Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Như vậy, dịch khớp của bệnh nhân THK là loại dịch đặc trưng khác biệt hoàn toàn so với dịch khớp của các bệnh khớp viêm. Đây là một xét nghiệm có giá trị để chẩn đoán xác định THK gối và để phân biệt giữa THK với các bệnh khớp viêm [57].

Như vậy, dịch khớp của bệnh nhân THK là loại dịch đặc trưng khác biệt hoàn toàn so với dịch khớp của các bệnh khớp viêm. Đây là một xét nghiệm có giá trị để chẩn đoán xác định THK gối và để phân biệt giữa THK với các bệnh khớp viêm [57].

Tải bản đầy đủ - 0trang

76



Trong nghiên cứu của chúng tơi điểm VAS trung bình của bệnh nhân tại thời

điểm N0 là 7,15 ± 1,07 (bảng 3.5). Kết quả của chúng tôi tương tự nghiên cứu

của Đỗ Thị Lan năm 2015 điểm VAS trung bình là 7,26 ± 1,16 [58] (p>0,05)

và của McCabe năm 2017 điểm VAS trung bình là 7,0 ± 1,8 điểm [12]

(p>0,05). Điểm VAS của chúng tơi cao hơn Bùi Hải Bình (2016) VAS trung

bình là 6,82 ± 0,85 [59] (p<0,05), vì bệnh nhân của chúng phần lớn là thối

hóa khớp giai đoạn III (chiếm 60,49%), còn trong nghiên cứu của Bùi Hải

Bình phần lớn thối hóa khớp là giai đoạn II (chiếm 53,3%). Như vậy điểm

VAS của các nghiên cứu có thể khác nhau, điều này phụ thuộc vào đánh giá

chủ quan của từng người bệnh, phụ thuộc vào tỷ lệ giai đoạn thối hóa khớp

gối của từng nghiên cứu.

WOMAC là chỉ số đánh giá mức độ đau, trạng thái chức năng hoạt

động của khớp gối thông qua các hoạt động thường ngày của bệnh nhân.

Bệnh nhân tự đánh giá mức độ đáp ứng của mình theo thang điểm từ 0 đến 4

điểm (không: 0 điểm, nhẹ: 1 điểm, vừa: 2 điểm, nặng: 3 điểm, rất nặng: 4

điểm). Trong nghiên cứu này, WOMAC trung bình của bệnh nhân tại thời

điểm N0 là 60,51 ± 10,75 (bảng 3.5). Giá trị này cao hơn Đỗ Thị Lan, trong

đó WOMAC trung bình là 61,30 ± 7,18 điểm [58] (p<0,05) và cao hơn Smith

(WOMAC trung bình là 49,5 ± 15,8 [85], vì thối hóa khớp giai đoạn III của

chúng tơi là 60,49%, trong khi đó của Đỗ Thị Lan là 59,2%, của Smith là

48,9%. Như vậy điểm WOMAC của các nghiên cứu có thể khác nhau, điều

này phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của từng người bệnh, phụ thuộc vào tỷ

lệ giai đoạn thoái hóa khớp gối của từng nghiên cứu.

KOOS là bộ câu hỏi (gồm 42 câu) phỏng vấn người bệnh về 5 nhóm

biểu hiện lâm sàng liên quan đến chức năng của khớp gối, gồm đau gối (9

câu); các triệu chứng tại gối (7 câu); khả năng sinh hoạt hằng ngày (17 câu);

khả năng chơi thể thao và các mơn giải trí (5 câu); chất lượng cuộc sống (4



77



câu). Mỗi câu hỏi được chia làm 5 mức độ từ nhẹ đến nặng, tương ứng được

tính điểm từ 0-4. Trong nghiên cứu của chúng tơi KOOS trung bình của bệnh

nhân tại thời điểm N0 là 54,91±9,17 điểm. Giá trị này cao hơn trong nghiên

cứu của Dương Đình Tồn (36 ± 3,07 điểm) [86], McCabe (46,6±15,6 điểm)

[12] vì 80,4% bệnh nhân của Dương Đình Tồn là thối hóa khớp độ III, của

McCabe là 62,8% là thối hóa khớp độ III và IV, còn của chúng tơi là 60,49%

là thối hóa khớp độ III (bảng 3.7).

Thang điểm LEQUESNE được áp dụng khá phổ biến để đánh giá

không chỉ mức độ đau mà cả sự hạn chế về chức năng vận động khớp gối của

bệnh nhân. Mức độ đau và hạn chế vận động của khớp gối phụ thuộc vào mỗi

nhóm nghiên cứu, phụ thuộc vào tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân của mỗi

nghiên cứu. Chỉ số LEQUESNE trung bình của bệnh nhân tại thời điểm N0 là

11,87 ± 2,18, tức là đau ở mức độ rất nặng (bảng 3.5). So sánh với các tác giả

khác, kết quả của chúng tôi cao hơn của Đỗ Thị Lan là 11,08 ± 2,28 [58], tuy

nhiên thấp hơn Nguyễn Văn Pho là 14,93 ± 1,67 [73] và Smith với

LEQUESNE trung bình là 13,6 ± 2,8 [85]. Sự khác biệt này có thể do mức độ

đau là cảm giác chủ quan của người bệnh.

Đặc điểm siêu âm của bệnh nhân thối hóa khớp gối ngun phát

Các nghiên cứu đều cho thấy, siêu âm có khả năng phát hiện hầu hết

các tổn thương trong THK gối mà lâm sàng không phát hiện được như gai

xương, tràn dịch, viêm màng hoạt dịch, tổn thương sụn khớp, sụn chêm, kén

khoeo [87],[62],[88],[89]. Đặc biệt, siêu âm là phương pháp khơng xâm nhập

có độ nhậy và độ tin cậy trong chẩn đoán viêm màng hoạt dịch, tràn dịch và

kén khoeo [90].

Trong nghiên cứu của chúng tơi bề dày dịch khớp gối trung bình của

bệnh nhân là 8,02 ±2,86mm (bảng 3.6). Nghiên cứu của EULAR (2005) có bề

dày lớp dịch là 7,5 ± 5,0 mm [7]. Nghiên cứu của Lê Thị Liễu (2009) và Lê



78



Công Tiến (2013), Đỗ Thị Lan (2015) thì bề dày lớp dịch lần lượt là 4,7 ± 2,6

mm [62]; 5,89 ± 2,26 mm [71]. và 6,26 ± 2,29 mm [58]. Như vậy bề dày lớp

dịch khác nhau tùy theo từng nghiên cứu.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ phát hiện có dày màng hoạt dịch

của bệnh nhân là 17,9% (bảng 3.6). Nghiên cứu của Đỗ Thị Lan (2015) tỷ lệ

này là 25% [58]. Nghiên cứu của Iagnocco (2009), tỷ lệ này là 22,1% [91].

Theo một số nghiên cứu, tỷ lệ dày màng hoạt dịch phát hiện trên siêu âm ở

bệnh nhân THK gối có triệu chứng thay đổi từ 33-86% và 17-93% [8],[91],

[92]. Điều này giải thích sự khác biệt về tỷ lệ dày màng hoạt dịch của chúng

tôi với các nghiên cứu khác. Sự khác biệt về tỷ lệ viêm màng hoạt dịch giữa

các nghiên cứu là do kỹ thuật siêu âm và định nghĩa sử dụng. Bệnh nhân THK

gối có viêm màng hoạt dịch là biểu hiện của bệnh tiến triển nhanh. Nghiên

cứu hình ảnh nội soi ở 422 bệnh nhân THK gối có triệu chứng Ayral cho rằng

có mối liên quan giữa viêm màng hoạt dịch với tiến triển mất sụn khớp sau 12

tháng theo dõi [30]. Như vậy, viêm màng hoạt dịch thường gặp ở bệnh nhân

THK gối giai đoạn muộn và là triệu chứng có giá trị để theo dõi sự tiến triển

của bệnh.

Tỷ lệ phát hiện có kén Baker của bệnh nhân nghiên cứu là 13,6% (bảng

3.6). Trong nghiên cứu của Lê Thị Liễu (2009), Lê Cơng Tiến năm (2013),

Đỗ Thị Lan (2015) thì tỷ lệ bệnh nhân có kén Baker là 17,7% [62]; 14,1%

[71] và 19,7% [58]. Nghiên cứu của Mermerrci (2011) tỷ lệ này là 30,1%

[72], còn theo Nguyễn Văn Huy (2004) thì tỷ lệ có kén Baker là 17,7% [93].

Như vậy tỷ lệ có kén Baker ở bệnh nhân thối hóa khớp là tùy thuộc từng tác

giả. Nguyên nhân của kén khoeo được cho là do tràn dịch khớp, đặc biệt tràn

dịch nhiều làm tăng áp lực trong khớp đẩy dịch qua điểm yếu của bao khớp ở

phía sau vào khoảng trống túi cùng cơ sinh đôi và cơ bán mạc [94]. Như vậy

kén khoeo có liên quan với mức độ tràn dịch. Theo Hill và cộng sự, tỷ lệ kén

khoeo là 43,2% ở những bệnh nhân có tràn dịch trung bình hoặc lớn, trong



79



khi tỷ lệ này là 22,7% ở những người khơng có tràn dịch hoặc tràn dịch số

lượng ít [95]. Marti-Bonmati cũng cho rằng tần xuất kén khoeo có liên quan

với sự có mặt cũng như số lượng dịch khớp [96]. Bên cạnh đó, tỷ lệ kén

khoeo còn phụ thuộcvào định nghĩa kén và protocol được sử dụng ở từng

nghiên cứu.

Đặc điểm X.quang của bệnh nhân thối hóa khớp gối nguyên phát

Tỷ lệ tổn thương khớp gối trên X.quang ở giai đoạn II và III của các

bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi tương ứng là 40,7% và 59,3%

(bảng 3.7). Kết quả này cũng tương tự với Đỗ Thị Lan (2015) với tỷ lệ tương

ứng là 40,8% và 59,2% [64],và kết quả này cũng tương tự nghiên cứu của

Leighton R (2013) với tỷ lệ tương ứng là 39,5% và 60,5% [64].Như vậy tỷ lệ

tổn thương khớp gối trên X.quang ở các giai đoạn II và III là tương tự nghiên

cứu của các tác giả trong và ngoài nước.

4.2. Hiệu quả điều trị của phương pháp chọc hút dịch kèm tiêm

corticosteroid nội khớp gối

4.2.1. Thay đổi về mức độ đau theo thang điểm VAS

Thang điểm VAS là thang điểm đánh giá cường độ đau theo cảm giác

chủ quan của bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu trên cơ sở lượng hóa. Đây là

một cơng cụ đã và đang được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới trong các

nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị trong các bệnh khớp nói chung và THK

nói riêng. Đánh giá thang điểm VAS như sau: bệnh nhân nhìn vào một thước

có biểu diễn các mức độ đau và chỉ vào mực độ đau mà bệnh nhân cảm nhận

được tại thời điểm đánh giá. Phần mặt sau của thước chia thành 10 vạch mỗi

vạch cách nhau 1cm. Thầy thuốc xác định điểm tương ứng với điểm mà bệnh

nhân vừa chỉ ở mặt trước của thước. Đánh giá mức độ đau theo thang điểm

VAS theo 4 mức độ: 0 không đau, 1 - 3 điểm: đau nhẹ; 4 - 6 điểm: đau vừa; 7

- 10 điểm: đau nặng. Hiệu quả giảm đau đều đạt được được thể hiện qua sự



80



cải thiện thang điểm VAS ở ngày thứ ngày thứ 30 (N30) so sánh với thời điểm

bắt đầu nghiên cứu (ngày thứ nhất: N0) ở cả hai nhóm nghiên cứu. Sự thay

đổi này có ý nghĩa thống kê (p1 < 0,001). Cụ thể, điểm VAS ở nhóm NC giảm

trung bình 6,38 ± 1,38 điểm và nhóm ĐC giảm 1,97 ± 1,95 (bảng 3.10) tại

thời điểm N30. Khi so sánh hiệu quả điều trị của hai nhóm, chúng tơi nhận

thấy nhóm NC có chỉ số VAS giảm rõ rệt hơn nhóm ĐC (p2 < 0,001).

Mặt khác qua đánh giá kết quả điều trị theo thang điểm VAS (biểu đồ

3.3), chúng tơi nhận thấy ở nhóm NC đa số bệnh nhân đạt kết quả khá và tốt.

Trong khi đó nhóm đối chứng khơng có trường hợp nào đạt kết quả tốt, chủ

yếu là có kết quả trung bình và kém theo thang điểm VAS (p < 0,001). Điều

này có nghĩa là việc hút dịch và tiêm corticosteroid nội khớp gối có hiệu quả

giảm đau tốt hơn là khơng tiêm. Ngồi ra, chúng tơi thấy hiệu quả giảm đau

của nhóm nghiên cứu còn tiếp tục được duy trì qua theo dõi một tháng sau can

thiệp. Tương tự như nhận định kết quả của chúng tôi, tác giả Pyne D (2004)

cho rằng tác dụng giảm đau của corticosteroid còn có thể kéo dài đến tuần thứ 8

sau hút dịch và tiêm [55], thậm chí Arroll B (2004) và Arden N K (2008) nhận

thấy tác dụng giảm đau của corticosteroid có thể kéo dài tới 26 tuần sau tiêm

[97], [98]. Leung và cộng sự (2011), nghiên cứu trên 110 bệnh nhân thối hóa

khớp có tràn dịch, tác giả đã so sánh giữa nhóm hút dịch và tiêm corticosteroid

nội khớp với nhóm khơng hút dịch và khơng tiêm đã đưa ra kết luận: nhóm bệnh

nhân hút dịch và tiêm đã có một sự cải thiện điểm đau VAS tốt hơn so với nhóm

còn lại (56,3% so với 32,2%, p < 0,05) [99].

4.2.2. Thay đổi về mức độ đau và chức năng vận động theo thang điểm

LEQUESNE

Trong THK gối, đau là triệu chứng do nhiều cơ chế gây nên như: phản

ứng viêm của màng hoạt dịch, viêm bao khớp, gai xương làm kéo căng các

đầu mút thần kinh ở màng xương, do những rạn nứt nhỏ ở phần xương dưới



81



sụn gây kích thích. Kết hợp với sự biến đổi cấu trúc kể trên trong THK dẫn

đến giảm chức năng vận động của khớp. Thang điểm LEQUESNE được áp

dụng khá phổ biến để đánh giá mức độ đau và mức độ ảnh hưởng đến chức

năng vận động của khớp trong bệnh lý THK, các tiêu chí để đánh giá trong

thang điểm bao gồm mức độ đau ở nhiều tư thế, khả năng đi bộ và một số

hoạt động khác [100].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, LEQUESNE trung bình cho cả hai

nhóm NC và ĐC vào thời điểm bắt đầu nghiên cứu không khác biệt có ý

nghĩa thống kê (Bảng 3.11). Sự cải thiện mức độ đau và chức năng vận động

của khớp gối được thấy ở cả hai nhóm biểu hiện qua sự giảm LEQUESNE ở

các thời điểm nghiên cứu (ngày thứ 30 - N30) so với thời điểm trước nghiên

cứu (ngày thứ nhất - N0). Sự khác biệt này có ý nghĩa thông kê (p1 < 0,001).

Cụ thể, chỉ số LEQUESNE ở nhóm NC giảm trung bình là 8,31 ± 2,16 điểm

và của nhóm ĐC giảm 3,03 ± 3,30 điểm (bảng 3.11) tại thời điểm N30. So

sánh hiệu quả điều trị của hai nhóm, chúng tơi nhận thấy nhóm NC có chỉ số

LEQUESNE giảm nhiều hơn nhóm ĐC (p2 < 0,001). Pyne D (2004) đã

nghiên cứu hiệu quả của corticosteroid nội khớp trên 57 bệnh nhân thối hóa

khớp có tràn dịch cho kết quả điểm LEQUESNE từ 15 điểm đến tuần thứ ba

giảm 2,3 điểm và tác dụng kéo dài cho đến tuần thứ 8 điểm số LEQUESNE

vẫn tiếp tục giảm 2,5 điểm so với thời điểm ban đầu [55].

4.2.3. Thay đổi về mức độ đau và chức năng vận động theo thang điểm

WOMAC

WOMAC là chỉ số đánh giá mức độ đau, thời điểm cứng khớp trong

ngày và chức năng vận động của khớp gối ở bệnh nhân THK gối. Bệnh nhân

tự đánh giá sự đáp ứng và khả năng vận động khớp gối của mình theo thang

điểm từ 0 đến 4 điểm (không: 0 điểm, nhẹ: 1 điểm, vừa: 2 điểm, nặng: 3 điểm,

rất nặng: 4 điểm).



82



Chỉ số WOMAC trung bình cho cả hai nhóm bệnh nhân ở thời điểm bắt

đầu nghiên cứu khác biệt nhau khơng có ý nghĩa thống kê (bảng 3.12). Sự cải

thiện mức độ đau và chức năng vận động khớp gối của bệnh nhân được thấy ở

cả hai nhóm nghiên cứu thể hiện qua sự giảm WOMAC tại thời điểm nghiên

cứu ngày thứ 30 (N30) so với thời điểm trước nghiên cứu (ngày thứ nhất N0). Sự khác biệt là có ý nghĩa thơng kê (p1 < 0,001). Cụ thể, WOMAC ở

nhóm NC giảm trung bình là 34,44 ± 10,48 điểm và của nhóm ĐC giảm 16,41

± 17,76 điểm (bảng 3.12) tại thời điểm ngày thứ 30 (N30). Mặc dù cả hai

nhóm bệnh nhân đều có biểu hiện giảm chỉ số WOMAC, nhưng chúng tôi

nhận thấy nhóm NC có chỉ số giảm nhiều hơn đáng kể so với nhóm ĐC (p2 <

0,001). Trong nghiên cứu của Chao J và cộng sự năm 2010 so sánh giữa

corticosteroid và giả dược, so sánh sự thay đổi trong điểm số đau WOMAC từ

trước thời điểm nghiên cứu đến 4 tuần sau tiêm. Kết quả cho thấy có sự cải

thiện đáng kể trong điểm số WOMAC tại tuần thứ 4 ở nhóm điều trị

corticosteroid (p < 0,001) [101]. Nghiên cứu của Arroll B [98] , Arden NK

[97] và cộng sự cho thấy hiệu quả của corticosteroid nội khớp cải thiện điểm

đau và chức năng khớp gối theo thang điểm WOMAC có thể lên đến 26 tuần

sau can thiệp. Điều này có nghĩa là việc điều trị tiêm corticosteroid nội khớp

gối khơng những giúp cải thiện mức độ đau mà còn cải thiện chức năng vận

động khớp của bệnh nhân nghiên cứu. Khớp gối có vai trò quan trọng trong

hoạt động hàng ngày của mỗi người. Khớp gối tham gia vào rất nhiều động

tác trong sinh hoạt hàng ngày như đi lại, đứng, ngồi… Vì vậy, nếu khớp gối bị

đau hoặc hạn chế vận động sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới sinh hoạt của người

bệnh. Một phương pháp điều trị có tác dụng giảm đau khớp gối sẽ giúp hoạt

động chức năng của bệnh nhân THK được cải thiện tốt hơn.



83



4.2.4. Thay đổi về hình ảnh siêu âm khớp gối

Tổn thương khớp gối trên siêu âm biểu hiện bằng tình trạng của dày

màng hoạt dịch hoặc sự xuất hiện của dịch trong ổ khớp. Trong nghiên cứu

của chúng tơi, có 57 bệnh nhân nhóm NC với 81 khớp gối được can thiệp hút

dịch và tiêm corticosteroid nội khớp và có 58 bệnh nhân nhóm ĐC với 81

khớp gối được đánh giá. Tại thời điểm ngày thứ 30 (N30) đa số khớp gối của

bệnh nhân ở nhóm NC hết và giảm dịch, khơng có trường hợp nào là lượng

dịch khơng thay đổi hoặc nhiều lên, trong khi đó cũng tại thời điểm đánh giá

này thì ở nhóm ĐC số khớp gối của bệnh nhân có hiện tượng khơng thay đổi

lượng dịch hoặc nhiều lên chiếm tỷ lệ cao (p < 0,001) (biểu đồ 3.4).

Mặt khác, bề dày lượng dịch trung bình của khớp gối ở hai nhóm thời

điểm trước nghiên cứu tương tự nhau với p > 0,05 (bảng 3.13), bề dày lượng

dịch trung bình ở cả hai nhóm đều giảm hơn có ý nghĩa so với thời điểm trước

nghiên cứu (p1 < 0,001). Cụ thể, bề dày lượng dịch ở nhóm NC giảm trung

bình là 5,82 ± 3,12 mm và của nhóm ĐC giảm 3,79 ± 2,13 mm tại thời điểm

ngày thứ 30 (N30). Mặc dù vậy, mức độ giảm lượng dịch khớp gối ở nhóm

NC tốt hơn nhóm ĐC (p2 < 0,001).

Theo kinh điển, biểu hiện của viêm khớp trên siêu âm ngồi biểu hiện

của dày màng hoạt dịch còn có sự xuất hiện của dịch khớp. Khi tình trạng

viêm khớp giảm thì các biểu hiện này cũng giảm hoặc mất đi. Do đó, sự giảm

và hết dịch nhanh trong ổ khớp gối ở nhóm NC nhiều hơn đáng kể so với

nhóm ĐC có nhiều khả năng là do tác dụng chống viêm tại chỗ của một lượng

corticosteroid được đưa vào ổ khớp. Tại đây, thuốc đóng vai trò chính giúp cải

thiện nhanh chóng của tình trạng tràn dịch ở các bệnh nhân THK gối.

4.2.5. Thay đổi về mức độ vận động khớp gối

Sự hạn chế vận động trong thoái hóa khớp gối có thể do nhiều yếu tố

kết hợp: đau, tràn dịch khớp, phản ứng viêm của màng hoạt dịch, tổn thương



84



bao khớp, sự mất sụn, hẹp khe khớp… Chức năng vận động của khớp gối

được thể hiện thông qua khả năng đi bộ, leo cầu thang, đi trên mặt đất lồi lõm,

ngồi xổm, ngồi xuống đứng lên, làm việc nhà từ nhẹ đến nặng và một số các

hoạt động khác. Đó là một trong những tiêu chí đánh giá của thang điểm

LEQUESNE và thang điểm WOMAC. Ngoài hai thang điểm này chúng tơi

còn tiến hành đánh giá thêm chức năng vận động khớp gối ở trạng thái tự do

mà không chịu tác động của trọng lượng cơ thể biểu hiện bằng độ gấp duỗi

của khớp gối (biểu đồ 3.5).

Trong 81 khớp gối ở nhóm NC được can thiệp thì 100% khớp gối của

bệnh nhân đều cải thiện chức năng vận động ở thời điểm ngày thứ 30 (N30) so

với thời điểm trước nghiên cứu (N0). Trong khi đó ở nhóm ĐC với 81 khớp gối

được đánh giá thì chỉ có 48,5% số khớp gối được cải thiện, 43,4% số khớp gối

không thay đổi và 7,9% khớp gối của bệnh nhân có biểu hiện xấu đi.

So sánh về mức độ cải thiện vận động của khớp gối giữa hai nhóm cho

thấy nhóm có hút dịch và tiêm corticosteroid tại khớp gối có cải thiện vận

động khớp gối tốt hơn đáng kể so với nhóm khơng được hút dịch và tiêm tại

chỗ (p2 < 0,001). Điều này củng cố thêm vai trò đáng kể của phương pháp hút

dịch kết hợp với tiêm corticosteroid nội khớp trong điều tri THK gối [102].

Do hạn chế về mặt thời gian, chúng tôi chưa thể theo dõi người bệnh

trong một khoảng thời gian dài và có thể chưa có được đánh giá đầy đủ về

phương pháp này. Việc đánh giá hiệu quả lâu dài của tiêm corticosteroid nội

khớp trong điều trị bệnh thối hóa khớp gối nguyên phát phải cần đến những

nghiên cứu lớn hơn trong một khoảng thời gian lâu hơn nữa trong tương lai.

4.2.6. Vai trò của phương pháp chọc hút dịch kết hợp với corticosteroid

trong điều trị THK gối

Theo cơ chế của phản ứng viêm đó là khi có tác nhân kích thích sẽ gây

nên đáp ứng miễn dịch khơng đặc hiệu gây tăng sinh bạch cầu, tại chỗ sẽ tăng

lượng máu đến và gây tăng bạch cầu đa nhân, đại thực bào, các protein gây



85



viêm như prostaglandin, bradykinin... Do tác dụng của corticosteroid là ở giai

đoạn sớm của quá trình viêm, thuốc đã ức chế các yếu tố hóa ứng động và các

cytokine thúc đẩy quá trình viêm như interleukin - 1 (IL - 1), interleukin - 6

(IL - 6), interleukin - 8 (IL - 8), do đó corticosteroid tại chỗ sẽ làm giảm phản

ứng viêm do hạn chế giãn mạch và hạn chế sự giảm tính thấm thành mạch, từ

đó làm giảm đại thực bào và bạch cầu hạt kéo đến ổ viêm, hạn chế giải phóng

các kinin gây co mạch, và ức chế giải phóng các enzym gây phá hủy hàng rào

bảo vệ phản ứng viêm [103].

Thuốc ức chế phospholipase A2, làm giảm tổng hợp và giải phóng

leucotrien, prostaglandin. Tác dụng này là gián tiếp vì thuốc làm tăng sản xuất

lipocortin, là protein có mặt trong tế bào, có tác dụng ức chế phospholipase

A2. Khi phospholipase A2 bị ức chế, phospholipid khơng chuyển được thành

acid arachidonic từ đó làm giảm tổng hợp prostaglandin và làm giảm quá

trình viêm. Điều đó giải thích tác dụng chống viêm của corticosteroid mạnh

hơn tác dụng chống viêm của các thuốc NSAIDs vì các thuốc này chỉ ức chế

được sinh tổng hợp PG mà thơi.

Ngồi tác dụng chống viêm tại chỗ của corticosteroid, khi kết hợp với

phương pháp chọc hút dịch thì khi lượng dịch giảm đã làm giảm áp lực khớp,

giảm đau cho bệnh nhân rất nhiều. Trên thế giới liệu pháp chọc hút dịch và

tiêm corticosteroid nội khớp trong điều trị bệnh THK gối đã được nghiên cứu

và đánh giá là có hiệu quả ở nhiều mức độ khác nhau [104], [105], [106],

[107]. Trong quá trình quan sát thực tế trên lâm sàng chúng tôi thấy liệu pháp

chọc hút dịch và tiêm corticosteorid nội khớp đối với bệnh nhân THK gối là

có hiệu quả, vì vậy chúng tơi đã tiến hành nghiên cứu này. Bệnh nhân trong

nhóm NC được đã giảm được đau, cải thiện chức năng vận động khớp gối rất

tốt. Chính vì vậy, phương pháp này đã giải quyết nhanh chóng và hiệu quả

triệu chứng đau, sự hạn chế vận động của khớp gối . Đây là những yếu tố ảnh

hưởng tới sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân khiến bệnh nhân phải đến cơ sở

y tế để điều trị.



86



4.2.7.Điều trị kén Baker

Nhóm NC chúng tơi có 14/81 bệnh nhân có kén Baker được chọc hút

kén dưới hướng dẫn của siêu âm và tiêm 1 ống Dipropan, nhóm ĐC có 8/81

bệnh nhân có kén Baker được điều trị chống viêm đường uống. Kích thước

của kén Baker dưới siêu âm sau thời gian điều trị đều giảm ở cả 2 nhóm

(p<0,05), tuy nhiên nhóm NC giảm nhiều hơn nhóm ĐC (p<0,05). Mức độ

giảm kích thước của ken Baker tương đồng với sự giảm bề dày lớp dịch trên

siêu âm.

4.2.8. Thời điểm dừng thuốc chống viêm

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 115 bệnh nhân, được chia thành 2

nhóm, nhóm ĐC có 58 bệnh nhân,nhóm NC có 57 bệnh nhân, cả 2 nhóm đều

được điều trị chung là thuốc chống viêm Non Steroid. Chúng tôi nhận thấy

rằng, tất cả bệnh nhân của 2 nhóm đều đáp ứng sau điều trị, tuy nhiên thời

gian dùng thuốc của nhóm NC ít hơn nhóm ĐC (p<0,05), thể hiện sau tuần

đầu tiên (T1) trong nhóm NC chỉ còn 78,9% bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc,

trong khi tỉ lệ này ở nhóm ĐC là 96,6%. Sự khác biệt giữa hai nhóm kéo dài

cho đến tuần thứ 4 (T4).

Như vậy, thời gian dùng thuốc chống viêm của 2 nhóm là khác biệt cho

đến tuần thứ 4, tức là đáp ứng của nhóm NC với thuốc chống viêm nhanh hơn

nhóm ĐC, điều này làm giảm thời gian dùng thuốc, giảm tác dụng không

muốn của thuốc cho bệnh nhân.

4.2.9. Đánh giá mối liên quan giữa số lượng bạch cầu qua thang điểm VAS

và KOOS với đáp ứng điều trị tại chỗ.

Thối hóa khớp thuộc nhóm bệnh khơng do viêm nhưng trên lâm sàng,

hiện tượng viêm vẫn xảy ra. Viêm có thể do các mảnh sụn hoặc xương bị

bong ra, hoại tử trở thành vật thể lạ trôi nổi trong ổ khớp gây phản ứng viêm

thứ phát của màng hoạt dịch, dẫn đến giải phóng histamin, bradykinin,

serotonin, prostaglandin, các yếu tố gây đơng máu. Lympho bào T hoạt hố



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Như vậy, dịch khớp của bệnh nhân THK là loại dịch đặc trưng khác biệt hoàn toàn so với dịch khớp của các bệnh khớp viêm. Đây là một xét nghiệm có giá trị để chẩn đoán xác định THK gối và để phân biệt giữa THK với các bệnh khớp viêm [57].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×