Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguồn: Journal of the American Society of Echocardiography, 2010, 23.7: 685-713

Nguồn: Journal of the American Society of Echocardiography, 2010, 23.7: 685-713

Tải bản đầy đủ - 0trang

27



TP như TAPSE. Một vài nghiên cứu chứng minh TAPSE giảm tương quan với rối

loạn chức năng tăng và tỷ lệ sống còn tồi [73],[74],[75]. Forfia và cộng sự xác định

điểm rơi dưới 18 mm dự đoán một tiên lượng tồi, tái cấu trúc cơ tim và rối loạn

chức năng tăng [75]. TAPSE chỉ thể hiện sự co ngắn lại theo chiều dọc của TP cho

nên trong quá trình tiến triển của rối loạn chức năng TP, TAPSE giảm dần đến một

giới hạn và không giảm thêm nữa trong khi chức năng và EF TP vẫn tồi dần đi

(hình II.15).



Hình II.15: Biến đổi TAPSE trong tăng áp động mạch phổi

Nguồn: Imaging in Medicine (2012) Volume 4, Issue 6

Ngược lại, sự co ngắn theo chiều ngang thì tâm thu được đo trên MRI tim hay

siêu âm tim phản ánh sự vận động thành tự do TP và vách liên thất thì có tương

quan với EF trong suốt q trình tiến triển của rối loạn chức năng. Mặc dầu sự di

lệch của thành tự do cũng chỉ đạt đến một giới hạn nào đó nhưng sự di chuyển của

vách liên thất là đồng hành với rối loạn chức năng. Sự co ngắn theo chiều ngang

chủ yếu do di lệch vách liên thất [76],[77]. Sự co ngắn theo cả chiều dọc và chiều

ngang được đánh giá kết hợp qua một chỉ số đó là FAC TP được đánh giá bằng MRI

và siêu âm tim.



28



Hình II.16. : Phân suất thay đổi thể tích thất phải trên siêu âm tim trong tăng

áp động mạch phổi

(Nguồn:https://www.researchgate.net/figure/)

FAC có tương quan với EF và tiến triển dần theo thời gian và có thể được

dùng như một dấu chỉ đánh giá chức năng TP và theo dõi tiến triển. Tuy nhiên, đánh

giá trên siêu âm 2D còn khó khăn và ít nhạy so với MRI tim [77],[78]. Vị trí vách

liên thất được đánh giá qua chỉ số lệch tâm (Eccentricity Index: EI) được mô tả lần

đầu tiên bởi Ryan và cộng sự, được coi như dấu chỉ của sự q tải cả thể tích và áp

lực TP. Nó được tính bởi tỷ lệ giữa chiều trước- sau và đường kính vách- bên của

TT ở mặt cắt trục ngắn ngang qua cơ nhú TT trên siêu âm 2D [55] (hình II.19). Một

số nghiên cứu cho thấy EI tăng tương quan với tăng RAP và PAP và đi kèm với tiên

lượng khơng tốt và tỷ lệ sống còn thấp. EI dường như là dấu chỉ rất tốt cho rối loạn

chức năng TP và cũng được dùng để theo dõi bệnh [79],[80],[81]. EI tăng trong thì



29



tâm trương  1.7 chỉ ra tiên lượng tử vong ở bệnh nhân với PAH vô căn đi kèm với

TAPSE giảm  15 mm [81]. Hơn nữa, Ghio và cộng sự chỉ ra rằng kết hợp TAPSE

và EI cho phép tìm kiếm rối loạn chức năng tâm thu, tâm trương và tồn bộ của TP

[81].



A: Hình ảnh sóng S’



B: Hình ảnh strain



Hình II.17: Biến đổi chức năng thất phải trong tăng áp động mạch phổi

Nguồn: Imaging in Medicine (2012) Volume 4, Issue 6

Tại mặt cắt bốn buồng từ mỏm, một số chỉ số bị ảnh hưởng bởi PH được đánh

giá như: giãn và phì đại TP, S’ giảm (hình II.17). Trong PH, mỏm tim phì đại và vô

động nên việc đánh giá kỹ vùng mỏm loại trừ huyết khối hoặc dị vật vùng mỏm.



30



Một vài nghiên cứu còn đồng thuận về việc dấu hiệu tràn dịch màng tim là yếu

tố tiên đoán tuyệt vời của tử vong [73],[79] vì nó chứng tỏ có tắc nghẽn lưu thơng

tĩnh mạch và bạch mạch do tăng RAP thứ phát sau rối loạn chức năng tâm trương.

Chỉ số Tei là dấu chỉ tốt cho chức năng TP toàn bộ và tiên lượng bệnh nhân, nó

ít bị ảnh hưởng bởi hình thể TP, TR và tình trạng đổ đầy TP.Tei tăng thường đi kèm

rối loạn chức năng TP [73],[74],[82]. Tei nên được chỉ số hoá theo nhịp tim bằng

cách nhân với 75 và chia cho tần số tim. Ở bệnh nhân với PAH vô căn chỉ số này

tương quan với triệu chứng lâm sàng và >0.88 tiên đốn tỷ lệ sống còn thấp [83].

Trên mặt cắt cạnh ức, ở cá thể bình thường, thành trước TP thường mỏng, khối

lượng của nó nhỏ hơn 1/6 và đường kính nhỏ hơn 1/3 TT. Quá tải áp lực kéo dài

trong PH làm giãn và phì đại TP. Mặt cắt này cho phép đo nhiều chỉ số đánh giá

kích thước 2 thất (hình II.18).



31



Hình II.18: a: Hình ảnh theo mặt phẳng cạnh xương ức (kích thước của thất

phải chỉ bằng 1/3 thất trái); b: Hình ảnh trên mặt phẳng cạnh ức ở bệnh nhân tăng

áp phổi; c: Đường ra thất phải trên mặt cắt cạnh ức bình thường, biểu hiện bời

đường hơ hấp chính, nhánh của động mạch phổi và tĩnh mạch phổi; d: Mặt cắt

cạnh ức cho thất đường ra thất phải ở bệnh nhân tăng áp phổi, biểu hiện với giãn

động mạch phổi và các nhánh của nó; e: Hình ảnh 4 buồng tim trên mặt cắt tại

mỏm; f: Hình ảnh 4 buồng tim ở bệnh nhân tăng áp phổi, biểu hiện là giãn đáng kể

thất phải và phì đại.

Nguồn: European Respiratory Review, 2012, 21.125: 239-248.



32



Hình II.19: Hình ảnh D shape trong tăng áp động mạch phổi

Nguồn: Imaging in Medicine (2012) Volume 4, Issue 6

I.



TÓM TẮT CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG



THẤT PHẢI BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TIM TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG

ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI CĨ BỆNH TỰ MIỄN

1.



Tóm tắt các nghiên cứu về tình hình tăng áp động mạch phổi ở



bệnh nhân tự miễn

Tỷ lệ TAĐMP ước tính khoảng 15 trường hợp trên một triệu người theo một

nghiên cứu tại Pháp năm 2006 [7]. Các nghiên cứu ở Pháp và Scotland ước tính tỷ

lệ bệnh nhân mắc bệnh tự miễn có TAĐMP là 2,3 và 10 trường hợp trên một triệu

dân [7], [84]. Tỷ lệ TAĐMP trong Lupus ban đỏ hệ thống (LBĐHT) được ước tính

khoảng 0,5 – 43% trong một số nghiên cứu ở người lớn [85] và 0,5 – 17,5% trong

hai nghiên cứu gần đây ở Pháp [86]. Tỷ lệ TAĐMP ước tính là khá rộng bởi sự tác

động của nhiều yếu tố khác nhau như các nhóm dân số khác nhau, thiếu một định

nghĩa thống nhất cho TAĐMP và các phương pháp chẩn đoán khác nhau (siêu âm

tim hoặc thông tim phải). Trong một nghiên cứu thuần tập về Lupus với cỡ mẫu lớn

ở Anh (n = 288), tỷ lệ LBĐHT có TAĐMP là 4,2%. Tuy nhiên, nghiên cứu này sử



33



dụng siêu âm tim để chẩn đốn, do đó áp lực động mạch phổi tâm thu ước tính có

thể có sự khác biệt đáng kể so với “tiêu chuẩn vàng” thông tim phải [85].

Cơ quan đánh giá sớm và quản lý TAĐMP (The Registry to Evaluate Early

and Long-term Pulmonary Arterial Hypertension Disease Management - REVEAL)

là cơ quan gồm 54 trung tâm có trụ sở tại Mỹ dành cho những bệnh nhân TAĐMP.

Ở đây có tập hợp bệnh nhân TAĐMP lớn nhất (n = 2.967) được chẩn đoán xác định

qua thơng tim phải. Trong đó có 641 bệnh nhân mắc bệnh tự miễn có TAĐMP [87].

Đa số bệnh nhân XCBHT có TAĐMP trong REVEAL thuộc nhóm người da trắng

(84%), trong LBĐHT là 37%. Khoảng 1/3 số bệnh nhân XCBHT và bệnh MLKHH

có TAĐMP được báo cáo có hiện tượng Raynaud, tuy nhiên, hiện tượng này ở bệnh

nhân LBĐHT chỉ khoảng 14% (p < 0,0001).

Hai nghiên cứu thuần tập lớn đã so sánh sự khác biệt về điều trị TAĐMP trong

LBĐHT và XCBHT. Bệnh nhân LBĐHT có TAĐMP có nhiều khả năng đáp ứng

với liệu pháp ức chế miễn dịch hơn trong cả hai nhóm người Mỹ và Anh. Ở Mỹ,

22% bệnh nhân LBĐHT có TAĐMP và 6,8% bệnh nhân XCBHT có TAĐMP được

điều trị với ức chế miễn dịch. Do các phương pháp điều trị khác nhau, con số này

cao gấp bốn lần so với ở Anh [88], [87].

Nghiên cứu phân tích tổng hợp năm 2013 của Masataka Kuwana và cộng sự

[89] đã phân tích các dữ liệu đánh giá điều trị TAĐMP thông thường (19 nghiên

cứu) và TAĐMP trong bệnh tự miễn (9 nghiên cứu) dựa trên việc tìm kiếm các bài

báo tồn văn được cơng bố giữa tháng 1/1990 đến tháng 8/2012. Nghiên cứu cho

thấy bệnh nhân TAĐMP (tất cả các nhóm) có độ tuổi từ 32 – 55, nữ giới chiếm 61 –

87%. Trong đó, bệnh nhân mắc bệnh tự miễn có TAĐMP có độ tuổi từ 45 – 55, nữ

giới chiếm 74 – 95%.

Theo nghiên cứu phân tích tổng hợp của Xiaoqin Yang và cộng sự [12], trong

17 nghiên cứu báo cáo tỷ lệ TAĐMP ở bệnh nhân mắc bệnh MLKHH, ước tính tỷ lệ

này dao động từ 2,8 đến 32%, tỷ lệ gộp là 13%. Trong 12 nghiên cứu báo cáo tỷ lệ

TAĐMP ở bệnh nhân mắc XCBHT, tỷ lệ này dao động từ 3,6 – 32%, tỷ lệ gộp là

13%. LBĐHT và viêm khớp dạng thấp, mỗi bệnh chỉ có hai nghiên cứu báo cáo tỷ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguồn: Journal of the American Society of Echocardiography, 2010, 23.7: 685-713

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×