Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Với UTCTC giai đoạn FIGO IA, IB1 và một số trường hợp IB2 (selective cases) thì có thể xem xét bảo tồn đối với phụ nữ còn nhu cầu sinh con. Đối với thể giải phẫu bệnh ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư tế bào nhỏ thì chưa có bằng chứng hỗ trợ việc bảo tồn

Với UTCTC giai đoạn FIGO IA, IB1 và một số trường hợp IB2 (selective cases) thì có thể xem xét bảo tồn đối với phụ nữ còn nhu cầu sinh con. Đối với thể giải phẫu bệnh ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư tế bào nhỏ thì chưa có bằng chứng hỗ trợ việc bảo tồn

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



- Giai đoạn IB1 và một số trường hợp chọn lọc đối với giai đoạn IB2:

Cắt cổ tử cung triệt căn (radical trachelectomy) + vét hạch chậu ± vét hạch

động mạch chủ bụng (cân nhắc làm bản đồ hạch cửa)

1.4.2.2. Điều trị UTCTC FIGO I với phụ nữ khơng còn nhu cầu sinh con

- Giai đoạn IA1 chưa xâm lấn mạch bạch huyết: khoét chóp

Theo dõi sau khoét chóp:

* Các diện cắt âm tính, khơng có khả năng phẫu thuật: Theo dõi

* Diện cắt âm tính, có khả năng phẫu thuật: Cắt tử cung mở rộng

(extrafascial hysterectomy)

* Diện cắt dương tính với carcinoma: cắt tử cung mở rộng hoặc cắt tử

cung triệt căn cải biên (modifed radical hysterectomy) + vét hạch chậu (cân

nhắc làm bản đồ hạch cửa)

- Giai đoạn IA1 xâm lấn mạch bạch huyết và IA2:

+ Cắt tử cung triệt căn + vét hạch chậu, hoặc

+ Xạ trị triệt căn (bao gồm xạ ngoài và xạ áp sát)

- Giai đoạn IB1, IB2

+ PT cắt tử cung triệt căn + vét hạch chậu ± vét hạch động mạch chủ

bụng (phẫu thuật là phương án điều trị ưu tiên), hoặc

+ Xạ ngoài khung chậu + xạ áp sát (tổng liều tại điểm A: 80-85 Gy) ±

hóa chất nền tảng platin đồng thời

- Giai đoạn IB3

+ Hóa xạ đồng thời: Xạ ngoài khung chậu + xạ áp sát (tổng liều tại điểm A

≥ 85 Gy) + hóa chất nền tảng platin (HXĐT là phương án điều trị ưu tiên), hoặc

+ Cắt tử cung triệt căn + vét hạch chậu ± vét hạch động mạch chủ bụng, hoặc

+ HXĐT trước, PT cắt tử cung triệt căn sau (đối với các trường hợp bệnh

lan rộng hoặc do giải phẫu tử cung khiến cho hiệu quả xạ áp sát bị hạn chế)

1.4.3. Điều trị UTCTC giai đoạn FIGO IIA



30



- Giai đoạn IIA1: Tương tự giai đoạn IB1, IB2 không giữ khả năng sinh

sản (phẫu thuật là phương án điều trị ưu tiên)

- Giai đoạn IIA2: Tương tự giai đoạn IB3

1.4.4. Điều trị UTCTC giai đoạn IIB – IVA

Nhìn chung quan điểm điều trị cho giai đoạn này là không phẫu thuật,

xu hướng trong những năm gần đây là áp dụng phác đồ hóa xạ trị đồng thời.

- Nếu hạch chậu và hạch cạnh động mạch chủ bụng (-) trên chẩn đốn

hình ảnh:

Xạ ngồi khung chậu + hóa chất đồng thời + xạ áp sát

- Nếu hạch chậu (+) và hạch cạnh động mạch chủ bụng (-):

Xạ ngồi khung chậu + hóa chất đồng thời + xạ áp sát ± xạ hạch cạnh

động mạch chủ bụng, hoặc

Lấy bỏ hạch bằng PT nội soi, nếu hạch cạnh động mạch chủ bụng (-) thì

xạ ngồi khung chậu + hóa chất đồng thời + xạ áp sát, nếu hạch cạnh động mạch

chủ bụng (+) thì xạ mở rộng (extended-field) + hóa chất đồng thời + xạ áp sát

- Nếu hạch chậu (+) và hạch cạnh động mạch chủ bụng (+): xạ mở rộng

+ hóa chất đồng thời + xạ áp sát.

1.4.5. Điều trị UTCTC giai đoạn IVB

Tùy thuộc vào từng bệnh nhân cụ thể mà có thể cân nhắc kết hợp hóa

xạ trị hoặc chỉ điều trị nâng đỡ và chăm sóc triệu chứng đơn thuần

1.4.6. Vai trò của HXĐT triệt căn trong điều trị UTCTC giai đoạn tiến

triển tại chỗ

Với các trường hợp UTCTC tiến triển tại chỗ (giai đoạn IB2 – IVA),

HXĐT triệt căn là phương pháp điều trị quan trọng nhất, ngoại trừ giai đoạn

IIA1 thì phẫu thuật vẫn còn là điều trị ưu tiên [16].

PT thường không phải chỉ định đầu tiên trong điều trị UTCTC giai đoạn

tiến triển tại chỗ vì khó có khả năng triệt căn và những bệnh nhân sau PT

thường phải điều trị bổ trợ, gây ra tỷ lệ tử vong và biến chứng cao [16-18].



31



Yamashita H và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 59 bệnh nhân UTCTC giai

đoạn IIB, trong đó nhóm 1 gồm 34 bệnh nhân được điều trị PT sau đó XT bổ

trợ, nhóm 2 gồm 25 bệnh nhân HXĐT triệt căn; kết quả cho thấy tỷ lệ gặp

biến chứng nghiêm trọng của nhóm 1 cao gấp đơi nhóm 2 [18].

Kể từ năm 1999, XT kết hợp đồng thời với hóa trị nền tảng Cisplastin

đã trở thành điều trị chuẩn đối với UTCTC giai đoạn tiến triển tại chỗ, tại

vùng sau khi được chứng minh hiệu quả vượt qua XT đơn thuần [6-10]. Sau

đó, trong phân tích gộp của J.Green đăng trên The Lancet (2001) đã khẳng

định HXĐT tăng tỷ lệ sống thêm toàn bộ 12%, tăng tỷ lệ sống thêm không

tiến triển 16%; tăng khả năng kiểm soát bệnh tại chỗ và tại vùng so với xạ trị

triệt căn; tuy nhiên tác dụng không mong muốn trên hệ tạo huyết (độ III-IV

theo WHO) và trên hệ tiêu hóa cũng cao hơn xạ trị triệt căn với odd-ratio lần

lượt là 1,49-8,60 và 2,22 [19].

Vai trò của cisplatin được chứng minh làm tăng tính nhạy cảm của tế

bào ung thư với xạ trị thông qua nhiều cơ chế. Giả thiết được nhiều tác giả tán

thành đó là Cisplatin ức chế sửa chữa các đứt gãy DNA chuỗi đôi gây ra bởi

tia xạ (thông qua ức chế sự hình thành các kết nối điểm cuối khơng tương

đồng - Nonhomologous End Joining) [20].

Trong những năm gần đây, có một phương án điều trị nhận được nhiều

quan tâm đối với bệnh nhân UTCTC giai đoạn IB2-IIB đó là hóa chất bổ trợ

trước, PT triệt căn sau. Năm 2017, các nhà khoa học Ấn Độ thực hiện một

nghiên cứu so sánh đối đầu giữa hai phương án điều trị, trên các bệnh nhân

UTCTC giai đoạn IB2, IIA, IIB. Kết quả cho thấy, ở nhóm HXĐT, tỷ lệ sống

thêm khơng bệnh tại thời điểm 5 năm cao hơn (76,7% so với 69,3%); tỷ lệ

bệnh tái phát, tiến triển thấp hơn (23% so với 30%) [21]. Hội nghị ESMO

2017 đã kết luận, HXĐT vẫn nên được xem như là điều trị chuẩn cho UTCTC

tiến triển tại chỗ, tại vùng.

1.5. TỔNG QUAN VỀ XẠ TRỊ TRONG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG



32



1.5.1. Xạ áp sát (brachytherapy) trong điều trị UTCTC

Chất phóng xạ Radium 226 đã được Marie và Pierr Curie phát hiện vào

năm 1898 và trong vòng 5 năm sau, trường hợp ung thư đầu tiên điều trị thành

công với loại nguồn này (hai trường hợp ung thư biểu mô tế bào đáy ở vùng

mặt tại thành phố St. Perterburg, năm 1903). Xạ trị được ứng dụng điều trị

phối hợp UTCTC ở Mỹ lần đầu tiên năm 1913, sử dụng Radium 226.

Nếu như xạ ngoài dùng máy phát nguồn đặt ngoài cơ thể chiếu về phía

khối u thì xạ áp sát sử dụng các nguồn phát xạ tiếp cận ngay tổn thương, với

một khoảng cách ngắn và nguồn có độ suy giảm liều nhanh. Xạ áp sát có vai

trò đặc biệt quan trọng đối với các khối u mô bệnh học thuộc loại kém nhậy

cảm với xạ ngồi (cần phải có liều xạ lớn mới đảm bảo tiêu diệt hết tế bào

ung thư) hoặc với những ung thư còn lại dai dẳng hay bệnh tái phát sau điều

trị. Nguyên tắc chung của xạ trị áp sát là: "Cường độ bức xạ tỷ lệ nghịch với

bình phương khoảng cách". Với nguyên tắc này, nếu nguồn phóng xạ càng

được đưa vào sát tổn thương, sát các tế bào ung thư, thì liều chiếu xạ sẽ rất

cao tại chỗ ung thư càng cao, còn các mơ lành xung quanh chỉ phải nhận liều

xạ thấp hơn nhiều.

Trong một nghiên cứu năm 2013 sử dụng dữ liệu từ Viện Nghiên cứu

Ung thư Hoa Kỳ, với thiết kế hồi cứu trên 7000 phụ nữ UTCTC giai đoạn IB2

đến IVA; Cerrotta A, Gardan G, Cavina R và cộng sự cho thấy sử dụng xạ áp

sát cùng với xạ ngoài làm tăng thời gian sống thêm do bệnh (CSS) 64% so với

52%; và tăng tỷ lệ sống thêm 5 năm toàn bộ (58% so với 46%) so với xạ trị

đơn thuần [22].

Xạ áp sát được dùng trong suốt thời gian xạ ngoài đến khi đáp ứng

giảm khối u tối đa (optimal tumor reduction); và thường xảy ra sau 2 đến 5

tuần xạ trị; phụ thuộc vào giai đoạn, kích thước khối u và đáp ứng với điều trị.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Với UTCTC giai đoạn FIGO IA, IB1 và một số trường hợp IB2 (selective cases) thì có thể xem xét bảo tồn đối với phụ nữ còn nhu cầu sinh con. Đối với thể giải phẫu bệnh ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư tế bào nhỏ thì chưa có bằng chứng hỗ trợ việc bảo tồn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×