Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 GIẢI PHẪU BỆNH LÝ CỦA RAU BONG NON

2 GIẢI PHẪU BỆNH LÝ CỦA RAU BONG NON

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

máu tuỳ thuộc vào diện bánh rau bị bong và mức độ chảy máu. Trong thể

nặng thành tử cung bị tím bầm, các sợi cơ bị bóc tách khỏi nhau và mất

khả năng co bóp.

- Buồng trứng và các tạng khác: Có thể bị chảy máu, nhồi máu nhất là

trong rau bong non thể nặng (phong huyết tử cung rau).

1.2.2. Vi thể

Các mạch máu tại vùng rau bám bị xung huyết vỡ ra tạo thành các vùng

máu tụ và hoại tử, có sự xung huyết ở các mạch máu và huyết khối ở những

tĩnh mạch nhỏ hơn ở vùng sau bánh rau. Trường hợp rau bong non thể nặng

các sợi cơ ngập trong máu và huyết thanh, cơ tử cung và các mạch máu nhỏ bị

xé rách, có nhiều ổ nhồi huyết [1].

1.3. SINH LÝ CỦA RAU THAI



Theo (Buckley và Kulb) rau thai phát triển ở vị trí mà túi phôi bám vào

lớp màng rụng của buồng tử cung [30]. Vị trí bám của rau thai như vậy bình

thường là ở đáy của thân tử cung, cách xa cổ tử cung. Túi phôi sẽ phát triển ra

xung quanh tạo thành những giải tế bào hình sợi, gọi là nhung mao đệm.

Những nhung mao đệm này mở vào các khoảng gian lông, chứa đầy máu

của mẹ do các động mạch xoắn của rau thai cung cấp (còn gọi là các động

mạch rau).

Đồng thời những tế bào của màng nuôi cũng phát triển ra ngồi thành

những thừng để liên kết màng ni với màng rụng. Những tế bào của màng

nuôi này đảm bảo cho rau phát triển được ở trong tử cung. Q trình trao đổi

giữa mẹ và phơi thai xảy ra chính là qua những lớp tế bào của màng ni che

phủ những lơng màng đệm nói trên [53]. Do đó rau thai là cơ quan chủ chốt

đối với sự phát triển của phôi thai.

Trong thời gian 9 tháng bánh rau hoạt động như một hệ thống các cơ quan

hoàn chỉnh. Bánh rau thực hiện các nhiêm vụ của phổi, thận, dạ dày, ruột, hệ nội



5

tiết và dưới đồi, nó là một cơ quan tích cực, năng động chứ khơng đơn thuần là

một hàng rào [24]. Ahokas R.A [23] nhận thấy có ba chức năng chính:

- Trao đổi chất dinh dưỡng và chất cặn bã giữa mẹ và thai, đảm bảo cho

thai sống và phát triển.

- Sản xuất và tiết hóc mơn, đảm bảo vai trò nội tiết để cơ thể mẹ phù hợp

với tình trạng thai nghén.

- Duy trì hàng rào miễn dịch.

Khả năng trao đổi các chất giữa mẹ và thai tốt hay xấu tuỳ thuộc vào

cấu trúc và tình trạng của các gai rau.

Cơ chế trao đổi gồm nhiều cách:

- Khuếch tán đơn giản: dựa vào sự khác biệt về nồng độ của chất trao đổi

có trọng lượng phân tử < 600.

- Khuếch tán gia tăng, nhờ các yếu tố chuyên chở như ion Ca ++, Cl-, cơ

chế này tiêu thụ nhiều năng lượng tế bào.

- Vận chuyển chủ động cần thiết nhiều năng lượng.

- Hiện tượng thực bào.

Nhờ nhiều cơ chế, sự trao đổi qua rau có nhiều chất xảy ra liên tục giữa

hai hệ thống tuần hoàn của mẹ và của con. Lưu lượng tuần hoàn của máu mẹ

là 600ml/phút, trong khi lưu lượng tuần hoàn thai nhi là 70-200ml/phút.

1.3.1 Sự trao đổi chất khí

Xảy ra theo cơ chế khuếch tán đơn giản, tuỳ theo áp suất của các chất khí

hồ tan trong máu mẹ và thai. Oxy có nồng độ cao trong máu mẹ sẽ sang máu

thai. Hemoglobin trong máu mẹ có đặc tính thu nhận oxy dễ dàng. Khí

cacbonic từ máu thai sang máu mẹ cũng cùng một cơ chế.

1.3.2 Sự trao đổi các chất bổ dưỡng

- Nước và các chất điện giải qua rau nhờ cơ chế thẩm thấu. Rau còn dự

trữ sắt và canxi, nhất là vào cuối thời kì thai nghén.



6

- Protein phân giải thành các chất axit amin để qua gai rau rồi lại tổng

hợp thành protein đặc hiệu của thai.

- Các chất mỡ qua rau rất hạn chế.

- Vitamin: Caroten qua rau khó khăn sau khi biến đổi thành VitaminA và

dự trữ trong gan của bài thai. Vitamin nhóm B và C qua rau rất dễ.

1.3.3. Vai trò bảo vệ

- Vi khuẩn bị hàng rào rau thai ngăn cản không cho qua. Xoắn trùng

giang mai qua rau sau tháng thứ 5. Siêu vi trùng có thể qua rau dễ dàng như

vi rút gây bệnh thuỷ đậu, Rubela...

- Các kháng thể qua rau tạo khả năng miễn dịch thụ động cho thai nhi.

- Các thuốc có trọng lượng phân tử dưới 600 đều qua rau dễ, ngược lại

các chất có trọng lượng phân tử trên 1000 sẽ khó qua rau thai.

1.3.4. Vai trò nội tiết

Những hormon của bánh rau tràn vào cơ thể người mẹ làm cho người mẹ

đáp ứng với tình trạng thai nghén, gồm có hai loại:

+ Các hormon loại peptid

- hCG (human chorionic gonadotopin) được tiết ra từ đơn bào nuôi. Sự

tiết hCG bắt đầu từ khi trứng làm tổ, tăng tối đa vào tuần thứ 8 rồi giảm nhanh

đến mức ổn định và kéo dài đến khi đẻ.

- hPL (human placcental lactogen) được tiết ra từ tế bào nuôi, tạo thuận

lợi cho sự phát triển của thai nhi, có tác dụng sinh sữa, biến dưỡng glucid,

lipid và protid. lượng hormon tăng dần theo tuổi thai, tối đa vào tuần thứ 36.

+ Các hormon steroid:

Gồm có 3 loại: estrogen, progesteron, các steroid khác.

- Estrogen: Gồm estradiol, estriol và estron. Số lượng estrogen tiết ra

phản ánh hoạt động của rau thai tăng cao theo tuổi thai, để đánh giá sức

khỏe thai nhi trong tử cung, ta có thể định lượng estriol trong nước tiểu

hoặc máu mẹ.



7

- Progesteron tiết ra từ rau thai, một phần vào thai nhi, một phần vào cơ

thể mẹ.

- Các steroid khác như 17-ketosteroid, glucocorticoid cũng tăng lên trong

thai kỳ.

1.4. SINH LÝ BỆNH CỦA RAU BONG NON



Trong trường hợp rau bong non, người ta cho rằng rau thai bị bong ra là

do những thay đổi thoái hoá ở các động mạch xoắn cung cấp cho các khoang

gian lơng từ đó ni dưỡng rau thai. Khi những thay đổi thối hố xảy ra thì

các mạch máu có thể bị vỡ dẫn tới chảy máu, vì tử cung lúc đó bị giãn và

khơng thể co lại đủ mức để khép kín các mạch máu bị vỡ. Máu chảy ra từ các

mạch máu sẽ hình thành một cục máu đông sau bánh rau, với áp lực này bánh

rau càng ngày càng bị tách rời rộng hơn khỏi thành tử cung.

Nếu rau bị tách rời khỏi thành tử cung ở vùng rìa bánh rau, hoặc tách rời

màng ối khỏi lớp màng rụng thì chảy máu qua âm đạo sẽ xuất hiện rõ rệt [42].

Còn nếu chảy máu chỉ xảy ra ở vùng trung tâm của bánh rau, thì máu chảy ra

khỏi các mạch sẽ bị giữ lại ở trong khoảng giữa bánh rau và lớp màng rụng và

áp suất tăng lên làm cho máu thấm qua màng ối vào trong túi màng ối. Chính

áp suất do chảy máu tăng lên là nguyên nhân gây tăng trương lực tử cung,

tăng nhạy cảm đau và tăng tính dễ bị kích thích của tử cung.



8

Cục máu đơng hình thành đồng thời với hiện tượng chảy máu, vì mơ tế

bào của màng rụng chứa nhiều Troboplastin [29]. Cục máu đông sẽ dẫn tới tụ

máu dưới màng đệm và máu tụ này lại giải phóng một lượng lớn

thromboplastin vào dòng máu tuần hồn của mẹ và chính vì thế có khả năng

dẫn tới tai biến đông máu nội mạch rải rác ở thai phụ. Một số tác giả cho rằng

có sự gia tăng hiện tượng này ở những người có đột biến yếu tố V [39], [54].

1.5. ẢNH HƯỞNG CỦA RAU BONG NON TỚI THAI PHỤ



1.5.1. Ảnh hưởng trước và trong khi chuyển dạ

Biến chứng hay gặp nhất của rau bong non là mẹ bị chảy máu Gilbert và

Harmon [38] đã nhận xét rằng tử vong xảy ra ở sản phụ trong dưới 1% số

trường hợp rau bong non là do xuất huyết. Tỷ lệ tử vong thấp như vậy chủ

yếu là nhờ có liệu pháp truyền máu thay thế ln sẵn sàng. Vì chảy máu với

khối lượng lớn, nên mẹ có nguy cơ cao bị chống do giảm thể tích tuần hồn,

phụ thuộc vào cả lượng máu mất lẫn tai biến đông máu nội mạch rải rác [41].

Đông máu nội mạch rải rác thường xuất hiện ở những trường hợp rau bong

non nặng và ẩn.

Nếu chảy máu xảy ra nặng thì thai phụ còn bị suy thận nặng. Thận rất

nhạy cảm với tình trạng thiếu cấp máu do chống giảm thể tích tuần hoàn. Bài tiết

của mẹ sẽ giảm xuống < 30ml mỗi giờ, chứng tỏ thận bị suy. Trong trường hợp

chảy máu ẩn thì tử cung còn bị giãn tới q mức giới hạn. Chảy máu xảy ra trong

thời kỳ thai nghén còn gây ra tình trạng lo âu nặng nề cho bệnh nhân, vì thường

thì bệnh nhân sợ hãi những điều mình khơng biết. Gia đình bệnh nhân cũng lo sợ

cho tính mạng của mẹ và thai nhi. Cho nên cần giải thích cho gia đình của họ biết

về tình trạng của mẹ và thai để họ bớt lo âu, sợ hãi.

1.5.2. Ảnh hưởng sau khi đẻ

Tuỳ theo lượng máu đã bị mất mà mẹ có thể bị thiếu máu từ mức độ

trung bình đến mức độ nặng. Cũng do mất máu gây ra giảm thể tích tuần hồn



9

và dẫn tới suy thận hoặc tổn thương thận. Tỷ lệ bị chảy máu sau đẻ ở những

trường hợp rau bong non cao gấp đôi, theo Nguyễn Thị Ngọc Khanh tại

BVPSTW năm 1992-1996 là 65,5% [9]. Tác giả Bucley và Kulb cho hay nếu

lại thêm có bệnh rối loạn đơng máu, thì tỷ lệ này có thể cao lên gấp 8 lần [24].

Chảy máu sau đẻ thường vẫn đáp ứng tốt với oxytoxin và sản phẩm cung cấp

yếu tố đơng máu, do đó tỷ lệ cắt tử cung khơng phải là tồn bộ. Chảy máu sau

đẻ có thể xảy ra khi các mơ của tử cung bị tổn thương, nhất là các cơ ở lớp cơ

nông của tử cung. Nguyễn Thị Ngọc Khanh tại BVPSTW đã đưa ra những

con số sau đây: 43,6% ở mức độ nhẹ, 27,3% tổn thương nặng, 14,5% tổn

thương lan sang dây chằng rộng [9]. Điều này xảy ra trong trường hợp tử

cung trong thể bệnh Couvelaire, còn gọi là phong huyết tử cung rau (hoặc

ngập máu tử cung-rau). Mặc dù thể Couvelaire xuất hiện trong thời kỳ chuyển

dạ, nhưng tai biến này ảnh hưởng tới cả thời kỳ hồi phục sau đẻ. Tử cung có

thể sờ thấy rắn, nhưng vẫn không co hồi đủ mức để cầm máu. Nếu khơng

kiểm sốt được chảy máu bằng thuốc, có thể phải cắt tử cung để cứu sản phụ.

Một số biến chứng khác sau đẻ của tai biến rau bong non là hội chứng ure

huyết, rối loạn đông máu sau khi sinh và nhiễm khuẩn vì các mạch máu

khơng được bịt kín ở vị trí rau bám cũ [52]. Các mạch máu bị hở này chính là

cửa ngõ cho nhiễm khuẩn và do đó sản phụ phải được huấn luyện chăm sóc

vệ sinh vùng tầng sinh mơn và kỹ thuật rửa tay sạch.

1.6. ẢNH HƯỞNG CỦA RAU BONG NON TỚI THAI VÀ SƠ SINH



Các hậu quả tới thai và trẻ sơ sinh là do bánh rau bị tách rời khỏi thành

tử cung, do giảm cấp máu ở tử cung, do giảm thể tích tuần hồn ở thai phụ, và

do tăng trương lực cơ tử cung. Những nguyên nhân này làm cho quá trình trao

đổi chất giữa mẹ và thai (mối liên hệ tử cung-rau) bị giảm hoặc gián đoạn.

Khi một bệnh nhân bị chảy máu nặng, thì cơ thể có sự ưu tiên duy trì hoạt

động của các cơ quan sống còn chủ yếu của cơ thể là não và tim. Hiện tượng



10

co mạch sẽ xảy ra ở các tiểu động mạch thận, gan, phổi, đường tiêu hoá, ở các

cơ, ở da và ở tử cung, từ các cơ quan này máu được phân phối bù cho não và

tim [29]. Vì bị coi là một cơ quan không thiết yếu cho sinh mạng, nên lượng

máu cung cấp cho tử cung bị giảm, dẫn tới thai bị đe doạ.

Những hậu quả gây cho thai của RBN bao gồm: thai chết lưu, giảm oxymô, ngay từ khi chảy máu và cả khi quá trình bong rau đã ngừng lại. Diện tích

bánh rau ngun vẹn khơng bị bong còn lại, cũng khơng đủ đáp ứng nhu cầu

tăng trưởng của thai. Hậu quả đưa đến cho thai bao gồm: thương tổn hệ thần

kinh, thương tổn não, đẻ non, và thai chết do đẻ non hoặc do suy thai nặng.

Hậu quả đối với thai không chỉ phụ thuộc vào diện tích bánh rau mà còn phụ

thuộc vào vị trí bong rau, rau bong ở mép thường nhẹ hơn so với ở trung tâm

[48]. Tại BVPSTW năm 1955-1961 tử vong sơ sinh do RBN là 69,7% [20].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Khanh năm 1995-1999 tỷ lệ chết thai

là 41,8%. Thiếu máu ở trẻ sơ sinh cũng có thể xảy ra, trong trường hợp này sơ

sinh sẽ nhỏ so với tuổi thai và sẽ có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển

thần kinh của trẻ [57].

1.7. NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ



Theo Uzan, các yếu tố nguy cơ chỉ tìm thấy trong 50-70% các trường hợp.

1.7.1 Tăng huyết áp thai nghén

Các công trình nghiên cứu của Colau [64], Scott [57], cũng như các tác

giả khác [21], [61], [62] đã cho thấy tăng huyết áp thai nghén là yếu tố nguy

cơ hàng đầu. Tăng huyết áp chiếm 50% trường hợp rau bong non theo

Sheehan và 45% theo Pritchard (trích từ Colau [64]).

Trước đây người ta cho rằng rau bong non và sản giật là biến chứng cấp

tính của tăng huyết áp thai nghén, nhưng gần đây người ta nhận thấy rằng:

điều trị tăng huyết áp thai nghén cũng như biện pháp dự phòng sản khoa đã

làm biến mất hoàn toàn sản giật, nhưng khơng làm giảm hoặc làm giảm rất ít



11

tần số xuất hiện rau bong non [1], [64], có nghĩa là bên cạnh nguyên nhân

tăng huyết áp còn tồn tại rất nhiều yếu tố nguy cơ khác chưa được biết rõ

trong rau bong non.

Dù thế nào đi nữa, mối liên quan giữa bệnh lý rau bong non và tăng

huyết áp là điều tất yếu. Abdella nghiên cứu 256 trường hợp rau bong non

thấy 71 trường hợp liên quan đến tăng huyết áp (trích Cunningham [33]).

1.7.2. Số lần mang thai của mẹ

Các tác giả nhận thấy tỷ lệ tăng theo số lần mang thai của sản phụ [9], [26].

Theo Huang, ở phụ nữ đẻ từ 6 lần trở lên nguy cơ rau bong non tăng gấp

15,6 lần so với người chưa đẻ lần nào hoặc mới đẻ một lần [34].

Ozumba cũng thấy đẻ nhiều lần làm tăng tỷ lệ xuất hiện rau bong non [36].

Tỷ lệ gặp 3,7% ở người có thai lần đầu, trong khi đó người đẻ 5 lần trở

lên tỷ lệ là 33,3%

1.7.3. Thiếu hụt dinh dưỡng

Naeye [51] nhận thấy thiếu hụt dinh dưỡng là yếu tố nguy cơ của rau

bong non.

Hibbard và cộng sự thấy xuất hiện thiếu hụt acid Folic đóng vai trò quan

trọng trong ngun nhân gây rau bong non (trích từ Pritchard [55]).

Các cơng trình nghiên cứu của Blumenfeld [30] thấy rau bong non xuất

hiện ở các sản phụ có chế độ dinh dưỡng kém.

1.7.4. Thuốc lá

Rất nhiều tác giả nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa hút thuốc lá

trong thời gian thai nghén và sự xuất hiện rau bong non [55] ,[31] [28], [25], [27].

Theo Colau [64], thì hút thuốc lá trong thời gian thai nghén làm tăng

đáng kể tần số xuất hiện rau bong non (tăng gấp đơi nguy cơ). Ơng cho rằng

hút thuốc lá, hoại tử màng rụng vùng mép bánh rau có thể là điểm khởi đầu

của hiện tượng bong rau.



12

1.7.5. Rượu

Uzan, Blumenfeld cũng như các tác giả khác thấy rượu làm tăng nguy cơ

xuất hiện rau bong non [66], [30].

Conner cũng nhận thấy rượu là yếu tố nguy cơ trong rau bong non (trích

từ Colau [64]).

1.7.6. Cocaine

Trong các nghiên cứu mới đây, các tác giả cũng nói đến việc sử dụng

Cocaine làm tăng nguy cơ rau bong non [64].

Triệu chứng đau đầu, đau vùng thắt lưng, xuất hiện cơn co tử cung, ra

máu âm đạo, tim thai chậm, xảy ra ngay sau khi dùng Cocaine [46].

1.7.7. Rau bong non do chấn thương

Cunningham và Naeye nhận thấy rằng thấy dây rau co kéo (nhất là khi

dây rau ngắn) có thể gây ra hiện tượng bong rau [34].

Các tác giả quan sát thấy “rau bong non chấn thương” do tai nạn xe cộ

[59], [46], [58].

Sang chấn trực tiếp vào tử cung cũng có thể dẫn đến rau bong non [3],

[8], [9], [60]. Đôi khi rau bong sau chấn thương chỉ được nhận thấy qua dấu

hiệu suy thai đơn độc, đột ngột cùng với dấu hiệu ra máu. Nếu theo dõi nhịp

tim thai thấy xuất hiện nhịp xoang biểu hiện tình trạng thiếu máu ở thai [59].

1.7.8. Rau bong non do thầy thuốc

Nhiều tác giả đề cập đến chấn thương do thực hiện các thủ thuật sản khoa

có thể gây rau bong non: thủ thuật ngoại xoay thai thô bạo [9], [46] [64].

Colau và Blumenfeld quan sát thấy rau bong non sau chọc buồng ối:

- Chọc dò buồng ối là nguy cơ gây rau bong non nhất là khi bánh rau

bám mặt trước (gây chảy máu tổn thương bánh rau) [51], [64].

- Người ta cũng nhận thấy các trường hợp rau bong non do rút nước ối

trong đa ối [63],[64] Làm giảm đột ngột áp lực trong buồng tử cung



13

1.7.9. Các yếu tố khác

Ness báo cáo một trường hợp rau bong non tái phát ở bệnh nhân có giảm

Fibrinogen máu bẩm sinh (trích từ Uzan [67]). Pritchard giả thuyết rằng tình

trạng tăng đơng máu và tăng Fibrinogen máu ở phụ nữ có q trình thai nghén

bình thường đóng vai trò duy trì dính giữa bánh rau và thành tử cung, đồng

thời kiểm soát những chỗ bong rau nhỏ và làm vùng chảy máu có thể xảy ra

khi mang thai [49].

Các tác giả nhận thấy nhiễm trùng ối làm tăng nguy cơ rau bong non

Bùi Sỹ Hùng và Lê Điềm nhận thấy rau bong non xuất hiện ở những

bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng [11], [4].

1.8. CÁC DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG



Các dấu hiệu và triệu chứng của rau bong non phụ thuộc vào diện tích

bánh rau bị bong và thể bệnh [29]. Triệu chứng kinh điển của rau bong non là

sản phụ bị đau bụng cấp tính (như dao đâm) kèm theo hoặc không kèm theo

chảy máu qua đường âm đạo. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng các dấu hiệu

và triêụ chứng RBN có thể thay đổi, chỉ có 50% số trường hợp RBN bị đau

bụng, Hồng Đình Thảo là 54,28% [20].

Nếu RBN ở thể nhẹ thì sản phụ chỉ có đau bụng khi chuyển dạ và có thể

tử cung bị tăng trương lực nhẹ. Nếu RBN thể trung bình thì triệu chứng đau

bụng có thể tăng dần hoặc đột ngột. Nếu đau bụng tăng dần thì đó là dấu hiệu

chảy máu ẩn. Trong 2/3 số trường hợp tử cung dễ tăng trương lực và sản phụ

bị đau thắt lưng [29].

Trong trường hợp RBN nhưng khơng có chảy máu âm đạo, áp lực tử

cung tăng, làm cho tử cung cứng (bụng cứng như gỗ). Mức độ phụ thuộc vào

lượng máu chảy và bị giữ lại ở phía sau bánh rau. Theo dõi thấy dấu hiệu tăng

trương lực cơ tử cung và cơn co tử cung bị thay đổi.



14

Trong hội chứng Couvelaire đó là một thể lâm sàng nặng của rau bong

non, xuất hiện khi có máu tụ trong khoảng giữa bánh rau và thành tử cung.

Bobak và Jenson,1993 đã trình bày thể Couvelaire là do máu tràn vào lớp cơ

tử cung gây tổn hại cho mô cơ, gây tăng trương lực cơ, và ngăn cản cơ tử

cung không giãn ra được ở giữa các cơn co. Tử cung sẽ có màu xanh nhạt, tím

nhạt và lốm đốm, đó là những ổ nhồi huyết do máu bị thoát khỏi mạch máu

tràn vào trong khối cơ tử cung, gây choáng cho sản phụ. Điều trị RBN thể này

thường phẫu thuật càng sớm càng tốt để tránh các biến chứng cho mẹ và con.

Bobak và Jenson còn nói: cần phải ghi nhớ là RBN có thể có hoặc khơng

có dấu hiệu chảy máu đường âm đạo. Gilbert [43], cho rằng có 80% trong

tổng số RBN có chảy máu qua đường âm đạo và máu màu đỏ sẫm. Khi máu

mất nhiều sẽ dẫn đến giảm thể tích máu. RBN thể trung bình và thể nặng sẽ

làm suy thai, có thể thai sẽ bị chết trước khi chẩn đốn.

1.9. CHẨN ĐỐN RAU BONG NON



1.9.1. Lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng thay đổi tuỳ theo bệnh nặng hay nhẹ, tuy nhiên rau

bong non có một đặc điểm là triệu chứng lâm sàng không đi đôi với tổn

thương giải phẫu, có nghĩa là rau bong non thể nặng tử cung thâm tím nhưng

khơng biểu hiện rõ về mặt lâm sàng [8]. Do bệnh cảnh rau bong non gặp trong

bệnh cảnh tiền sản giật chiếm khoảng 60-70%. Chính vì thế trong trường hợp

điển hình, có thể thấy các triệu chứng sau:

-



Triệu chứng cơ năng:



+ Dấu hiệu nhiễm độc: 60-70% bệnh nhân có dấu hiệu “nhiễm độc”

như: protein niệu, phù, tăng huyết áp, hoặc dấu hiệu cơ năng của tiền sản

giật. Có khi protein niệu 5-10g/l, huyết áp có khi tăng, bình thường hoặc

giảm đi một chút vì mất máu, phù và nhức đầu [1].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 GIẢI PHẪU BỆNH LÝ CỦA RAU BONG NON

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×