gồm:

Loét đơn thuần, sùi đơn thuần, loét phối hợp sùi và tổn thương thâm nhiễm

cứng, trong đó loét là những trường hợp tổn thương chỉ có trợt loét, giả

mạc đơn thuần. Sùi là những trường hợp tổn thương chỉ có sùi đơn thuần

khơng kèm theo tổn thương khác. Loét sùi là hình thái tổn thương sùi kèm

theo có loét, hoại tử bề trên tổn thương. Thâm nhiễm cứng là các trường

hợp tổn thương dầy, cứng niêm mạc khơng có sùi, lt kèm theo.

Trong nghiên cứu chúng tơi nhận thấy hình thái tổn thương loét sùi

chiếm tỷ lệ cao nhất 59,5% (22/37). Các hình thái tổn thương còn lại gần

tương đương nhau cụ thể: sùi chiếm 16,2% (6/37), loét chiếm 13.5%(5/37),

thâm nhiễm cứng chiếm 10,8% (4/37).

Tỷ lệ loét sùi của chúng tôi cao hơn các nghiên cứu trước đây

Nguyễn Thị Hồng và cộng sự là 39%, Vũ Quảng Phong là 37,4%.

4.1.6. Kích thước u

Kích thước khối u cũng là một vấn đề đáng được quan tâm. Đa số

bệnh nhân đến khám ở giai đoạn T2, T3 tức là tương ứng với kích thước

khối u khoảng trên dưới 4cm. Tỷ lệ khối u ở hai giai đoạn này là 79,2%

trong đó T2 là 62,9%. Cùng với thời gian đến khám muộn, kích thước khối

u lớn cho thấy một sự chủ quan, thiếu hiểu biết về bệnh trong cộng đồng.

Kích thước u lớn còn ảnh hưởng đến khả năng điều trị phẫu thuật do tạo

khuyết hổng lớn khi cắt bỏ khối u, khó tạo vạt, xoay vạt, chuyển vạt để

đóng kín khuyết hổng.

Theo Vũ Quảng Phong T1 Chiếm 23,8%, T2 chiếm 42,8%, T3 là

7,8% và T4 là 25,6%. Còn theo Nguyễn Thị Hương Giang T1 chiếm 6,9%,



68



T2 là 43,8%, T3 bằng 25,7% và T4 là 26,6%. Như vậy tỷ lệ T2 và T3 trong

nghiên cứu của chúng tơi cao hơn.

4.1.7. Đặc điểm hạch

Tỷ lệ có hạch cổ là 21,6%, chỉ có hạch độ 1 và độ 2 trong đó độ 1

chiếm 87,5% , khơng có trường hợp nào phát hiện hạch độ 3. Theo Vũ

Quảng Phong tỷ lệ phát hiện hạch cổ là 25,4%, Nguyễn Thị Hương Giang là

43,3%, Nguyễn Thị Hồng là 39%. Như vậy tỷ lệ phát hiện hạch cổ hạch

trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn [19], [28], [42].

4.1.8. Di căn xa

Trong nghiên cứu chỉ có một trường hợp di căn xa (M1) chiếm

2,7%.vị trí di căn là phổi. Theo Nguyễn thị Hương Giang là 1,4% và toàn bộ

cũng đề di căn phổi, Vũ Quảng Phong là 1,1% trong đó 85,7% di căn phổi.

4.1.9. Phân loại theo giai đoạn bệnh ( TMN)

Đa số bệnh nhân đến khám và điều trị vào giai đoạn II và giai đoạn

III chiếm 86,5%. Đây là giai đoạn muộn, khối u đã phát triển lớn, có thể

xâm lấn tổ chức mơ đệm xung quanh, dễ có nguy cơ di căn xa gây khó

khăn cho q trình điều trị. Điều này một lần nữa cho thấy các bệnh nhân

ung thư được khám, phát hiện và đến điều trị rất muộn.

4.2. ĐIỂM MÔ ĐẶC BỆNH HỌC CỦA UTBM KHOANG MIỆNG

4.2.1. Phân loại mô học

Mô bệnh học của các ung thư đầu cổ nói chung và các UTBM khoang

miệng nói riêng chủ yếu là ung thư biểu mô vảy và các biến thể của nó bao

gồm ung thư biểu mơ vảy mụn cơm, ung thư biểu mô vảy tế bào thoi, ung

thư biểu mô vảy dạng đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy dạng tuyến, ung thư

biểu mô tuyến vảy và ung thư biểu mô nhú tế bào vảy (chiếm đến 95%).



69



Ngồi ra, các loại mơ bệnh học khác như ung thư tuyến nước bọt phụ (ung

thư biểu mô biểu bì nhầy, ung thư biểu mơ tuyến nang), u nguyên bào tạo

men, u hắc tố ác tính... chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 5%) [3], [6].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Giang (2002), trong số

288 trường hợp UTBM khoang miệng, tỷ lệ UTBM vảy chiếm 93,05%

[19]. Tỷ lệ này trong nghiên cứu của Trần Đặng Ngọc Linh là 96,5% [12].

Còn theo Hàn Thị Thanh Vân (2012) UTBM vảy chiếm tỷ lệ 75,6% [20].

Trong nghiên cứu của chúng tôi UTBM vảy chiếm 91,9%. UTBM

tuyến nang chiếm 2,7%, UTBM bì nhày chiếm 5,4%.

4.2.2. Độ mô học

Độ mô học càng cao tương ứng với các tế bào càng kém biệt hóa,

ung thư sẽ phát triển càng nhanh. Tỷ lệ độ mô học I là 37,8%, độ II là

56,8%, độ III chiếm 5,4%.Như vậy trong phân độ mơ học thì độ II chiếm

đa số. Các tỷ lệ này tương ứng với Nguyễn Thị Hương Giang và Hàn Thị

Thanh Vân [19], [20].

4.2.3. Xâm nhập mơ đệm

Có 33/34 bệnh nhân UTBM vảy có xâm nhập mô đệm, chiếm 97,1%.

4.3. P53 VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ

BỆNH HỌC

Phát hiện kháng thể kháng p53 đã được tìm thấy từ hơn 30 năm

trước ở động vật và kháng thể này ở người được phát hiện lần đầu tiên ở

các bệnh nhân ung thư vú. Trong nhiều năm qua, người ta đã chứng minh

được sự đột biến gen p53 ở rất nhiều loại ung thư khác nhau và việc phát

hiện ra chúng nhờ tích tụ protein p53 bất thường tồn tại trong tế bào. Với

những kết quả nghiên cứu được thừa nhận, việc đánh giá tỷ lệ và mức độ

bộc lộ protein p53 bằng hóa mơ miễn dịch có ý nghĩa quan trong trong điều



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa p53 với độ mô học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×