Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
UTBM tế bào vảy (Squamous cell carcinoma)

UTBM tế bào vảy (Squamous cell carcinoma)

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



nhạt (hồng sản), nhiều nghiên cứu cho thấy rằng vết hồng sản thường là

biểu hiện của các ung thư giai đoạn sớm.

Các tổn thương ung thư bao gồm hình thái sùi, loét, thâm nhiễm.

Biểu hiện các tổn thương có thể độc lập hay phối hợp với nhau, có thể kèm

theo chảy máu tại khối u [24].

* Vi thể:

Ung thư biểu mô tế bào vảy được phân độ theo hệ thống phân độ của

tổ chức y tế thế giới (WHO) thành: biệt hóa cao, biệt hóa vừa và biệt hóa

kém [16], [17], [21]. Tiêu chuẩn phân độ dựa vào: mức độ khác biệt của tế

bào ung thư với tế bào biểu mơ vảy, sự đa hình của nhân và hoạt động phân

bào.

Độ biệt hóa cao: tế bào ung thư gần tương tự như tế bào biểu mơ vảy

bình thường, chứa đựng tỉ lệ lớn những tế bào sừng và tỉ lệ nhỏ các tế bào

dạng đáy, những tế bào thường ở vị trí bao quanh các đảo u. Có những cầu

liên bào thường sừng hóa đầy đủ. Phân bào ít.



Hình 1.5. Hình ảnh vi thể ung thư biểu mơ tế bào vảy biệt hóa cao [21]



13



Độ biệt hóa vừa: ung thư biểu mơ vảy biểu hiện sự đa hình của nhân

và sự phân bào nhiều hơn, bao gồm phân bào bất thường, cầu liên bào sừng

hóa ít.



Độ biệt hóa kém: các tế bào dạng đáy chiếm ưu thế cùng với tỉ lệ

phân bào cao, bao gồm những phân bào bất thường, các cầu liên bào

sừng hóa tối thiểu [25].



Hình 1.6. Hình ảnh vi thể ung thư biểu mô tế bào vảy biệt hóa thấp [21]



Ung thư biểu mơ vảy có các biến thể:

Ung thư biểu mô dạng mụn cơm

Ung thư biểu mô tế bào vảy dạng đáy



14



Ung thư biểu mô tế bào vảy nhú

Ung thư biểu mơ tế bào hình thoi

Ung thư biểu mô vảy tiêu gai

Ung thư biểu mô vảy tuyến

Ung thư biểu mơ có hốc sừng hóa (Carcinoma cuniculatum)



Ung thư biểu mơ có nguồn gốc từ tuyến nước bọt phụ gồm có:

* Ung thư biểu mơ dạng tuyến nang (Adenoid cystic carcinoma)

Ung thư biểu mơ tuyến nang còn gọi là u trụ (cylindroma). Ở tuyến

nước bọt phụ, nhất là vùng khẩu cái, đây là loại u thường gặp nhất chiếm

khoảng 32 - 69% các u ác tính tuyến nước bọt phụ [26], [27].

Đại thể: u ở dạng tổn thương xâm nhập ra mô xung quanh. Mặt cắt u

chắc và màu trắng xám.

Vi thể: các tế bào u xếp thành nhiều dạng: ống, sàng và đặc.

Dạng sàng: là dạng thường gặp nhất của u, gồm những chuỗi tế bào

xếp thành dạng lưới giống như đăng ten. Các tế bào này đơi khi lót hồn

tồn hoặc khơng hồn tồn các khoang nang chứa đầy chất tiết có hạt hay

kết tủa. Có khi trong những đám tế bào lại có những khoang dạng ống

tuyến hay dạng nang nhỏ. Trong các khoang nhỏ và vùng kế cận những

đám dạng sàng có chứa chất hyalin hóa, ưa eosin.

Dạng ống: có nhiều nhánh và nhiều ống nhỏ thơng với nhau, thường

có một lớp đơi tế bào biểu mơ.

Dạng đặc: là dạng ít gặp nhất, gồm những tế bào xếp thành đám hay

chuỗi đặc nhỏ [27].



15



Hình 1.7. Hình ảnh vi thể ung thư biểu mơ tuyến nang dạng ống [21]



Hình 1.8. Hình ảnh vi thể ung thư biểu mơ tuyến nang dạng đặc [21]



16



Hình 1.9. Hình ảnh vi thể ung thư biểu mô tuyến nang dạng đặc [21]

* Ung thư biểu mơ dạng biểu bì nhầy (Mucoepidermoid

carcinoma):

Là loại u ác tính thường gặp thứ hai chiếm 15 - 35% các trường hợp

u ác tính có nguồn gốc từ tuyến nước bọt phụ trong miệng [26], [27].

- Đại thể: là một nhân u ranh giới không rõ thường tạo thành nang

trong lòng chứa chất nhầy.

- Vi thể: tế bào u gồm hỗn hợp tế bào gai, tế bào chế nhầy và tế bào có

mức biệt hóa trung gian giữa hai loại trên. Các tế bào này xếp thành chuỗi,

đám hoặc thành cấu trúc nang. Các tế bào trung gian là những tế bào mang

đặc tính của tế bào gai và có khơng bào chứa đầy chất nhầy có phản ứng

dương tính với phương pháp nhuộm PAS hoặc mucicarmine. Tế bào u có thể

biệt hóa rõ với nhân nhỏ, đều, có thể biệt hóa kém hơn với nhân có kích

thước khác nhau, tăng sắc và có khi có nhân chia. Thành phần gai có thể có

cầu sừng, cầu liên bào. Hình thái thường gặp là những đám tế bào gồm tế

bào gai ở vùng ngoài, các tế bào chế nhầy ở trung tâm và các tế bào trung

gian ở giữa hai vùng trên. Mô đệm quanh các đám tế bào biểu mơ thường

khơng rõ ràng.



17



Hình 1.10. Hình ảnh vi thể ung thư biểu mơ dạng biểu bì nhầy [21]

* Ung thư biểu mô tế bào túi tuyến (Acinic cell carcinoma):

Nhóm này được xếp vào độ ác tính thấp và hiếm gặp.

Đại thể: là một nhân u được bao phủ bởi vỏ bọc hoặc khơng, có màu

nhạt, đơi khi lấm tấm các vùng hoại tử và các nang.

Vi thể: tế bào u hợp thành tuyến, có khi hợp thành đám dày đặc hoặc

những chuỗi tế bào lan tỏa. Đôi khi có những khoang nang nhỏ có nhú. Tế

bào u có hình thái giống tế bào túi tuyến bình thường, đa diện hoặc tròn,

nhân nhỏ đều, bào tương chứa các hạt ưa kiềm dương tính khi nhuộm PAS,

có đặc tính của các hạt chế tiết. Hiếm khi có khơng bào (do ứ đọng chất chế

tiết trong bào tương). Trong một số trường hợp ác tính hơn, có thể có hiện

tượng kém biệt hóa. Trong một số u, có thâm nhập nhiều tế bào lympho

trong mơ đệm [27].



18



Hình 1.11. Hình ảnh vi thể của ung thư biểu mô tế bào túi tuyến [21]

1.3. DỊCH TỄ HỌC, NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ

1.3.1. Dịch tễ học - Tần suất

Ung thư biểu mô khoang miệng chiếm 40% - 50% các ung thư đầu

cổ. Trên thế giới, ung thư biểu mô khoang miệng chiếm tỷ lệ 4 - 50% các

loại ung thư. Sở dĩ có sự biến thiên lớn như vậy là do tỷ lệ mắc ung thư biểu

mô khoang miệng rất khác nhau tùy theo vùng dân cư, chủng tộc, văn hóa,

thói quen và điều kiện kinh tế xã hội. Tỷ lệ mắc cao ở Ấn Độ và các nước

Đông Nam Á. Ở Mỹ, tỷ lệ ung thư biểu mô khoang miệng chiếm 3% tổng số

ung thư ở nam, 2% tổng số ung thư ở nữ. Tỷ lệ tử vong do UTBM khoang

miệng chiếm xấp xỉ 2% tổng số nam và 1% tổng số nữ.

Tỷ lệ mới mắc UTBM khoang miệng hàng năm khoảng 11/100.000

dân, tỷ lệ nam/nữ khoảng 2/1. Năm 2002, trên thế giới có trên 270.000

trường hợp mắc UTBM khoang miệng và có khoảng 145.000 trường hợp tử

vong do căn bệnh này và 2/3 số trường hợp mắc bệnh ở các nước đang phát

triển. Tại Mỹ, năm 2006, ước tính có khoảng 30.990 trường hợp mới mắc

và 7.430 trường hợp tử vong do UTBM khoang miệng và đây là nguyên

nhân của 3% các trường hợp tử vong do ung thư ở nam và 2% trong số các

ung thư của nữ.



19



Theo ghi nhận của Bùi Diệu và cộng sự trong giai đoạn 2004 - 2008,

UTBM khoang miệng là một trong mười ung thư phổ biến nhất ở nam giới

[2], [3], [4], [5].

1.3.1.1. Giới

Bệnh gặp chủ yếu ở nam, tỷ lệ giữa nam và nữ rất khác nhau, tùy

từng vùng dân cư và có xu hướng thay đổi. Tỷ lệ mắc ở nam ổn định hoặc

giảm trong khi tỷ lệ này ở nữ tăng lên. Ở Mỹ, tỷ lệ nam/nữ từ 4/1 cách đây 40

năm giảm xuống 3/1 và hiện nay là 2/1. Ở Pháp trước kia tỷ lệ này là 12/1 và

hiện nay là 3,7/1. Còn ở Ấn Độ, tỷ lệ hiện nay là 1/1. Theo Nguyễn Thị

Hương Giang nam/nữ là 1,5/1, Vũ Quang Phong là 1,94/1. [16], [17], [18],

[19], [42].

1.3.1.2. Tuổi

Theo các nghiên cứu trước đây, bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 50 70. Trên 90% bệnh nhân UTBM khoang miệng xuất hiện ở tuổi trên 45 và

tăng ổn định đến 65 tuổi sau đó lại giảm. Hiện nay, tuổi mắc UTBM

khoang miệng có xu hướng trẻ hơn có thể là do sự gia tăng số người trẻ hút

thuốc, lạm dụng rượu bia hay sử dụng thực phẩm ô nhiễm … [16], [17].

1.3.2. Các yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân ung thư biểu mô khoang miệng chưa được biết rõ, tuy

nhiên có rất nhiều yếu tố được coi là yếu tố nguy cơ của ung thư biểu mô

khoang miệng.

1.3.2.1. Thuốc lá

Thuốc lá được cho là có liên quan đến hầu hết các ung thư biểu mô

khoang miệng ở nam và hơn nửa số ung thư biểu mô khoang miệng ở nữ.

Thuốc lá có trên 4000 thành phần khác nhau trong đó có 50 chất đã được

biết là những chất gây ung thư [16].

Tại Việt Nam, tỷ lệ hút thuốc ở nam giới khoảng 30 % , tỷ lệ này



20



có nguy còn tăng cao trong tương lai. Hút thuốc lá khơng chỉ có hại cho

sức khỏe, mà còn là một trong những yếu tố nguy cơ cao đối với ung

thư đường hơ hấp và tiêu hóa trên. Theo thống kê tại bệnh viện K,

97,5% bệnh nhân nam ung thư đường hô hấp trên có hút thuốc, còn tỷ

lệ bệnh nhân nam hút thuốc tại trung tâm ung bướu thành phố Hồ Chí

Minh là 91,3%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ có hút

thuốc là 86,3%, đặc biệt theo Nguyễn Văn Vi và Huỳnh Anh Lan, tỷ lệ

bệnh nhân nam ung thư biểu mơ khoang miệng có hút thuốc là 92,4%.

Thời gian, tần suất hút thuốc cũng liên quan mật thiết với ung thư

biểu mô khoang miệng. Theo Nguyễn Bá Đức và Phạm Hoàng Anh,

những người hút thuốc từ 1-19 năm có nguy cơ mắc ung thư đường hô

hấp trên cao gấp 4,2 lần những người không hút, nếu hút từ 40 năm

trở lên, nguy cơ này tăng lên 10 lần. Theo nghiên cứu của Gehanno cho

thấy hút 15 điếu/ ngày kéo dài 20 năm nguy cơ mắc cao gấp 5 lần so

với người không hút thuốc và thường gặp ở nam giới. Nguyễn Văn Vi

và cộng sự cho thấy nguy cơ mắc ung thư lưỡi do hút thuốc lá đứng

thứ 3 sau ung thư môi, niêm mạc má. Theo Ngơ Đồng Khanh (2000),

hút thuốc có liên quan tới tổn thương ung thư và tiền ung thư khoang

miệng. Người hút thuốc dưới 5 điếu/ngày có nguy cơ tổn thương tiền

ung thư và ung thư cao hơn gấp 2 lần so với người không hút thuốc.

Trong trường hợp hút thuốc từ 6 đến 20 điếu/ngày, nguy cơ này lăng

lên gấp 4 lần

1.3.2.2. Rượu

Chỉ có dưới 3% số bệnh nhân ung thư đường hơ hấp và tiêu hóa trên

khơng uống rượu. Rượu và thuốc lá có tác dụng hiệp đồng. Một yếu tố đơn

độc có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 2 - 3 lần nhưng khi kết hợp lại

chúng có thể tăng 15 lần [16]. Cơ chế gây ung thư của rượu chưa rõ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

UTBM tế bào vảy (Squamous cell carcinoma)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×