Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Số lượng bạch cầu (tế bào/mm3)

Số lượng bạch cầu (tế bào/mm3)

Tải bản đầy đủ - 0trang

68



-



Cải thiện chức năng khớp gối qua thang điểm KOOS tỷ lệ thuận với số

lượng bạch cầu trong dịch khớp. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3

nhóm (p<0,001).



69



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân thối hóa khớp

gối ngun phát

4.1.1. Đặc điểm chung

Tuổi và giới tính

Nghiên cứu của chúng tơi có 115 bệnh nhân có độ tuổi dao động từ 40

- 83 tuổi. Trong đó nhóm tuổi 60 - 69 tuổi và trên 70 chiếm tỷ lệ cao hơn:

38,2% và 32,2% (bảng 3.2). Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 65,8±9,2

(bảng 3.1). Tỷ lệ này cũng tương tự với một số nghiên cứu khác như Đỗ Thị

Lan (2015) là: 60,67 ± 8,71[58]. Theo Yavuz (2012), tuổi trung bình của bệnh

nhân là: 61,0 ± 6,3 [56]. Như vậy, nhóm bệnh nhân chúng tơi nghiên cứu có

tuổi trung bình tương tự như các nghiên cứu khác.

Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều cho thấy nữ giới có nguy

cơ mắc bệnh cao hơn nam giới. Điều này cũng được thể hiện trong nghiên

cứu của chúng tôi với tỉ lệ nữ là 64,3% cao hơn nam là 35,7%. Kết quả này

cũng tương tự với Đào Thị Nga (2017) với tỷ lệ nam cao hơn nữ[65].

Theo nghiên cứu của Muraki thì tỷ lệ thối hóa khớp gối ở nữ giới ln

cao hơn nam giới, và tình trạng đau gối tăng lên rõ rệt theo tuổi đối với nữ,

nhưng ít phụ thuộc vào tuổi đối với nam. Ở độ tuổi trên 55, mức độ tiến triển

bệnh ở nữ giới nhanh hơn nam giới [66]. Sowers và cộng sự tiến cứu tại thời

điểm 1996, tỷ lệ thối hóa khớp gối ở mức độ vừa và nặng của phụ nữ sau

mãn kinh là 3,7%, với cùng đối tượng, đánh giá lại sau 11 năm, tỷ lệ này tăng

lên 26,7% [67]. Bệnh thối hóa khớp gối ở nữ gặp nhiều hơn nam về tỷ lệ và



70



mức độ tiến triển của bệnh được giải thích có liên quan đến tình trạng thay đổi

nội tiết tố của phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh và tiền mãn kinh.

Chỉ số BMI

Cùng với tuổi tác và yếu tố nghề nghiệp thì chỉ số khối lượng cơ thể

cũng là yếu tố thúc đẩy thoái hoá khớp, đặc biệt là các khớp chịu lực như

khớp gối, khớp háng. Theo cơ chế bệnh sinh thoái hoá khớp thì yếu tố cơ học

(trong đó có béo phì) góp phần khởi phát cũng như làm gia tăng tốc độ thối

hố của sụn khớp [1],[2], [68],[69]. Mức độ béo phì liên quan đến mức độ tàn

phế, mức độ béo phì liên quan đến mức độ đau. Vì vậy, việc giảm cân và tập

luyện thích hợp tránh quá tải khớp khớp gối là một trong những biện pháp tốt

nhất giảm nguy cơ thối hóa khớp gối. BMI trung bình trong bệnh nhân

nghiên cứu là 23,1±3,5 (bảng 3.1), trong đó nhóm bệnh nhân thừa cân (BMI >

23) chiếm tỷ lệ cao nhất (50,03%) (biểu đồ 3.1). Bệnh nhân có thể trạng gầy

(BMI < 18,5) chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,5%). Chỉ số BMI trung bình trong

nghiên cứu của chúng tơi tương tự với Lê Thị Liễu (2009) là 23,96 ± 2,86

[70]; nhưng thấp hơn tác giả Leighton R (2014) là 28,3 ± 4,1 [64]. Sự khác

biệt có thể do BMI của người châu Âu và châu Mỹ cao hơn người châu Á.

Thời gian mắc bệnh

Một xu thế thường thấy ở các nước phát triển là nhu cầu về chất lượng

cuộc sống của người bệnh được đề cao, nên bệnh nhân thường được phát hiện

và điều trị sớm. Ngược lại, với các nước nghèo, đang phát triển, người bệnh

có xu hướng chịu đựng đến lúc vượt quá khả năng chịu đựng thì mới đến

viện. Chính vì vậy, thời gian mắc bệnh cho đến thời điểm nghiên cứu của nhiều

tác giả đều khá dài. Thời gian mắc bệnh trung bình của bệnh nhân trong nghiên

cứu là 2,9±1,1năm, ngắn nhất là 0,8 năm, dài nhất là 6,7 năm. Đặc biệt thời gian

mắc bệnh từ 1 đến 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 95% (biểu đồ 3.2). Thời

gian mắc bệnh trung bình theo Đỗ Thị Lan (2015), Bùi Hải Bình (2016) lần lượt

là 3,23 ± 1,66[58]; 3,33 ± 3,08 [59]. Thời gian mắc bệnh trung bình trong



71



nghiên cứu của Nguyễn Văn Pho [73] là 4,3± 2,7 năm với thời gian mắc bệnh

từ 1 đến 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 70,9%. Như vậy, thời gian mắc bệnh

trung bình có sự khác nhau tùy từng nghiên cứu, nhưng chúng tôi nhận thấy

thời gian mắc bệnh từ 1 đến 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất.

Nghề nghiệp

Nghề nghiệp ảnh hưởng khơng nhỏ đến tình trạng THKG. Có nhiều

ngành nghề gắn liền với tư thế lao động không thuận lợi cho khớp gối, làm

gia tăng lực tải lên khớp gối, dẫn đến khớp nhanh thoái hóa. Theo Cooper và

cộng sự [74] khi đánh giá mối liên quan giữa nghề nghiệp và bệnh lý THKG

thấy rằng những người trung tuổi, có cơng việc liên quan đến tư thế ngồi

xổm, hoặc quỳ gối với thời gian trên 30 phút mỗi ngày, hoặc lên xuống cầu

thang trên 10 lượt mỗi ngày có nguy cơ THKG cao hơn nhóm chứng. Nghiên

cứu về lực tải và ứng lực của khớp gối, Morrison thấy rằng, khi đi trên mặt

phẳng, mặt khớp gối chịu một lực tải gấp 3 lần trọng lượng cơ thể. Khi lên

dốc hoặc lên cầu thang, lực tải này tăng lên gấp 4 lần, khi ngồi xuống, đứng

lên lực này tăng gấp 5-5,6 lần trọng lượng cơ thể [75]. Người dân sống vùng

ngoại ơ có tỷ lệ THKG cao hơn người sống vùng nội thành [66]. Trong nghiên

cứu của chúng tôi, mức độ THKG giữa hai đối tượng lao động nặng nhọc

(53,0%) và lao động nhẹ nhàng (47,0%) là tương tự nhau (p>0,05). Kết quả

này được lý giải phải chăng mức độ THKG trong đối tượng lao động nặng

nhọc trên thực tế ở Việt Nam cũng nặng hơn, nhưng vì điều kiện khó khăn về

tài chính đã khiến nhiều người trong số họ không đến khám và điều trị bệnh

tại bệnh viện kịp thời.

Vị trí khớp gối bị bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tôi: gối phải chiếm 29,8%, gối trái chiếm:

29,8%, cả hai gối chiếm: 40,4% (bảng 3.1). Theo Nguyễn Thị Thanh Phượng

(2015) thì tỷ lệ gối phải là 14,3%; gối trái là 10,8; cả 2 gối 75%[84]. Có thể cả

hai khớp đều chịu tải trọng của cơ thể là như nhau nên tỷ lệ mắc bệnh là

tương tự nhau. Tuy nhiên, cần có thêm những nghiên cứu lớn hơn để có thể



72



khẳng định vấn đề này.

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Đặc điểm lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng hay gặp nhất là đau khi

vận động (100%) (bảng 3.4), cứng khớp buổi sáng chiếm 53,3%, kết quả này

cũng tương tự của Hoàng Đoan Trang đau khớp là 100%. Cứng khớp buổi

sáng là 55,8%)[76]. Lục khục khớp khi vận động (91,0%), tương tự với kết

quả nghiên cứu của Bùi Hải Bình (90,2%)[59]. Nhiệt độ da vùng khớp bình

thường trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỷ lệ 98,4%, theo Altman [19] là

78%. Tỷ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn có thể do nhóm bệnh

nhân của chúng tơi đều ở giai đoạn X.quang 2-3 theo Kellgren và Lawrence,

tức THK gối ở mức trung bình, khơng có nhóm bệnh nhân nặng. Tỷ lệ sờ thấy

ụ xương hay phì đại đầu xương của chúng tơi chiếm tỷ lệ 50,0%. Phì đại

xương là do cốt hoá xương ở xung quanh các gai xương ở đầu xương đùi và

xương chày. Theo Nguyễn Thị Ái, triệu chứng thực thể này chiếm 51,7%[39].

Còn trong nghiên cứu của Altman thì phì đại đầu xương chiếm tỷ lệ 55%[19].

Bào gỗ là dấu hiệu chứng tỏ có tổn thương khớp đùi chè trong THK gối. Dấu

hiệu bào gỗ trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỷ lệ 49,2%, thấp hơn tỷ lệ

74,1% của Nguyễn Thị Ái [39]. Theo Đinh Thị Diệu Hằng [78] dấu hiệu bào

gỗ chỉ chiếm 16,4% thấp hơn các nghiên cứu trên có thể là do đối tượng là

người khỏe mạnh và mắc bệnh THK gối giai đoạn sớm.

Trên lâm sàng, khả năng phát hiện tràn dịch khớp bằng dấu hiệu bập

bềnh xương bánh chè sẽ khó khăn khi số lượng dịch tràn ít, khi đó vai trò của

siêu âm sẽ có độ nhạy cao hơn. Trong 115 bệnh nhân nghiên cứu của chúng

tơi, có 162 khớp gối, có 63/162 bệnh nhân được phát hiện có tràn dịch trên

lâm sàng chiếm 38,9%, trên siêu âm phát hiện 83/162 khớp (51,2%), khác biệt



73



này có ý nghĩa thống kê với p<0,05, kết quả này cũng tương tự với Tường

Duy Hùng (2016) [81].

Đặc điểm dịch khớp gối

Tràn dịch khớp gối là tình trạng lượng dịch trong khớp gối nhiều lên, có

thể phát hiện dễ dàng trên siêu âm. Tình trạng tràn dịch có thể do nhiều nguyên

nhân khác nhau như: chấn thương, bệnh lý hoặc nhiễm khuẩn ...Tràn dịch trong

thối hóa khớp gối còn có thể do phản ứng viêm màng hoạt dịch khớp.

Về số lượng dịch khớp trung bình là 11,32 ± 5,57 ml trong đó màu sắc

từ khơng màu đến vàng nhạt. 100% có độ trong suốt giống dịch khớp

người bình thường. Kết quả có 96,3% bệnh nhân có độ nhớt bình thường và

96,3% có test mucin âm tính; 3,7% dương tính 1+. Kết quả lượng dịch khớp

trung bình của chúng tơi cũng phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Thị Lan

(2015), lượng dịch khớp trung bình là 11,82 ± 4,52 ml [58] và Nguyễn Thị

Thanh Phượng (2015) là 13,8±3,7ml [79]. Kết quả về màu sắc, độ nhớt, độ

trong và test mucin của chúng tôi là phù hợp với nhận xét của Nguyễn Thị

Ngọc Lan khi nghiên cứu đặc điểm dịch khớp của người bình thường và dịch

khớp của một số bệnh khớp [57]. Theo các nghiên cứu trong nước về đặc

điểm đại thể khớp gối viêm, màu sắc thường 100% vàng chanh đến vàng đậm,

mất trong, dịch nhỏ giọt như nước và test mucin dương tính từ 2+ đến 3+

[57],[80],[81]. Như vậy, thông qua việc đánh giá dịch khớp về mặt đại thể và

mucin test, bác sĩ có thể sơ bộ chẩn đốn một khớp gối là thối hóa hay viêm,

điều này đặc biệt có ý nghĩa với những cơ sở y tế khơng có trang thiết bị máy

móc hiện đại.

Bảng 4.1 Lượng dịch khớp trung bình theo các tác giả

Tác giả



Lượng dịch khớp

(ml)



p



74



Nguyễn Thị Thanh Phượng



11,8 ± 4,5



>0,05



Đỗ Thị Lan [58]



13,8±3,7



>0,05



Phạm Văn Cường



11,32 ± 5,57



[79]



*Đặc điểm sinh hóa

- Nồng độ protein dịch khớp trung bình 27,8 ± 16,2 g/l.

- Nồng độ glucose dịch khớp trung bình 6,7 ± 3,6 mmol/l.

Theo Tường Duy Hùng khi nghiên cứu về đặc điểm dịch khớp gối ở bệnh

nhân viêm khớp dạng thấp, nồng độ protein trung bình dịch khớp là

40,5±7,9g/l, nồng độ glucose trung bình dịch khớp là 5,63±3,09 [81]. Nồng

độ protein trong dịch khớp ở nghiên cứu này thấp hơn Tường Duy Hùng có ý

nghĩa thống kê (p<0,001) nhưng nồng độ glucose trung bình trong dịch khớp

ở nghiên cứu này tương đương với Tường Duy Hùng (p>0,05). Như vậy,

nồng độ protein trong dịch khớp gối thối hóa là thấp hơn trong khớp gối

viêm. Do vậy, sự khác biệt về nồng độ protein dịch khớp có thể gợi ý trong

chẩn đốn phân biệt giữa khớp gối thối hóa và khớp gối viêm.

Về đặc điểm tế bào thì số lượng tế bào bạch cầu trung bình 163 ± 247

tế bào/mm3 trong đó tỷ lệ bạch cầu trung tính: 16 ± 5%. Theo Nguyễn Thị

Ngọc Lan (1985) số lượng bạch cầu trung bình trong 1 mm³ bình thường là:

199 ± 298 và tỷ lệ phần trăm bạch cầu trung tính là 15 ± 4 [57]. Như vậy,

khơng có sự khác biệt về số lượng bạch cầu trung bình/mm³ và phần trăm

bạch cầu trung tính giữa nhóm bệnh nhân của chúng tơi với nhóm khỏe mạnh

(p>0,05). Hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định, số

lượng bạch cầu trong dịch khớp gối ở người bình thường khơng vượt q

1000 tế bào/mm³, tỷ lệ bạch cầu trung tính khơng vượt quá 25% [82],[57],



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Số lượng bạch cầu (tế bào/mm3)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×