Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo nghiên cứu của Ngô Văn Quỳnh [17], thể nặng mất tim thai 100%, suy thai có tỷ lệ cao nhất ở rau bong non thể trung bình 27,2%, thể nhẹ 2,7%, thể ẩn 2%.

Theo nghiên cứu của Ngô Văn Quỳnh [17], thể nặng mất tim thai 100%, suy thai có tỷ lệ cao nhất ở rau bong non thể trung bình 27,2%, thể nhẹ 2,7%, thể ẩn 2%.

Tải bản đầy đủ - 0trang

64

chống do giảm khối lượng tuần hồn, mặt khác chỉ số huyết áp giảm

nhiều hay ít cũng phụ thuộc vào lượng máu mất. Chính vì thế mà những

bệnh nhân rau bong non thể trung bình và thể nặng do mất máu, thể tích

tuần hồn giảm nên chỉ số huyết áp giảm dần. Qua đây chúng ta không thể

chỉ căn cứ vào chỉ số huyết áp để chẩn đốn có chống hay khơng trong

rau bong non, bởi vì có những trường hợp lúc đầu huyết áp của họ rất cao,

nhưng do mất máu, huyết áp giảm xuống và gần như về bình thường.

4.2.1.5. Phân tích tổn thương ở tử cung theo thể bệnh

Tên tác giả

Nguyễn Ngọc Khanh

Nguyễn Liên Phương

Ngô Văn Quỳnh

Nguyễn Thị Minh Huệ



Địa điểm

Không Nhẹ

nghiên cứu

1996 BVPSTW 14,5% 43,6%

1999 BVPSTW 16,9% 42,2%

94-98

23,8% 34,9%

BVPSTW

99-03

23,8% 42,9%

2010 BVPSTW 29,2% 34,9%

Năm



Lan

rộng

27,3% 14,5%

33.9%

25,4% 9,5%

15,5% 8,3%

28,7% 7,3%

Nặng



- Theo biểu đồ 3.9 trong 192 bệnh nhân rau bong non tử cung không tổn

thương ở thể ẩn chiếm tỷ lệ cao nhất 70,7%. Tổn thương tử cung mức độ nhẹ

gặp nhiều nhất ở thể nhẹ với tỷ lệ 53,5%. Tổn thương tử cung mức độ nặng và

lan tỏa gặp chủ yếu ở thể nặng tương ứng với tỷ lệ 73,9% và 26,1%.

- Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Khanh [12],

Nguyễn Liên Phương [16] và Ngô Văn Quỳnh [17], chúng tôi thấy tỷ lệ tử

cung khơng tổn thương có xu hướng tăng dần lên, còn tổn thương lan rộng

giảm đi đáng kể, có được điều này là nhờ vào sự chẩn đoán sớm rau bong non

và xử trí tích cực ngay từ thể nhẹ để kiểm soát tổn thương tử cung và đã hạn

chế được mức độ tổn thương ở tử cung, cũng từ đó giảm tỷ lệ rối loạn đơng

máu, biến chứng chảy máu, cắt tử cung.



65

4.2.2. Triệu chứng CLS: theo bảng 3.4

- Tổng số bệnh nhân được siêu âm là 150 trường hợp, trong đó có 112

trường hợp phát hiện có cục máu sau rau chiếm tỷ lệ 74,6%.

So sánh với tác giả Ngô Văn Quỳnh [17] tổng số siêu âm có máu tụ/ tổng

số ca siêu âm chiếm 46,0%. Sự chênh lệch này rất đáng kể nó chứng tỏ các

Bác sỹ đã quan tâm đến việc sử dụng siêu âm trong chẩn đốn, điều trị, tiên

lượng, đồng thời cơng nghệ máy móc ngày một hiện đại, và kinh nghiệm của

người làm siêu âm tốt hơn rất thuận lợi cho công tác chẩn đốn và xử trí.

Chính vì thế mà trong nghiên cứu của chúng tơi đã chẩn đốn sớm, xử trí sớm

hạn chế được rất nhiều tai biến cho mẹ và thai.

- Hồng cầu < 2 triệu/mm3 chiếm 6,8%, từ 2 - 3 triệu/mm 3 chiếm 40,6%

và > 3 triệu/mm3 52,6%.

- Huyết sắc tố Hb < 70 g/l chiếm 12,5 %, từ 70 ≤ Hb < 90 g/l chiếm

53,1% và 90 ≤ Hb < 110 g/l chiếm 34,4%.

So sánh với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Phương Mai (1994) [14] như

sau: hồng cầu < 2 triệu/mm 3 chiếm 13,9%, từ 2-3 triệu/mm 3 chiếm 44,8%,

với tác giả Ngô Văn Quỳnh (2003) [17], hồng cầu < 2 triệu/mm3 chiếm 6,1%,

từ 2-3 triệu/mm3 chiếm 40,9% và > 3 triệu /mm3 53%.

So sánh phân tích chúng tơi thấy tỷ lệ sản phụ bị mất máu nặng, so với

các năm trước giảm đi rõ rệt, số sản phụ thiếu máu nhẹ tăng lên nhiều. Điều

này cho thấy rằng các phương pháp hồi sức tích cực cho bệnh nhân, cũng như

sử dụng các sản phẩm thay thế máu, để bồi phụ khối lượng tuần hồn đã mất,

từ đó giảm đi chi phí điều trị cũng như hạn chế được phần nào tỷ lệ truyền

máu cho bệnh nhân.

- Fibrinogen < 1g/l có 4 trường hợp thì Fibrinigen đều bằng 0 chiếm

2,1%, từ 1-2 g/l chiếm 21,3%.

- Số lượng tiểu cầu ≤ 100 G/l chiếm 7,8%, > 100 G/l chiếm 92,2%. Rau



66

bong non có nguy cơ rối loạn đông máu một bệnh lý‎ về máu tất cả các thầy

thuốc rất sợ vì việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn, nguy cơ suy đa tạng, tử

vong là rất cao. Nhưng trong nghiên cứu này là thấp hơn nhiều so với nghiên

của tác giả Trần Thị Phương Mai Fibrinogen 0 g/l là 6,9%, > 2g/l là 30% và

Ngô Văn Quỳnh[17] Fibrinogen < 1g/l chiếm tỷ lệ 4,1%, từ 1-2 g/l chiếm

34,7%. Điều này cũng cho thấy rằng việc chẩn đốn sớm, điều trị tích cực rau

bong non nhất là trong vấn đề hồi sức đã giảm tỷ lệ rối loạn đông máu rõ rệt.

Liên quan một số xét nghiệm sinh hóa tới bệnh nhân rau bong non

- Theo bảng 3.5 nhóm bệnh nhân có SGOT < 70 IU/l ở rau bong non thể

nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,1%, thể trung bình chiếm 32,9%, còn thể ẩn

16,5% và thể nặng chiếm 14,6%. SGOT ≥ 70 UI/L gặp ở rau bong non thể ẩn

chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,1%, thể nhẹ 41,2%, còn thể nặng 0%.

- Nhóm bệnh nhân có SGPT < 70 IU/l gặp ở rau bong non thể nhẹ với

36,8%, thể nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất 14,1%. Còn SGPT ≥ 70 UI/L gặp nhiều

nhất ở rau bong non thể ẩn chiếm 44,8% và thể nặng là 0%.

Trên những trường hợp có thai, nhất là trong 3 tháng cuối của thai kỳ

nếu có triệu chứng tiền sản giật kèm theo enzym gan tăng có thể là một dấu

hiệu của biến chứng HELLP, các bác sỹ Sản khoa phải đặt vấn đề có lấy thai

ra hay khơng?. Vì vậy những trường hợp này được can thiệp ngay và phát

hiện rau bong non thể ẩn( 44,1%). HELLP cũng là một trong những biến

chứng của tiền sản giật, nếu HELLP khơng xử trí nhanh dẫn tới rối loạn đông

máu do chức năng gan suy giảm ảnh hưởng tới yếu tố đông máu, đặc biệt trên

những bệnh nhân HELLP có tiểu cầu giảm. Nhưng nếu phát hiện được

HELLP hoặc xử trí khơng kịp thời có thể dẫn tới rau bong non, mà 2 biến

chứng này gặp trên một bệnh nhân thì hậu quả rất nặng nề. Trong nghiên cứu

này những trường hợp rau bong non thể nặng không kèm theo tăng enzym



67

gan vì vậy giảm được tỷ lệ biến chứng của sự phối hợp này.

Theo bảng 3.6:

- Đối với ure huyết thanh: rau bong non thể ẩn và thể nhẹ có chỉ số ure

huyết thanh >6,6 chiếm tỷ lệ cao hơn với nhóm còn lại là 37,9%.

Chỉ số ure huyết thanh ≤ 6,6 ở rau bong non thể ẩn là 12,7%, thể nhẹ

36,5%, thể trung bình 34,1% và thể nặng 3,0%.

- Đối với creatinin: creatinin ≤ 106 tỷ lệ cao ở hai thể rau bong non là

thể nhẹ 36,9% và thể trung bình 32,5%.

Creatinin > 106 rau bong non thể ẩn chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,8%,

thể nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,1%.

- Trong nhóm bệnh nhân có acid uric ≤ 400 mmol/l, thể ẩn chiếm tỷ lệ

10%, thể nhẹ chiếm 40%, thể trung bình 33,6% và thể nặng 16,4%.

- Trong nhóm bệnh nhân có acid uric >400 mmol/l, thể ẩn chiếm tỷ lệ

36,6%, thể nhẹ chiếm 32,9%, thể trung bình 24,4% và thể nặng 6,1%.

Trong nghiên cứu này suy thận gặp cao nhất ở thể ẩn và thể nhẹ vì suy

thận là một chỉ định can thiệp sản khoa không cho phép kéo dài điều trị nội vì

nguy cơ suy thận khơng hồi phục khơng những ảnh hưởng đến tính mạng thai

mà còn đe dọa đến tính mạng mẹ, vì vậy đã đình chỉ thai nghén và phát hiện

rau bong non khi can thiệp, làm giảm tỷ lệ rau bong non thể nặng ở những

bệnh nhân có triệu chứng suy thận này. Ở nghiên cứu của chúng tôi như đã

nêu ở trên bệnh nhân rau bong non bị tiền sản giật chiếm tỷ lệ 53,1%, với thể

nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất 36,9%, có được điều này là nhờ một phần các xét

nghiệm sinh hóa bất thường, nên các bác sỹ Sản khoa đã can thiệp sớm tránh

biến chứng cho mẹ và cho thai.

Qua phân tích các xét nghiệm cận lâm sàng về đánh giá chức năng gan,



68

chức năng thận giúp cho các nhà Sản khoa phải đình chỉ thai nghén vì những

dấu hiệu bất thường này, từ đó phát hiện được rau bong non sớm tránh những

biến chứng rau bong non thể nặng. Từ đó chúng ta thấy được giá trị của các

thăm dò này là không thể thiếu khi theo dõi bệnh nhân có nguy cơ.

4.3. THÁI ĐỘ XỬ TRÍ VÀ BIẾN CHỨNG



4.3.1. Can thiệp sản khoa: Qua kết quả nghiên cứu này trong 192 bệnh nhân

rau bong non, có tới 187 trường hợp mổ lấy thai chiếm tỷ lệ là 98,4%

Tác giả



Năm



Địa điểm

nghiên cứu



Hồng Đình Thảo

n = 239



1961



BVBM BVPSTW



Trần Thị Phương Mai

n = 43

Nguyễn Ngọc Khanh

n = 55

Nguyễn Liên Phương

n = 71

Phạm Văn Oánh

n = 34

Ngô Văn Quỳnh

n = 147

Nguyễn Thị Minh Huệ

n= 192



1994



BVPSTW



1996



BVPSTW



1999



BVPSTW



2002



BVPS

Nam Định



2003



BVPSTW



2010



BVPSTW



Cách đẻ

Mổ đẻ

46%



Đẻ thường

54%



95,3%



4,7%



96,4%



3,6%



88,7%



11,3%



88,2%



11,8%



88,2%



10,4%



98,4%



1,6%



Chúng ta thấy tỷ lệ đẻ thường của bệnh nhân rau bong non giảm rất

nhanh theo thời gian, tỷ lệ mổ đẻ tăng dần đặc biệt rất cao trong nghiên cứu

này tới 98,4%. Trước đây quan niệm rau bong non thể nhẹ có thể theo dõi,

bấm ối đẻ đường dưới nếu cuộc chuyển dạ diễn biến thuận lợi. Nhưng hiện

nay do nhận thức rõ ràng về triệu chứng lâm sàng đôi khi không tương xứng

với tổn thương thực thể tại tử cung cũng như mức độ tiến triển rầm rộ của rau



69

bong non vì vậy khi đã được chẩn đoán rau bong non thể nào đi chăng nữa

cũng không được phép chần chừ theo dõi mà phải mổ lấy thai ngay. Bởi mổ

lấy thai làm cho cuộc đẻ kết thúc nhanh, tử cung sẽ nhanh chóng trống rỗng

và được làm sạch, mục đích hạn chế tổn thương thêm cho mẹ và tổn thương

cho thai, đồng thời đánh giá được tổn thương tại tử cung, từ đó có những can

thiệp cần thiết giảm tỷ lệ biến chứng của rau bong non. Trong nghiên cứu của

chúng tôi có một bệnh nhân rau bong non vào viện khi cổ tử cung đã mở hết

đẻ đường dưới nhanh, sau đẻ phải mổ cắt tử cung, khi mổ phát hiện tổn

thương tử cung nặng. Còn 2 trường hợp đẻ thường khác là rau bong non thể

ẩn sau khi đẻ con tốt và phát hiện ra khối máu tụ sau rau khoảng 30-50g

Trong nghiên cứu của Nguyễn Liên Phương cũng có 3 bệnh nhân rau

bong non phải cắt tử cung sau đẻ đường dưới. Theo nghiên cứu của Ngơ Văn

Quỳnh có 2 trường hợp rau bong non phải cắt tử cung sau đẻ đường dưới vì

chảy máu, đờ tử cung..

4.3.2. Lý do phẫu thuật: bảng 3.11

Trong 192 bệnh nhân rau bong non có 67,2% chỉ định mổ vì rau bong

non, 18,8% chỉ định mổ vì lý‎ do thai suy, 11,9% chỉ định mổ vì lý‎ do tiền sản

giật, 2,1% chỉ định mổ vì lý‎ do khác.

So sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Ngơ Văn Quỳnh (2003) [17],

có 67,3% được chẩn đoán là rau bong non, thai suy 13,0%.

Qua đây thấy tỷ lệ mổ lấy thai vì thai suy lại tăng lên nhiều, chính vì thế

chúng ta cần phải cảnh giác với những trường hợp bệnh nhân có yếu tố nguy

cơ gây rau bong non, theo dõi chặt chẽ tình trạng mẹ và thai để giảm tỷ lệ

biến chứng của rau bong non, phát hiện những dấu hiệu sớm nhất là với dấu

hiệu thai suy.



70

4.3.3 Can thiệp cầm máu:

- Thắt ĐM tử cung thể trung bình chiếm tỷ lệ nhiều nhất 46,6%, thể nặng

và thể nhẹ cùng chiếm tỷ lệ 26,7%.

- Khâu mũi B-Lynch chỉ có 1 trường hợp ở thể nặng.

- Còn phần lớn bệnh nhân ở các thể nhẹ, trung bình, và thể nặng chủ yếu

dùng phương pháp đắp gạc ấm cùng với tiêm thuốc tăng co bóp tử cung.

Trong những năm gần đây có nhiều loại thuốc tăng co mới có tác dụng nhanh,

mạnh, kéo dài như là Prostodin (Prostaglandin F2α), Duratocin..., giúp cho

việc điều trị đờ tử cung mang lại hiệu quả rất cao. Đã hạn chế được phần nào

tỷ lệ phải cắt tử cung.

- Tỷ lệ cắt tử cung: Trong nghiên cứu của chúng tơi trên 192 bệnh nhân

rau bong non có 5 trường hợp phải cắt tử cung chiếm tỷ lệ 2,6%.

Có 3 trường hợp cắt tử cung ở thể nặng, trong quá trình phẫu thuật khi đã

dùng hết phương pháp cầm máu như tăng co, đắp gạc ấm, thắt động mạch tử

cung nhưng tử cung vẫn khơng co tốt nên có chỉ định cắt tử cung.

Một trường hợp ở rau bong non thể trung bình là sản phụ Lê Thị Th 42

tuổi para 3.0.2.1( tiền sử 2 con chết), được chuyển từ bệnh viện tỉnh Hải

Dương với chẩn đoán thai 9 tháng đau bụng, triệu chứng lúc vào: trương lực

cơ tăng, nhịp tim thai chậm, cổ tử cung mở 3cm, số lượng hồng cầu là 2,78

T/l, số lượng huyết sắc tố 90g/l, Fibrinogen 1,5g/l, số lượng tiểu cầu 152g/l,

siêu âm có khối âm vang khơng đồng nhất ở sau rau kích thước 3,4cm. và đã

được chỉ định mổ lấy thai vì rau bong non thể trung bình, sau mổ lấy thai

2700gr Apgar 6 - 7 điểm và thấy tử cung bầm tím, nhiều ổ nhồi huyết lan

sang cả 2 dây chằng rộng, dùng thuốc tăng co, đắp gạc ấm nhưng không kết

quả và chỉ định cắt tử cung.

Có 2 trường hợp ở thể nhẹ, một bệnh nhân nghiên ma túy, vào viện với

thai 41 tuần do chống khơng rõ ngun nhân, các bác sỹ hướng tới do dùng



71

ma túy, chỉ định mổ lấy thai. Sau mổ phát hiện có khối lượng máu tụ sau rau

là 200g, tử cung nhão có nhiều ổ nhồi huyết ở mặt trước tử cung, dùng các

biện pháp cầm máu nhưng không kết quả phải chỉ định cắt tử cung vì đờ tử

cung, trường hợp còn lại sau đẻ đường dưới bị chảy máu, mổ ra tử cung tổn

thương tử cung q nặng khơng còn khả năng đàn hồi nên phải cắt tử cung.

So sánh với nghiên cứu các tác giả khác tỷ lệ cắt tử cung ở rau bong non

thể nặng, theo Hồng Đình Thảo (1961) [20] cắt tử cung 53,6%, theo Nguyễn

Thị Liên Phương (1999) [16] cắt tử cung 33,8%, Ngô Văn Quỳnh (2003)

14,3% [17].

Tỷ lệ cắt tử cung giảm dần theo thời gian từ 53,6% năm 1961 xuống

14,3% vào năm 2003 và nghiên cứu của chúng tơi tỷ lệ cắt tử cung chỉ còn

2,6%. Với các kỹ thuật chẩn đoán ngày càng hiện đại, cùng với nhiều phương

pháp mới trong việc cầm máu và bảo tồn tử cung, chính vì thế mà tỷ lệ cắt tử

cung của chúng tôi đã giảm xuống rõ rệt.

4.3.2. Biến chứng:

4.3.2.1. Đối với mẹ:

 Truyền máu:

Theo bảng 3.13: Trong số 192 bệnh nhân có 45 trường hợp phải truyền máu

chiếm tỷ lệ 23,4%. Trong các bệnh nhân rau bong non thể nặng tỷ lệ phải truyền máu

chiếm 82,6%. Trong các bệnh nhân thể trung bình phải truyền máu là 33,3%.

Còn trong thể nhẹ và thể ẩn truyền máu ít hơn rất nhiều so với không phải

truyền máu với tỷ lệ là 5,6% và 7,3%.

Theo bảng 3.14: trong 45 bệnh nhân rau bong non phải truyền máu thì tỷ

lệ phải truyền tập trung nhiều ở thể trung bình và thể nặng. Đặc biệt trong

thể nặng số bệnh nhân phải truyền máu > 3 đơn vị máu rất nhiều. Điều này

cũng có thể dễ dàng nhận thấy rằng rau bong non thể trung bình, thể nặng,



72

khối lượng máu mất nhiều trước mổ cũng như việc chảy máu do đờ tử cung

do rối loạn đơng máu phải bồi phụ khối lượng tuần hồn nhiều hơn n ên tỷ lệ

truyền máu là rất cao và thể rau bong non càng nặng số lượng máu truyền

càng nhiều.

Qua nghiên cứu của chúng tơi thấy có 3 trường hợp phải truyền máu ở

thể ẩn và 4 trường hợp phải truyền máu ở thể nhẹ. Nguyên nhân truyền không

phải do mức độ trầm trọng của bệnh mà là do bệnh kèm theo có số lượng tiểu

cầu < 100 G/l và kết hợp với hội chứng HELLP.

- Theo bảng 3.15, thời điểm truyền máu ở trong và sau mổ chiếm tỷ lệ

cao nhất với 55,6%, còn thời điểm sau mổ chiếm 26,7% và trong quá trình mổ

là 17,8%. Điều này có thể thấy rằng các Bác sỹ Sản khoa đã chú ý‎ nhiều hơn

trong công tác vừa hồi sức, vừa phẫu thuật lấy thai tránh được thêm tổn

thương cho mẹ và thai. Việc quan tâm nhiều vào hồi sức, bồi phụ khối lượng

tuần hoàn, giúp bổ sung các yếu tố đông máu làm giảm số lượng máu mất,

đây là một trong những phương pháp điều trị kịp thời giảm tỷ lệ cắt tử cung

cũng như biến chứng rối loạn đông máu mang lại kết tốt.

Biến chứng chảy máu thứ phát: có 10 bệnh nhân chảy máu thứ phát

chiếm tỷ lệ 5,2%, trong đó có 4 bệnh nhân phải mổ lại, một bệnh nhân cắt tử

cung, còn 3 bệnh nhân bảo tồn được tử cung sau khi dùng các biện pháp cầm

máu. Việc chảy máu thứ phát ở rau bong non có tỷ lệ rất cao, cần phải tích

cực xử trí ngay sau đẻ , theo dõi sát trong thời gian hậu sản để điều trị những

trường hợp chảy máu này tránh việc mất máu nhiều dẫn tới mổ lại, rối loạn

đơng máu.

Rối loạn đơng máu: có 4 trường hợp, những bệnh nhân này do mất

máu nhiều hôn mê nặng, suy đa tạng và đã được chuyển viện.

Nhiễm khuẩn: tỷ lệ nhiễm khuẩn sau đẻ của rau bong non trong

nghiên cứu này là 2,1%, trong đó 1 trường hợp viêm nội mạc tử cung, 3



73

trường hợp nhiễm trùng vết mổ, tỷ lệ này không phải là cao ngay cả so với

những trường hợp khơng có bệnh lý‎, bởi vì bản thân rau bong non thiếu máu,

truyền máu, mổ lại, cắt tử cung, tiền sản giật là những đối tượng có sức đề

kháng kém, nguy cơ nhiễm trùng cao vì vậy các bác sỹ đã dùng kháng sinh

tích cực phòng nhiễm trùng nên tỷ lệ biến chứng này là thấp và nhẹ.

Suy tạng: còn trong bảng 3.18 cho ta thấy tỷ lệ suy gan, suy thận, suy

đa tạng gặp chủ yếu ở các thể bệnh như thể ẩn, thể nhẹ, thể trung bình của rau

bong non. Qua quá trình thu thập số liệu chúng tôi thấy những biến chứng này

tập trung chủ yếu trên những bệnh nhân có tiền sản giật nặng từ trước, có thể

đây là biến chứng của tiền sản giật nặng. Điều này cho thấy tiền sản giật là

một bệnh lý‎ của thời kỳ thai nghén có rất nhiều biến chứng nặng nề, chính vì

thế chúng ta ln cảnh giác để tìm các triệu chứng diễn biến của bệnh, hạn

chế các tai biến nặng nề do bệnh gây ra.

4.3.2.2. Đối với thai:

 Tỷ lệ non tháng: tỷ lệ non tháng rất cao chiếm 78,1%, trong đó

thai < 28 tuần chiếm tỷ lệ 9,9%, thai từ 28-32 tuần chiếm tỷ lệ 36,4%, thai từ

33-36 tuần chiếm 31,8%, thai 37-41 tuần chiếm 18,2% và ≥ 4 tuần chiếm

3,6%. Số thai đủ tháng 35 /192 trường hợp chiếm 18,2%. Tuổi thai nhỏ nhất

trong nghiêm cứu là 25 tuần.

So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Khanh (1996)

[12]. Thai phụ đẻ non chiếm 58%, theo nghiên cứu Ngô văn Quỳnh (2003) [17]

Tỷ lệ thai phụ đẻ non chiếm 59,9%.

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ trẻ đẻ non chiếm 78,1% cao hơn so

với nghiên cứu của 2 tác giả trên. Rau bong non là một bệnh cấp cứu sản khoa,

với đặc thù của bệnh là khơng thể trì hỗn khi đã chẩn đốn ra bệnh, nếu chúng

ta cố tình kéo dài thời gian, sẽ làm cho tiến triển của bệnh nặng hơn và có thể



74

gây tử vong cho thai, thậm chí có thể đe dọa tính mạng mẹ. Mặt khác việc phát

hiện bệnh sớm nhờ vào chẩn đoán suy thai trên máy monitoring sản khoa, cùng

với phương pháp hồi sức sơ sinh sau đẻ tốt nên mạnh dạn phẫu thuật ở những

tuần thai có khả năng ni được, tránh được các tai biến do rau bong non gây ra.

 Tỷ lệ trẻ chết: bảng 3.19 và 3.20 với 192 bệnh nhân rau bong non có

tới 47 trường hợp trẻ chết chiếm 24,5%, trong đó có 35 trẻ chết trước lúc đẻ,

12 trẻ chết sau đẻ . Qua quá trình thu thập só liệu thấy với 35 trường hợp thai

chết trước lúc đẻ thì có tới 28 trường hợp chết trước lúc vào viện 28/192

chiếm 14,6%, và 7 trẻ chết từ lúc vào viện cho đến lúc đẻ chiếm tỷ lệ 7/192 là

3,6%.

So sánh với tác giả Ngô Văn Quỳnh (2003) [17] thai chết trước lúc vào

viện là 30,6%, thai chết từ lúc vào viện đến lúc đẻ là 8,8%.

Qua so sánh thấy rằng trong nghiên cứu này tỷ lệ thai chết trước lúc vào

viện và từ lúc vào đến lúc đẻ đều giảm đi rõ rệt. Điều này cho thấy những

bệnh nhân rau bong non đã được chẩn đốn sớm hơn, và xử trí nhanh chóng

kịp thời đã hạn chế được tai biến tử vong con một cách đáng kể. Mặc dù tỷ lệ

chết trước lúc vào viện vẫn chiếm tỷ lệ khá cao so với chết tại viện. Vì vậy

chúng tơi suy nghĩ cần khắc phục nhược điểm này bằng cách tăng cường giáo

dục sức khỏe sinh sản để bệnh nhân tới viện sớm hơn, đồng thời tăng cường

khả năng chuyên môn và thiết bị cho các bệnh viện tuyến huyện, tỉnh. Để các

tuyến này có thể chẩn đốn sớm rau bong non và xử trí được tại chỗ, hạn chế

tai biến cho cả mẹ lẫn con.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo nghiên cứu của Ngô Văn Quỳnh [17], thể nặng mất tim thai 100%, suy thai có tỷ lệ cao nhất ở rau bong non thể trung bình 27,2%, thể nhẹ 2,7%, thể ẩn 2%.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×