Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sarcoma, không có gì đặc biệt

Sarcoma, không có gì đặc biệt

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Hình 1.1. Các con đường biệt hóa Sarcoma mỡ [16]

Qua thực tế của thực hành lâm sàng, việc áp dụng bảng phân loại của

TCYTTG (1969) đã dần bộc lộ những hạn chế, có nhiều điểm khơng còn phù

hợp dẫn đến hiệu quả điều trị không đồng nhất trong một loại ung thư, đặc biệt

là xạ trị các khối ung thư mơ mềm. Ngồi ra để thống nhất trong việc phân loại

giữa các nhà giải phẫu bệnh trên toàn thế giới và cũng để cập nhật các tiến bộ

mới của thời đại như các kỹ thuật y sinh học phân tử TCYTTG đã cho công bố

Phân loại mô học các sarcoma mô mềm, bao gồm sarcoma mỡ, lần 2 (1994)

1.2.2. Phân loại mô học các Sarcoma mỡ của TCYTTG, lần 2 (1994)

Trong bảng phân loại Sarcoma mô mềm của TCYTTG lần 2 (1994),

Sarcoma mỡ cũng như hầu hết các mô mềm khác đều dựa vào phân loại của

Enzinger và Weiss trước đó kèm theo có chỉnh lý và bổ sung. So với phân loại

năm 1969, lần phân loại này Sarcoma mỡ được bổ sung thêm nhóm Sarcoma

mỡ mất biệt hóa; trong nhóm Sarcoma mỡ biệt hóa có 3 dưới nhóm là: dạng

giống u mỡ lành, dạng xơ cứng và dạng viêm (Bảng 1.2)



7



Bảng 1.2. Phân loại mô học Sarcoma mỡ của TCYTTG (1994) [17]

Típ/Dưới Típ Sarcoma mỡ

Mã ICD-O

Sarcoma mỡ biệt hóa rõ

8851/3

Giống u mỡ lành

Xơ cứng

Viêm

Sarcoma mỡ nhầy

8852/3

Sarcoma mỡ tế bào tròn (Sarcoma mỡ nhầy biệt hóa kém)

8853/3

Sarcoma mỡ đa hình

8854/3

Sarcoma mỡ mất biệt hóa

8858/3

Với quan điểm các Sarcoma mỡ biệt hóa rõ nằm ở phần nơng cơ thể rất

hiếm khi tái phát, khái niệm U mỡ khơng điển hình lần đầu được nhắc tới để

chỉ các trường hợp này và trong bảng phân loại các u mô mềm của TCYTTG

(1994) chúng được sử dụng mã lành tính là 8850/1.

1.2.3. Phân loại mô học các Sarcoma mỡ của TCYTTG, lần 3 (2002)

Phân loại mô học các Sarcoma mô mềm của TCYTTG lần 3 (2002) có sự

đóng góp của rất nhiều tác giả, các nhà gen học, các nhà sinh học phân tử và

các nhà lâm sàng từ khắp nơi trên thế giới. Riêng trong phần phân loại của các

Sarcoma mỡ có sự góp mặt của 5 tác giả như A.P. Dei Tos, F. Pedeutour, T.

Mentzel. Trong lần xuất bản này của TCYTTG có những bài viết chi tiết và

những ảnh minh họa mỗi loại u một cách cụ thể, nội dung thể hiện một sự nhất

trí cao, đồng thời chứa đựng những tri thức cập nhật như các thông tin về lâm

sàng, dịch tễ, điều trị, tiên lượng và đặc biệt bao gồm các thông tin về di truyền

tế bào, gen phân tử mà trong các phân loại trước đó chưa được đề cập đến.

Trong phần phân loại Sarcoma mỡ có một số thay đổi, trước hết đó là nhóm U

mỡ khơng điển hình và Sarcoma mỡ biệt hóa rõ vào một nhóm chung có tiềm

năng sinh học trung gian (tiến triển tại chỗ) sử dụng mã 8851/3. Thuật ngữ u

mỡ khơng điển hình được sử dụng cho những tổn thương ở nơng, dễ phẫu thuật

vì tổn thương này khơng có tiềm năng di căn. Tuy nhiên, thuật ngữ sacôm mỡ

biệt hóa rõ vẫn được dùng cho các tổn thương ở sâu, sau phúc mạc, trung thất



8



vì phần lớn những tổn thương này liên quan đến tái phát tại chỗ khó kiểm sốt

và tử vong. Ngồi ra bổ sung thêm típ Sarcoma mỡ típ hỗn hợp vào bảng phân

loại (mã 8855/3) để chỉ các tổn thương có hình ảnh kết hợp giữa Sarcoma mỡ

tế bào tròn/Sarcoma mỡ nhầy và u mỡ khơng điển hình (Sarcoma mỡ biệt hóa

rõ)/Sarcoma mỡ mất biệt hóa hoặc giữa Sarcoma mỡ tế bào tròn/Sarcoma mỡ

nhầy và Sarcoma mỡ đa hình.

Bảng 1.3. Phân loại mơ học Sarcoma mỡ của TCYTTG (2002) [18]

Típ Sarcoma mỡ

Mã ICD-O

8851/3

Trung gian (tiến triển tại chỗ):

U mỡ khơng điển hình/Sarcoma mỡ biệt hóa rõ

Ác tính:

Sarcoma mỡ mất biệt hóa

8858/3

Sarcoma mỡ nhầy

8852/3

Sarcoma mỡ tế bào tròn

8853/3

Sarcoma mỡ đa hình

8854/3

8855/3

Sacoma mỡ típ hỗn hợp

Sacoma mỡ khơng có gì đặc biệt

8850/3

1.2.4. Phân loại mơ học các Sarcoma mỡ của TCYTTG, lần 4 (2013)

Năm 2013, Tổ chức Y tế thế giới tái bản lần thứ 4 phân loại các khối u mơ

mềm, trong đó liên quan đến sarcoma mỡ có các nhóm như sau: [9]

- U mỡ khơng điển hình/Sarcoma mỡ Biệt hóa rõ (Atypical lipomatous

tumor/well-differentiated liposarcoma - ALT/WDLPS)

- Sarcoma mỡ mất biệt hóa (Dedifferentiated liposarcoma - DDLPS)

- Sarcoma mỡ nhầy (Myxoid liposarcoma - MLPS)

- Sarcoma mỡ đa hình (Pleomorphic liposarcoma - PLPS)

- Sarcoma mỡ, khơng định loại (Liposarcoma, NOS)

So với phiên bản trước đó, trong lần tái bản này bảng phân loại đã bỏ các

thuật ngữ “Sarcoma mỡ tế bào tròn” và “Sarcoma mỡ típ hỗn hợp”. Sarcoma

mỡ tế bào tròn trước đây chính là vùng có các tế bào tăng sinh, kém biệt hóa

trong một Sarcoma mỡ nhầy. Còn sarcoma mỡ típ hỗn hợp, qua phân tích bản



9



chất di truyền cho thấy thuộc nhóm sarcoma mỡ mất biệt hóa[19].

1.2.5. Phân độ mơ học

- Hệ thống phân độ mô học của Hiệp hội quốc gia các trung tâm phòng

chống ung thư của Pháp (Fédération Nationale des Centres de Lutte Contre

Le Cancer – FNCLCC):

Đây là hệ thống phân độ được dùng phổ biến trên thế giới, căn cứ vào mức

độ biệt hóa của u, số lượng nhân chia và mức độ hoại tử để tính điểm, từ đó

xác định độ mơ học của các ung thư mơ mềm nói chung. Dựa vào hệ thống

này ta có hệ thống phân độ (Bảng 1.4) áp dụng riêng cho các sarcoma mô mỡ.

Bảng 1.4. Hệ thống phân độ của FNCLCC [20]

Điểm



Sự biệt hóa của u



1



-Sarcoma mỡ Biệt hóa rõ.



2



-Sarcoma mỡ nhầy.



3



-Sarcoma mỡ nhầy (tế bào tròn) độ cao.

-Sarcoma mỡ mất biệt hóa.

-Sarcoma mỡ đa hình.

Số nhân chia (trên 10 vi trường có độ phóng đại lớn (HPF))



1



0–9



2



10–19



3



≥20

Mức độ hoại tử u



0



Không hoại tử



1



<50%



2



≥50%



Tổng điểm Độ mô học

2-3



Độ I



4-5



Độ II



6-8



Độ III



10



1.3. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh Sarcoma mỡ

1.3.1. Đặc điểm lâm sàng

Sarcoma mỡ có thể gặp bất cứ vị trí nào của cơ thể, tuy nhiên tỷ lệ hay gặp

giữa các vùng là khác nhau. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 50% các

trường hợp sarcoma mỡ gặp ở mô mềm sâu của tứ chi, 1/3 các trường hợp gặp

ở sau phúc mạc. Vùng đầu-cổ tỷ lệ mắc bệnh khoảng 5%, trong khi vùng chi

trên chiếm tới 10%. Mặc dù mắc với tỷ lệ thấp nhưng các vị trí khác còn lại

của cơ thể có thể gặp sarcom mỡ như thừng tinh, khoang phúc mạc, nách, âm

hộ và thậm chí là vú.[21],[22],[23].

Với các khối u tại tứ chi hoặc các vùng nông của cơ thể thường u phát triển

chậm, không đau. Người bệnh đến khám thường với lý do đau sau một sang

chấn nhẹ hoặc tự sờ thấy khối u không biến mất theo thời gian. Ở giai đoạn

này được phát hiện thường là chậm trễ cho việc điều trị đối với bệnh nhân.

Với các khối u tại vùng sau phúc mạc, các biểu hiện lâm sàng thường xuất

hiện chậm khi u đã đủ lớn, do u nằm sâu và có khả năng giãn nở về mọi phía

(trừ phía sau), trong khi ổ bụng phía trước là một khoảng khơng gian rộng nên

u có thể phát triển lâu dài mà khơng có biểu hiện gì. Các dấu hiệu lâm sàng

của u mỡ ác tính sau phúc mạc thường là “triệu chứng mượn” của các cơ quan

lân cận. Triệu chứng cơ năng và tồn thân thường khơng rõ ràng và xuất hiện

ở giai đoạn cuối của u ác tính: đau bụng, gầy sút, mệt chán ăn... Khi khám

thực thể thường phát hiện khối trong ổ bụng hoặc khối căng vùng thắt lưng,

không di động theo nhịp thở, không liên tục với bờ sườn và không di động.

Một số triệu chứng khác của sarcoma sau phúc mạc như là:

+ Khó thở (do u quá to chèn ép cơ hồnh hoặc có di căn phổi).

+ Rối loạn tiêu hóa (do u chèn ép vào đường tiêu hóa).

+ Vàng da, dịch ổ bụng (do u chèn ép cuống gan)



11



+ Rối loạn tiết niệu: gây vô niệu, thiểu niệu (do u chèn ép niệu quản) hoặc

đái máu, bí đái, đái rắt (do u xâm lấn bàng quang).

+ Có thể có triệu chứng đau lan xuống đùi, rối loạn vận động và cảm giác ở

chân (do u chèn vào đám rối thần kinh thắt lưng – cùng).

+ Đau lưng, liệt hai chi dưới hoặc rối loạn cơ tròn (do u chèn ép vào tủy

sống hoặc lỗ liên đốt sống)

+ Phù chân, giãn tĩnh mạch chân (do u chèn ép vào tĩnh mạch chủ dưới

hoặc hệ thống bạch mạch sau phúc mạc).

+ Giãn tĩnh mạch bìu (do u chèn vào tĩnh mạch sinh dục).

1.3.2. Đặc điểm cận lâm sàng

Trong bệnh sarcoma mỡ, xét nghiệm các chất chỉ điểm u (tumor marker)

trong máu hầu như khơng có giá trị chẩn đốn, mà chủ yếu dựa vào các kết

quả của chẩn đốn hình ảnh.

- Siêu âm: Là phương pháp có giá trị trong việc xác định sự có mặt của u tại

một ví trí nào đó. Khối sarcoma mỡ thường tăng âm. Sarcoma mỡ sau phúc

mạc có độ phản xạ âm cao hơn mơ xung quanh, mặc dù tính chất này có thể

khơng gặp hoặc khó xác định đối với các khối u có độ biệt hóa kém. Trên hình

ảnh siêu âm tìm thấy khối u sau phúc mạc rắn, âm vang không đồng nhất, trung

tâm giảm âm thường gợi ý tới một sarcoma mỡ hơn là một u mỡ lành. Trung

tâm u giảm âm là kết quả của một xuất huyết hoặc hoại tử trong u.

Với sarcoma mỡ Biệt hóa rõ, ở ngoại vi thường có hình ảnh tăng âm khó

phân biệt với một u mỡ lành, tuy nhiên khi nghiên cứu trên siêu âm Doppler

có thể thấy sarcoma mỡ có hình ảnh tăng sinh mạch.

Với các sarcoma mỡ còn lại khác, ngồi hình ảnh khơng đồng nhất trên



12



siêu âm còn lại khơng có đặc điểm gì điển hình để phân biệt.

- X-quang: Chụp x-quang thường quy cho bệnh nhân mắc sarcoma mỡ có

thể định vị được khối u nhưng rất kém đặc hiệu, có hình ảnh vơi hóa nhưng ít

gặp, chỉ khoảng 10-15% bệnh nhân. Hình ảnh vơi hóa cũng có thể gặp cả ở u

mỡ lành, mặc dù trong u ác vôi hóa có vẻ gặp nhiều hơn các báo cáo cho thấy

nhưng khơng có sự khác biệt giữa u lành và u ác [23].

Hình ảnh x-quang được mơ tả chủ yếu của một bệnh nhân mắc sarcoma mỡ

thường là các đặc điểm gián tiếp hoặc các hậu quả do u gây ra như: Hình ảnh

xơ lệch, đè đẩy mơ xung quanh, ruột chứa đầy hơi do sarcoma mỡ sau phúc

mạc gây ra. Nếu chụp đối quang đường tiêu hóa có thể thấy dạ dày, ruột bị xê

dịch, khơng còn ở vị trí bình thường. Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV) có thể

thấy thận, niệu quản bị xê dịch.

Chụp cắt lớp vi tính (CT scan): đây là kỹ thuật có giá trị cao trong chẩn

đoán sarcoma mỡ. CT scan giúp xác định vị trí, kích thước, ranh giới , độ sâu

của khối u cũng như xác định các hạch di căn. Trong mỗi khối u, CT scan xác

định các thành phần có thể có trong u như vùng chứa mỡ, vùng khơng chứa

mỡ và tỷ lệ của chúng, mức độ xâm nhập của u, hình ảnh vơi hóa, hoại tử,

nang hóa. Các thành phần với các đặc điểm, tính chất khác nhau giữa các dưới

nhóm của sarcoma mỡ, được thể hiện trong Bảng 1.4.



Bảng 1.5. Một số đặc điểm của các típ Sarcoma mỡ

trên hình ảnh CT scan [24]

Dưới nhóm

của sarcoma mỡ



Tỷ



Đường



Tỷ lệ



Nốt đặc



trọng



bờ



mỡ



trong u



Vơi hóa



Hoại

tử/hó



13



a

U



mỡ



khơng



điển Mỡ



Đều,



>65%



++



Ít/Khơn



nang

+



+++



g

Ít/Khơn



++

+++

+



hình/Sarcoma mỡ Biệt hóa rõ

Sarcoma mỡ mất biệt hóa



Hỗn



mịn

Khơng



30-



Sarcoma mỡ nhầy/tế bào tròn



hợp

Hỗn



đều

Khơng



60%

25-



+



g

Hay gặp



Sarcoma đa hình



hợp





đều

Thường



50%

6-25%



+



Ít/Khơn



mềm



khơng



Hỗn



đều

Đều,



30-



hợp



mịn



60%



Sarcoma mỡ típ hỗn hợp



g

++



Hay gặp



+



- Chụp cộng hưởng từ (MRI): Vai trò của chụp cộng hưởng từ trong chẩn

đốn sarcoma mỡ tương tự như chụp cắt lớp vi tính, tuy nhiên nó được xem là

tối ưu hơn do trên hình ảnh cộng hưởng từ phản ánh rõ và chi tiết mơ mềm

hơn. Hình ảnh MRI của sarcoma mỡ Biệt hóa rõ thường có ít nhất 75% là tổ

chức mỡ trong u, trong khi với các típ khác tỉ lệ này thấp hơn [23]. Khối u mỡ

với hình ảnh vách ngăn trên MRI dày thường là ác tính và thường có tiên lượng

xấu. Trong khối sarcoma mỡ mất biệt hóa hình ảnh xuất huyết và hoại tử trung

tâm thường được quan sát thấy, trong khi trong Sarcoma mỡ nhầy thường có

nhiều múi, có hình ảnh nang hóa, tỷ lệ lên tới 20% các trường hợp[25].

1.3.3. Điều trị bệnh Sarcoma mỡ

1.3.3.1. Phẫu thuật

Tương tự các ung thư mô mềm khác, phẫu thuật là phương pháp điều trị

chủ yếu của Sarcoma mỡ. Mục đích chính của phẫu thuật trong sarcoma mỡ

là cắt bỏ hoàn toàn khối u, ngăn ngừa tái phát bằng cách cắt bỏ rộng, triệt để.

Trước đây, có thời kỳ cắt cụt chi có chứa khối sarcoma mỡ được xem là

phương pháp phẫu thuật được ưu tiên lựa chọn để điều trị, nhưng ngày nay



14



hầu hết đều sử dụng phương pháp phẫu thuật chi tối thiểu. Có được điều này

là nhờ hiểu biết sâu hơn về bản chất của u cũng như có những tiến bộ trong xạ

trị. Cũng vì thế mà tỷ lệ cắt cụt chi trong các trường hợp ung thư mô mềm

nguyên phát đã giảm đáng kể từ 50% xuống còn 5% [26].

1.3.3.2. Xạ trị

Với các sarcoma mỡ tại tứ chi, qua nghiên cứu các thử nghiệm lâm sàng

ngẫu nhiên, người ta thấy sau phẫu thuật chi tối thiểu kết hợp xạ trị bổ trợ tại

nơi tổn thương sự kiểm soát khối u được cải thiện rõ rệt [27],[28]. Với các

sarcoma mỡ tại chi có độ mơ học cao, có thể cân nhắc tới liều lượng, thể tích

của tia xạ cũng như xem xét nên xạ trị trước hay sau phẫu thuật.

Với u mỡ khơng điển hình (ALT), vai trò của xạ trị đang còn tranh cãi.

Cassier và cộng sự qua phân tích cơ sở dữ liệu của Châu Âu (Conticabase) đã

phát hiện ra rằng xạ trị bổ trợ trong các trường hợp sarcoma mỡ ở tứ chi, thân

mình có thể tái phát tại chỗ với tỷ lệ sống sau 5 năm là 98,3% so với 80,3%

khi không xạ trị[29]. Mặc dù kết quả cho thấy việc kiểm sốt tại chỗ có hiệu

quả bằng xạ trị bổ trợ, nhưng đối với các khối u chưa có di căn thì thời gian

sống thêm giữa 2 nhóm khơng có khác biệt.

Với Sarcoma mỡ nhầy, khối u rất nhạy với tia xạ, sự thay đổi kích thước u

được thấy rõ khi xạ trị bổ trợ trước phẫu thuật. Trong nghiên cứu Pitson và

cộng sự, khối u giảm trung bình khoảng 59% về kích thước sau xạ trị tiền

phẫu[30]. Trong các nghiên cứu của Chung và của Guadagnolo, có tới 97%

khối u đáp ứng tốt khi kết hợp xạ trị với phẫu thuật [31],[32]. Do khả năng

nhạy cảm với tia xạ nên với Sarcoma mỡ nhầy có thể xem xét xạ trị tiền phẫu,

đặc biệt là các trường hợp nếu phẫu thuật trước sẽ khó khăn hoặc mắc bệnh

khơng thể phẫu thuật.

Với các sarcoma mỡ sau phúc mạc, cùng với sự phát triển về khoa học kỹ

thuật trong lĩnh vực tia xạ vai trò của xạ trị bổ trợ đang ngày càng phát triển.



15



Người ta thấy thời gian sống thêm cũng như khả năng kiểm soát tại chỗ cũng

tốt hơn so với việc chỉ phẫu thuật đơn thuần [33].

1.3.3.3. Các phương pháp điều trị tồn thân

Với phương pháp hóa trị liệu, các dưới típ của sarcoma mỡ có sự đáp ứng

cũng như mức độ nhạy cảm khác nhau. Sự khác biệt này cũng có thể có liên

quan đến vị trí giải phẫu của khối u, trong trường hợp sarcoma mỡ tế bào tròn

dạng nhầy (MRCL) người ta thấy khối u ở chi đáp ứng tốt với hóa chất hơn so

với các vị trí khác. Trong các ung thư có di căn, việc sử dụng phác đồ hóa

chất kết hợp 2 hóa chất doxorubicin/ifosfamide hoặc gemcitabine/docetaxel

cho tỷ lệ đáp ứng từ 25-35%, thời gian sống thêm trung bình là 12-18 tháng

[34],[35]. Về mặt ứng dụng lâm sàng, MRCL dường như là dưới nhóm duy

nhất của sarcoma mỡ có khả năng hóa trị liệu với các triệu chứng được cải

thiện rõ ràng.

Liệu pháp nhắm trúng đích trong điều trị sarcom mỡ hứa hẹn cho kết quả

tốt, đặc biệt là sarcoma mỡ mất biệt hóa và sarcoma mỡ biệt hóa rõ (WDLS)

là các típ kém đáp ứng với hóa trị liệu nhưng có liên quan đến gen sinh u

CDK4 với 90% có khuếch đại. Palbociclib là một thuốc có tác dụng ức

chế CDK4 / CDK6 mạnh , trong các trường hợp mắc sarcoma mỡ biệt hóa rõ

(WDLS) và Sarcoma mỡ mất biệt hóa Palbociclib có hiệu quả đặc biệt trong

việc ngăn chặn sự tiến triển của bệnh [36],[37]. Ngoài ra, một hướng điều trị

tiềm năng khác của liệu pháp nhắm trúng đích đó là tác động tới MDM2, một

gen có sự khuếch đại đáng kể trong sarcoma mỡ. Qua nghiên cứu người ta

thấy RG7112 là một chất đối kháng với MDM2, tuy nhiên cũng cần phải đánh

giá thêm [38].

Những kết quả ban đầu của liệu pháp nhắm trúng đích trong điều trị

sarcoma mỡ rất hấp những cần làm sáng tỏ thêm về hiệu quả và độ an toàn

trong các thử nghiệm với số lượng bệnh nhân lớn hơn.

Hướng điều trị trong tương lai: Trong thời gian gần đây các nghiên cứu về



16



việc kích hoạt hoặc ức chế đáp ứng miễn dịch với tế bào khối u đã mở ra một

phương pháp mới trong điều trị ung thư đó là miễn dịch trị liệu. Trong trường

hợp khối u là sarcoma mỡ biệt hóa rõ (WDLS) và sarcoma mỡ mất biệt hóa,

Tseng và cộng sự đã chỉ ra có đáp ứng miễn dịch thích nghi, điều này có ý

nghĩa trong điều trị bằng phương pháp miễn dịch trị liệu. Tseng và cộng sự

cũng báo cáo rằng phần lớn tế bào T CD8+ xâm nhập vào khối u có biểu hiện

cao PD-1, điều này cho thấy rằng các chất ức chế, kiểm sốt miễn dịch miễn

dịch có thể có hiệu quả trong bệnh này [39]. Sử dụng kháng nguyên NY-ESO1 làm vắc-xin để kích thích đáp ứng miễn dịch cho hiệu quả trong sarcoma

mỡ tế bào tròn dạng nhầy (MRCL)[40]. Hiện nay, việc nghiên cứu hiệu quả

của miễn dịch trị liệu trong sarcoma mỡ Biệt hóa rõ và sarcoma mỡ mất biệt

hóa đang tiếp tục, thành cơng trong nghiên cứu này mở ra một biện pháp mới

có giá trị cao trong điều trị bệnh sarcoma mỡ nói chung.

1.3.4. Tiên lượng

Nhìn chung tiên lượng của sarcoma mỡ là khơng tốt, nó phụ thuộc vào: tình

trạng chung của bệnh nhân, loại, vị trí, mức độ phân chia và phát triển của u,

ngồi ra nó còn phụ thuộc vào u tiên phát hay thứ phát, u ở giai đoạn nào và

có thể phẫu thuật được hay khơng.

Típ sarcoma mỡ Biệt hóa rõ và hầu hết các dưới típ của Sarcoma mỡ nhầy

có tiên lượng tốt hơn các típ khác với thời gian sống thêm sau 5 năm có tỷ lệ

lần lượt là 100% và 88%, mặc dù những khối u này thường có ranh giới

khơng rõ và nguy cơ tái phát cao[41]. Tuy nhiên, việc tái phát của các khối u

loại này dẫn đến khả năng chuyển độ mô học cao hơn hoặc mất biệt hóa, từ

chỗ rất hiếm di căn trở nên có thể di căn. Trong nghiên cứu của Wu J và cộng

sự trên 1756 bệnh nhân mắc Sarcoma mỡ nhầy, thời gian sống thêm sau 5

năm có tỷ lệ là 86,4% giảm xuống còn 75,9% sau 10 năm[42]. Một trong các

dưới nhóm của sarcoma mỡ Biệt hóa rõ là Lipoma-like liposarcoma, rất hiếm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sarcoma, không có gì đặc biệt

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×