Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Về tỷ lệ tiền sản giật: theo biểu đồ 3.6

- Về tỷ lệ tiền sản giật: theo biểu đồ 3.6

Tải bản đầy đủ - 0trang

61

4.2.1.3. Khối lượng máu tụ sau ra: theo bảng 3.9

- Khối lượng máu tụ sau rau > 500gr gặp nhiều ở thể nặng chiếm tỷ lệ 78,3%.

- Khối lượng máu tụ từ 100-500gr lại gặp nhiều ở thể trung bình chiếm 66,7%.

- Khối lượng máu tụ sau rau < 100gr phần lớn gặp trong thể ẩn và thể

nhẹ với tỷ lệ tương ứng là 100% và 73,2%. Theo bảng 3.10.

- So sánh với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Liên Phương (1995-1999)

[16]. Mức độ nhẹ có khối lượng máu cục ≤ 100gr chiếm 50%, 91,6% trường hợp

cục máu từ 500-1000gr rơi vào thể trung bình và thể nặng.

- Qua các nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng máu tụ thường tương

xứng với các mức độ của các thể rau bong non. Những trường hợp cục máu

sau rau càng to (bánh rau bị bong càng nhiều), thì biểu hiện triệu chứng lâm

sàng, cận lâm sàng thường rất rầm rộ và có biến chứng nặng nề hơn.

4.2.1.4 Liên quan của các triệu chứng với thể bệnh rau bong non

Qua kết quả nghiên cứu ở bảng 3.7 chúng tơi thấy:

- Chống: 72 bệnh nhân rau bong non có chống, tỷ lệ chống ở thể trung

bình là 68,1%, thể nặng là 31,9%, đối với thể ẩn và thể nhẹ hầu như khơng có.

So sánh với một số nghiên cứu của các tác giả khác cũng có kết quả tương

tự như Nguyễn Ngọc Khanh [12] chống chỉ có ở rau bong non thể trung bình

và thể nặng là 32,7%, Hồng Đình Thảo [20] và Ngơ Văn Quỳnh [17] cũng cho

kết quả tương tự. Chống vì đau do cơn co tử cung, trương lực cơ tử cung tăng

nhất là tử cung cứng như gỗ, còn có thể do mất máu, làm giảm khối lượng tuần

hoàn.

- Dấu hiệu ra máu âm đạo: ra máu âm đạo tập trung nhiều ở thể trung bình

50,4% với thể nhẹ 33,1%, thể nặng 16,5%.



62

So sánh với Hồng Đình Thảo [20], Trần Thị Phương Mai [14], Ngô Văn

Quỳnh(2004) [17] cũng tương tự. Sự chảy máu trong rau bong non là do sự tổn

thương các động mạch xoắn dẫn đến động mạch bị vỡ gây ra chảy máu tạo thành

máu tụ sau rau. Vấn đề chảy máu sớm hay muộn, có hay khơng chảy máu là phụ

thuộc vị trí chảy máu và khối lượng máu tụ và việc máu có thốt ra khỏi màng

rau để ra ngồi âm đạo. Vì vậy khơng có ra máu âm đạo khơng có nghĩa là bệnh

khơng nặng mà thậm chí còn rất nặng do ít dấu hiệu chỉ điểm khiến người thầy

thuốc dễ bỏ sót rau bong non, mặt khác tử cung tăng trương lực nhiều dẫn đến

rau bong càng nhanh tiến triển có thể rất rầm rộ.

- Tiền sản giật: với tiền sản giật nhẹ gặp ít hơn chỉ có 7 trường hợp,

trong đó thể trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 57,1%. Tiền sản giật nặng

gặp hầu hết các thể bệnh trong đó hai thể bệnh chiếm tỷ lệ cao là rau bong

non thể ẩn 34,7% và rau bong non thể nhẹ 32,6%, còn thể trung bình 25,3%,

thể nặng 7,4%.

Kết quả nghiên cứu này đối chiếu với kết quả nghiên cứu của Ngô Văn

Quỳnh(2004) [17], tiền sản giật nặng ở rau bong non thể ẩn chiếm 2,7%, thể

nhẹ 0,7%, thể trung bình chiếm 5,4% và thể nặng chiếm tỷ lệ cao nhất 8,2%.

Như vậy nghiên cứu của chúng tôi lại thấy tỷ lệ tiền sản giật nặng gặp nhiều ở

rau bong non thể ẩn và thể nhẹ, từ đó, chúng ta lại nhắc lại thêm nữa, đối với

bệnh nhân bị tiền sản giật là bệnh lý‎ của thời kỳ thai nghén có rất nhiều biến

chứng nặng nề các Bác sỹ Sản khoa luôn cảnh giác để tìm các triệu chứng

diễn biến của bệnh, được nhập viện theo dõi kiểm soát chặt chẽ nhất là tiền

sản giật nặng, chính vì điều đó bệnh nhân được xử trí tiền sản giật sớm hoặc

đúng lúc, tránh được biến chứng rau bong non.



63

- Tình trạng thai: mất tim thai có 35 trường hợp gặp chủ yếu ở thể nặng là

23 trường hợp chiếm tỷ lệ 65,7% và 100% so với tổng số bệnh nhân bị rau bong

non thể nặng. Suy thai nhiều nhất ở thể trung bình chiếm tỷ lệ 46,1%.

Theo nghiên cứu của Ngô Văn Quỳnh [17], thể nặng mất tim thai 100%,

suy thai có tỷ lệ cao nhất ở rau bong non thể trung bình 27,2%, thể nhẹ 2,7%,

thể ẩn 2%.

Qua phân tích kết quả nghiên cứu thấy: dấu hiệu suy thai ở thể ẩn và thể

nhẹ tăng lên rất nhiều so với tác giả Ngô Văn Quỳnh. Điều này có thể lý‎ giải

rằng, ngày nay việc theo dõi tim thai bằng monitoring sản khoa đã cho chúng ta

hướng tới chẩn đốn và xử trí những trường hợp suy thai khi chưa có triệu chứng

lâm sàng của rau bong non, hạn chế được tai biến tử vong thai nhi và mức độ tổn

thương tử cung. Chính vì thế theo dõi tim thai bằng monitoring sản khoa rất cần

thiết để hướng tới chẩn đoán rau bong non ở những bệnh nhân có các yếu tố

nguy cơ gây nên bệnh lý‎ rau bong non.

- Tăng huyết áp: dựa vào bảng 3.8

- Tăng huyết áp độ I gặp chủ yếu ở thể nhẹ chiếm tỷ lệ 71,4%, còn thể

trung bình và thể nặng khơng có bệnh nhân nào.

- Tăng huyết áp độ II cũng gặp nhiều nhất ở thể nhẹ 32,6%, thể ẩn là

30,5 và thể trung bình là 31,5%.

Dấu hiệu tăng huyết áp gặp chủ yếu ở thể ẩn và thể nhẹ, còn thể nặng

gặp rất ít dấu hiệu tăng huyết áp. Có thể những trường hợp tăng huyết áp

độ II, nếu không khống chế được huyết áp bắt buộc các bác sỹ Sản khoa

phải phẫu thuật thuật lấy thai ra sớm tránh những biến chứng cho mẹ vì

vậy khơng gặp nhiều rau bong non ở những đối tượng tăng huyết áp này.

Hoặc cũng có thể biến chứng hay gặp nhất của rau bong non là chảy máu

Gilbert và Harmon [43], khi chảy máu với khối lượng lớn mẹ có nguy cơ



64

chống do giảm khối lượng tuần hồn, mặt khác chỉ số huyết áp giảm

nhiều hay ít cũng phụ thuộc vào lượng máu mất. Chính vì thế mà những

bệnh nhân rau bong non thể trung bình và thể nặng do mất máu, thể tích

tuần hồn giảm nên chỉ số huyết áp giảm dần. Qua đây chúng ta không thể

chỉ căn cứ vào chỉ số huyết áp để chẩn đốn có chống hay khơng trong

rau bong non, bởi vì có những trường hợp lúc đầu huyết áp của họ rất cao,

nhưng do mất máu, huyết áp giảm xuống và gần như về bình thường.

4.2.1.5. Phân tích tổn thương ở tử cung theo thể bệnh

Tên tác giả

Nguyễn Ngọc Khanh

Nguyễn Liên Phương

Ngô Văn Quỳnh

Nguyễn Thị Minh Huệ



Địa điểm

Không Nhẹ

nghiên cứu

1996 BVPSTW 14,5% 43,6%

1999 BVPSTW 16,9% 42,2%

94-98

23,8% 34,9%

BVPSTW

99-03

23,8% 42,9%

2010 BVPSTW 29,2% 34,9%

Năm



Lan

rộng

27,3% 14,5%

33.9%

25,4% 9,5%

15,5% 8,3%

28,7% 7,3%

Nặng



- Theo biểu đồ 3.9 trong 192 bệnh nhân rau bong non tử cung không tổn

thương ở thể ẩn chiếm tỷ lệ cao nhất 70,7%. Tổn thương tử cung mức độ nhẹ

gặp nhiều nhất ở thể nhẹ với tỷ lệ 53,5%. Tổn thương tử cung mức độ nặng và

lan tỏa gặp chủ yếu ở thể nặng tương ứng với tỷ lệ 73,9% và 26,1%.

- Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Khanh [12],

Nguyễn Liên Phương [16] và Ngô Văn Quỳnh [17], chúng tơi thấy tỷ lệ tử

cung khơng tổn thương có xu hướng tăng dần lên, còn tổn thương lan rộng

giảm đi đáng kể, có được điều này là nhờ vào sự chẩn đốn sớm rau bong non

và xử trí tích cực ngay từ thể nhẹ để kiểm soát tổn thương tử cung và đã hạn

chế được mức độ tổn thương ở tử cung, cũng từ đó giảm tỷ lệ rối loạn đông

máu, biến chứng chảy máu, cắt tử cung.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Về tỷ lệ tiền sản giật: theo biểu đồ 3.6

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×