Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ung thư biểu mô khoang miệng chiếm 40% - 50% các ung thư đầu cổ. Trên thế giới, ung thư biểu mô khoang miệng chiếm tỷ lệ 4 - 50% các loại ung thư. Sở dĩ có sự biến thiên lớn như vậy là do tỷ lệ mắc ung thư biểu mô khoang miệng rất khác nhau tùy theo vùng

Ung thư biểu mô khoang miệng chiếm 40% - 50% các ung thư đầu cổ. Trên thế giới, ung thư biểu mô khoang miệng chiếm tỷ lệ 4 - 50% các loại ung thư. Sở dĩ có sự biến thiên lớn như vậy là do tỷ lệ mắc ung thư biểu mô khoang miệng rất khác nhau tùy theo vùng

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



Theo ghi nhận của Bùi Diệu và cộng sự trong giai đoạn 2004 - 2008,

UTBM khoang miệng là một trong mười ung thư phổ biến nhất ở nam giới

[2], [3], [4], [5].

1.3.1.1. Giới

Bệnh gặp chủ yếu ở nam, tỷ lệ giữa nam và nữ rất khác nhau, tùy

từng vùng dân cư và có xu hướng thay đổi. Tỷ lệ mắc ở nam ổn định hoặc

giảm trong khi tỷ lệ này ở nữ tăng lên. Ở Mỹ, tỷ lệ nam/nữ từ 4/1 cách đây 40

năm giảm xuống 3/1 và hiện nay là 2/1. Ở Pháp trước kia tỷ lệ này là 12/1 và

hiện nay là 3,7/1. Còn ở Ấn Độ, tỷ lệ hiện nay là 1/1. Theo Nguyễn Thị

Hương Giang nam/nữ là 1,5/1, Vũ Quang Phong là 1,94/1. [16], [17], [18],

[19], [42].

1.3.1.2. Tuổi

Theo các nghiên cứu trước đây, bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 50 70. Trên 90% bệnh nhân UTBM khoang miệng xuất hiện ở tuổi trên 45 và

tăng ổn định đến 65 tuổi sau đó lại giảm. Hiện nay, tuổi mắc UTBM

khoang miệng có xu hướng trẻ hơn có thể là do sự gia tăng số người trẻ hút

thuốc, lạm dụng rượu bia hay sử dụng thực phẩm ô nhiễm … [16], [17].

1.3.2. Các yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân ung thư biểu mô khoang miệng chưa được biết rõ, tuy

nhiên có rất nhiều yếu tố được coi là yếu tố nguy cơ của ung thư biểu mô

khoang miệng.

1.3.2.1. Thuốc lá

Thuốc lá được cho là có liên quan đến hầu hết các ung thư biểu mô

khoang miệng ở nam và hơn nửa số ung thư biểu mô khoang miệng ở nữ.

Thuốc lá có trên 4000 thành phần khác nhau trong đó có 50 chất đã được

biết là những chất gây ung thư [16].

Tại Việt Nam, tỷ lệ hút thuốc ở nam giới khoảng 30 % , tỷ lệ này



20



có nguy còn tăng cao trong tương lai. Hút thuốc lá khơng chỉ có hại cho

sức khỏe, mà còn là một trong những yếu tố nguy cơ cao đối với ung

thư đường hơ hấp và tiêu hóa trên. Theo thống kê tại bệnh viện K,

97,5% bệnh nhân nam ung thư đường hơ hấp trên có hút thuốc, còn tỷ

lệ bệnh nhân nam hút thuốc tại trung tâm ung bướu thành phố Hồ Chí

Minh là 91,3%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ có hút

thuốc là 86,3%, đặc biệt theo Nguyễn Văn Vi và Huỳnh Anh Lan, tỷ lệ

bệnh nhân nam ung thư biểu mơ khoang miệng có hút thuốc là 92,4%.

Thời gian, tần suất hút thuốc cũng liên quan mật thiết với ung thư

biểu mô khoang miệng. Theo Nguyễn Bá Đức và Phạm Hoàng Anh,

những người hút thuốc từ 1-19 năm có nguy cơ mắc ung thư đường hô

hấp trên cao gấp 4,2 lần những người không hút, nếu hút từ 40 năm

trở lên, nguy cơ này tăng lên 10 lần. Theo nghiên cứu của Gehanno cho

thấy hút 15 điếu/ ngày kéo dài 20 năm nguy cơ mắc cao gấp 5 lần so

với người không hút thuốc và thường gặp ở nam giới. Nguyễn Văn Vi

và cộng sự cho thấy nguy cơ mắc ung thư lưỡi do hút thuốc lá đứng

thứ 3 sau ung thư môi, niêm mạc má. Theo Ngơ Đồng Khanh (2000),

hút thuốc có liên quan tới tổn thương ung thư và tiền ung thư khoang

miệng. Người hút thuốc dưới 5 điếu/ngày có nguy cơ tổn thương tiền

ung thư và ung thư cao hơn gấp 2 lần so với người không hút thuốc.

Trong trường hợp hút thuốc từ 6 đến 20 điếu/ngày, nguy cơ này lăng

lên gấp 4 lần

1.3.2.2. Rượu

Chỉ có dưới 3% số bệnh nhân ung thư đường hơ hấp và tiêu hóa trên

khơng uống rượu. Rượu và thuốc lá có tác dụng hiệp đồng. Một yếu tố đơn

độc có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 2 - 3 lần nhưng khi kết hợp lại

chúng có thể tăng 15 lần [16]. Cơ chế gây ung thư của rượu chưa rõ



21



ràng, tuy nhiên có các giả thuyết cho rằng:

Rượu có chứa các chất sinh ung thư.

Rựợu có vai trò hồ tan các chất sinh ung thư, nhất là các chất sinh

ung thư có trong thuốc lá.

Rượu có vai trò kích thích tại chỗ.

Rượu làm mất khả năng sửa chữa ADN sau tiếp xúc với nitrosamin.

Sự thay đổi hoạt động của các tế bào gan khi uống rượu (gan sản

xuất ra men thúc đẩy sự chuyển các tiền chất sinh ung thư thành chất sinh

ung thư).

Ngồi ra, tình trạng suy dinh dưỡng kém ở người nghiện rượu cũng

là yếu tố nguy cơ.

Nguy cơ ung thư tăng phụ thuộc vào số lượng và thời gian uống

rượu. Ở Việt Nam, theo thống kê của Phạm Hoàng Anh, tỷ lệ nam mắc ung

thư biểu mô khoang miệng có uống rượu là 76,4%.

1.3.2.3. Ăn trầu

Nhiều nghiên cứu bệnh chứng và thuần tập đã khẳng định mối liên

quan giữa ăn trầu và UTBM khoang miệng. Theo Gupta, nhai trầu là yếu tố

quan trọng nhất ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc cao của UTBM khoang miệng ở

Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á [28], [29].



1.3.2.4. Các tổn thương tiền ung thư

Các tổn thương tiền ung thư thường gặp trong ung thư biểu mô

khoang miệng là bạch sản, hồng sản và xơ hoá dưới niêm mạc. Các tổn

thương này chưa phải là ung thư song có nguy cơ chuyển thành ung thư khi



22



có các tác nhân sinh ung thư tác động vào [17].

Bạch sản được đặc trưng bởi quá sản sừng và thường liên quan với tăng

sản biểu mô. Trong trường hợp khơng có loạn sản, tỷ lệ biến đổi ác tính ít

khoảng 5%. Biểu hiện là các tổn thương thành đám, màu trắng nhạt, ranh giới

rõ hoặc không rõ, không mất đi khi gạt, gồm tổn thương dạng phẳng, dạng

sùi, dạng mụn cơm và dạng nứt kẽ. Thường nằm ở niêm mạc má, sàn miệng.

Hồng sản được đặc trưng bởi các mảng màu đỏ trên bề mặt ranh giới

với niêm mạc bình thường. Thường được kết hợp với loạn sản biểu mơ và

có liên quan với ung thư biểu mô tại chỗ hoặc ung thư xâm lấn lên đến

40% các trường hợp.

Loạn sản có đặc điểm mơ bệnh học là sự hiện diện của phân bào

nguyên nhiễm và hạt nhân nổi. Sự tham gia dày toàn bộ niêm mạc thường

được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. Loạn sản gắn liền với tiến triển đến

ung thư xâm lấn từ 15 - 30% các trường hợp.

1.3.2.5. Các yếu tố nguy cơ khác

Có quan điểm cho rằng nấm Candidas Ablicans tạo ra chất NNitrobenzyl-Methylamin, là một chất sinh ung thư. Giang mai mạn tính

cũng bị nghi ngờ có liên quan đến ung thư biểu mơ khoang miệng. Bên

cạnh đó, một số loại virus có thể liên quan đến UTBM khoang miệng như

virus Herpes Simplex Virus 1 (HSV). Đặc biệt virus gây u nhú ở người

(Human Papilloma Virus – HPVs) hiện nay được xác định là một trong

những nguyên nhân chính gây biến đổi niêm mạc miệng gây ung thư. Tuy

nhiên trong khuân khổ đề tài này do không đủ điều kiện xác định tình trạng

nhiễm HPV hay khơng nên chúng tôi để dành cho một nghiên cứu khác.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ung thư biểu mô khoang miệng chiếm 40% - 50% các ung thư đầu cổ. Trên thế giới, ung thư biểu mô khoang miệng chiếm tỷ lệ 4 - 50% các loại ung thư. Sở dĩ có sự biến thiên lớn như vậy là do tỷ lệ mắc ung thư biểu mô khoang miệng rất khác nhau tùy theo vùng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×