Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quá trình phân bào diễn ra qua các pha sau.

Quá trình phân bào diễn ra qua các pha sau.

Tải bản đầy đủ - 0trang

33



đã sẵn sàng hồn tất q trình phân bào.

Điểm kiểm soát chu kỳ tế bào được tế bào sử dụng nhằm giám sát và

điều tiết diễn biến chu kỳ tế bào [40]. Điểm kiểm sốt có vai trò ngăn chặn

chu kỳ tế bào tại một số điểm nhất định, nhờ đó tế bào có thể kiểm định lại

một số diễn biến và quá trình cần thiết và sửa chữa những chỗ sai hỏng của

ADN. Tế bào không thể thực hiện pha kế tiếp của chu kỳ cho đến khi nó

thỏa mãn các yêu cầu mà điểm kiểm soát đặt ra.

Một số điểm kiểm soát được thiết kế để đảm bảo các ADN bị sai

hỏng hay thiếu sót sẽ khơng được truyền cho các tế bào con cháu. Hai điểm

kiểm soát như vậy tồn tại là điểm kiểm soát G1/S và điểm kiểm soát G2/M.

Sự chuyển tiếp G1/S là một bước hạn chế bởi tỉ lệ trong chu kỳ tế bào và

cũng được biết đến với cái tên điểm giới hạn (trong tế bào động vật)

hay điểm bắt đầu (trong nấm men) [41]. Một mơ hình về phản ứng của chu

kỳ tế bào trước các sai hỏng của ADN đã được đề xuất, mang tên là điểm

kiểm sốt sau nhân đơi ADN.

P53 đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi mào các cơ chế

kiểm soát chu kỳ tế bào ở cả hai điểm kiểm sốt G1/S và G2/M.

1.6.2. Gen kìm chế khối u (tumor suppressor gene - TSG)

Việc phân tích phân tử các khối u ở người đã vạch rõ rằng: mỗi

trường hợp ung thư đều có ít nhất là một biến đổi di truyền phức hợp trong

một nhiễm sắc thể bị ức chế, ngày nay được hiểu chính là gen kìm hãm

khối u (TSG).

Từ giữa 1994 đến cuối 2002 đã có trên 25 thử nghiệm lâm sàng về

trị liệu thay thế TSG đã được thực hiện, những kết quả thu được đã vạch ra

một tương lai đầy hứa hẹn của TSG trong việc quản lý ung thư. Một trong

số các TSG đã bị biến đổi phổ biến nhất, đó là p53.



34



Với việc so sánh giữa các tế bào bình thường và các tế bào ác tính ở

mức độ gen đã nhanh chóng chỉ ra sự liên quan của các các gen ung thư

trội trong việc tìm ra nguyên căn ung thư. Theo di truyền hiện tại: ung thư

là kết quả của sự tích lũy đa tổn thương di truyền trong suốt thời gian sống

của một cá thể. Khi mất chức năng ở TSG thì sẽ dẫn tới ung thư. Trong các

ung thư có tính chất gia đình thì một allele biến đổi được di truyền lại như

một đột biến mầm, còn allele kia là kết quả của sự biến đổi thu được sau

này. Còn với ung thư “rời rạc” đó là kết quả của sự đột biến soma ở cả 2

allele của gen nguy cấp trong thời gian sống của cá thể.

Mặc dù cơ sở di truyền của sinh khối u đã được thừa nhận, nhưng

việc trị liệu thay thế gen lại không được cân nhắc trước tiên như một chiến

lược điều trị ung thư, nhưng 3 khảo sát lâm sàng về thay thế gen p53 trong

ung thư kết tràng và ung thư phổi vẫn được khởi đầu vào năm 1994. Đến

cuối 2002, 25 quy trình thay thế TSG đã được phê chuẩn bao gồm 7 khảo

sát phase II và 2 khảo sát phase II-III phức. Những kết quả của các khảo sát

lâm sàng đã nhanh chóng đưa ra “bằng chứng của các nguyên lý” bằng việc

chứng minh có sự chuyển giao TSG tới các tế bào khối u, sự biểu hiện gen

trong các tế bào đích, hiệu ứng gây độc tối thiểu và những bằng chứng chót

về sự thoái lui hay sự ổn định của các khối u đã được xử lý. Những khảo

sát sau này đã chứng minh rằng việc thay thế TSG cũng hoàn lại cho các

khối u sự nhạy cảm hơn đối với các hiệu ứng trị liệu DNA (đã bị hủy hoại),

mở rộng ứng dụng việc thay thế TSG với các quy trình có sự kết hợp giữa

trị liệu thay thế TSG với hóa trị liệu và xạ trị.

Nhờ những kết quả đầy hứa hẹn này trong lâm sàng mà đã đẩy nhanh

tiến độ của các cơng trình thực nghiệm và kết quả của các nghiên cứu ở

phòng thí nghiệm đã tạo điều kiện để đưa ra giả định mới là sự hủy hoại

TSG xảy ra tương đối sớm trong diễn tiến của các tổn thương di truyền sẽ



35



dẫn tới ung thư. Sự hủy hoại của TSG ứng viên phát hiện được ở biểu mơ

phổi bình thường và trong các tổn thương tiền u đã chứng minh rằng các

TSG ngoài việc đem lại lợi ích trị liệu đối với các bệnh nhân ung thư nó

còn có giá trị trong việc phòng ngừa và phát hiện sớm ung thư [43].

1.6.3 P53

Gen p53 có trọng lượng 53KDa, nằm ở cánh tay ngắn NST số 17.

Gen này mã hố tổng hợp protein có trọng lượng phân tử 53 kDa, gọi tắt là

p53. Protein này có ở trong nhân của mọi tế bào với lượng rất ít (khi khơng

bị đốt biến, lượng p53 trong nhân tế bào ít đến mức không thể phát hiện

được bằng nhuộm HMMD). Gen p53 được coi là có vai trò điều hồ gen

phân chia tế bào, kiểm tra sự phân chia tế bào và tham gia mở đầu hiện

tượng appotosis [45]. Khi AND của tế bào bị tổn thương protein P53 sẽ

ngăn cản tế bào khơng phân chia để có thời gian tế bào sửa chữa AND hoặc

khi khơng sửa chữa được thì thúc đẩy tế bào chết theo chương trình.



36



Hình 1.13 Minh họa cơ chế hoạt động của p53

Những tế bào ung thư phân chia liên tục và khơng có hiện tượng

chết theo chương trình và người ta cho rằng gen p53 đã bị đột biến nên

protein do gen này sản xuất ra khơng còn thực hiện được chức năng vốn có

của nó, khơng kiểm tra được sự phân chia tế bào một cách bình thường.

Gen p53 cũng bị ức chế bởi biến dị điểm. Bình thường nó có thể bị ức chế

bởi sự hình thành phức hợp với protein tế bào hay bởi proteolysis. P53 có

thể liên kết với các protein khác nhau của virus hình thành phức hợp khơng

hoạt động và do vậy virus áp chế p53 và sinh ung thư (Oncoprotein (E6)



37



được sản xuất bởi HPV khi kết hợp làm thoái hoá p53 [46]). Tuy nhiên sự

xác định đột biến của gen này khơng đơn giản vì nó có tới 23.000

nucleotid, mà 90% sự đột biến chỉ xảy ra ở một chuỗi nucleotid [47]. Như

vậy phải phân tích tồn bộ gen mới có thể xác định được đột biến và đây là

một công việc không hề đơn giản, tốn kém. Trong thực tế, người ta phát

hiện protein của gen này bằng cách đơn giản hơn. Khi gen này đột biến thì

một protein p53 bất thường được gen này mã hố tổng hợp. Protein p53 bất

thường này có thời gian bán huỷ dài hơn protein p53 bình thường. Vì vậy

nó được tích luỹ ở trong nhân tế bào với số lượng đủ lớn để có thể phát

hiện bằng kỹ thuật hố mơ miễn dịch (Người ta đo sự bộc lộ protein p53

bằng hố mơ miễn dịch là một xét nghiệm chính xác để phát hiện sự tích

luỹ bất thường của gen này trong nhân tế bào) [46]. Đồng thời khi protein

p53 bất thường có hàm lượng cao trong tế bào thì cũng xuất hiện kháng thể

chống lại nó và người ta có thể phát hiện bằng huyết thanh kháng protein

p53 [46]. Thậm chí kháng thể p53 xuất hiện sớm hơn khi nồng độ CEA còn

ở ngưỡng bình thường và khi các phương pháp chẩn đốn hình ảnh chưa

phát hiện được khối u, do vậy đây còn được coi là phương pháp phát hiện

sớm ung thư vì sự thay đổi p53 diễn ra ở >50% số ung thư ở người. Nghiên

cứu của Nobuyuki Bandoh và cộng sự (2002) trên 70 BN người Nhật bị

UTBM đầu cổ cho thấy 29% BN có đột biến gen P53, biểu hiện protein

P53 quá mức trên nhuộm HMMD là 56%. Phân tích Kaplan-Meier cũng

như phân tích đơn biến bằng cách sử dụng mơ hình tỷ lệ nguy cơ Cox cho

thấy hiệu quả hóa xạ trị kém ở những BN có bộc lộ protein P53 quá mức

[47].

Dấu ấn p53 biểu hiện trong nhiều loại ung thư. Theo Hàn Thị Vân

Thanh p53 cho tỷ lệ dương tính thấp ở nhóm vảy (45,2%), dương tính cao ở

nhóm vảy đáy (100%), âm tính ở nhóm vảy nhú và nhầy biểu bì trong ung



38



thư miệng. Theo Lê Minh Huy (2012) P53 dương tính chiếm 26,5% trong ung

thư biểu mơ tế bào gan [37]. Theo Trần Thị Kim Cúc (2012) đột biến gen p53

chiếm khoảng 50% ung thư ở người. Trong ung thư niêm mạc miệng chiếm

25 - 69%. Theo Nguyễn Thị Hồng (2011) thì tần suất bộc lộ p53 là 75,5%

[48]



39



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư khoang miệng khám

và điều trị tại Khoa phẫu thuật hàm mặt - Bệnh viện răng hàm mặt trung

ương Hà Nội từ tháng 1 năm 2014 đến hết tháng 10 năm 2014.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

Các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tế bào biểu mơ khoang miệng có

xét nghiệm mơ bệnh học và được làm xét nghiệm hóa mơ miễn dịch p53 tại

Khoa phẫu thuật và tạo hình hàm mặt - Bệnh viện răng hàm mặt trung ương

Hà Nội. Chúng tôi chỉ lấy những bệnh nhân điều trị lần đầu, chưa điều trị xạ

trị hay hóa chất.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

Tất cả các trường hợp không thỏa mãn đầy đủ các tiêu chuẩn lựa

chọn ở trên.

Vị trí khối u không trong khoang miệng hoặc khối u di căn từ nơi

khác đến.

Hồ sơ bệnh án không đầy đủ thông tin.

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Chúng tôi lựa chọn phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.2.2. Cỡ mẫu

Chúng tôi lấy mẫu tồn bộ với lý do: chúng tơi đã thống kê sơ bộ, có

từ 4 đến 10 bệnh nhân ung thư khoang miệng đến khám và điều trị tại khoa



40



Phẫu thuật và tạo hình hàm mặt trong một tháng. Chúng tôi lấy mẫu từ

tháng 1/2014 đến tháng 10/2014 ước lượng cỡ mẫu từ 30 đến 40 bệnh

nhân. Trong nghiên cứu này chúng tôi lấy được cỡ mẫu là 37 nhân đủ tiêu

chuẩn đề ra.

2.2.3. Biến số nghiên cứu.

Bệnh nhân được thu thập thông tin lâm sàng, xét nghiệm mô bệnh

học, xét nghiệm hóa mơ miễn dịch theo bệnh án nghiên cứu với các mục cơ

bản dưới đây.

2.2.3.1. Thông tin lâm sàng

Bao gồm:

- Độ tuổi, giới tính

- Ngày vào viện, ra viện

- Lý do đến khám

+ Cảm giác đau rát ở mơi hoặc ở trong miệng nơi có tổn thương.

+ Sưng nề, phồng hoặc loét ở môi hoặc trong miệng.

+ Xuất hiện các mảng cứng, mảng trắng hoặc các mảng đỏ trong miệng.

+ Tiết nhiều nước bọt, đôi khi trong nước bọt có máu đây là triệu

chứng hay gặp trong ung thư lưỡi.

+ Cảm giác đau vướng hoặc có vật lạ trong miệng.

+ Nhai đau có thể kèm theo nuốt khó, nuốt đau.

+ Đau tai.

+ Lung lay răng.

+ Hạch cổ có thể do bệnh nhân tự sờ thấy hoặc phát hiện tình

cờ khi thăm khám răng hàm mặt.

- Thời gian khám. Bao gồm:

Thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi đi khám lần

đầu tiên tính từ tuyến huyện trở lên (đơn vị được tính theo tháng) được chia

theo các mốc.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quá trình phân bào diễn ra qua các pha sau.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×