Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trên toàn thế giới, năm 2012 có 482,300 ca mới mắc và 406,800 ca tử vong. Tỉ lệ mắc ung thư thực quản khác nhau giữa các vùng, nơi có tỉ lệ mắc cao nhất là Nam Phi, Đông Phi và Đông Á, trải dài từ Bắc Iran qua các nước châu Á tới Bắc - Trung Trung Quốc (c

Trên toàn thế giới, năm 2012 có 482,300 ca mới mắc và 406,800 ca tử vong. Tỉ lệ mắc ung thư thực quản khác nhau giữa các vùng, nơi có tỉ lệ mắc cao nhất là Nam Phi, Đông Phi và Đông Á, trải dài từ Bắc Iran qua các nước châu Á tới Bắc - Trung Trung Quốc (c

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



là 1.33%, trong đó có 0,81% bệnh nhân ung thư đầu cổ có xu hướng phát triển

ung thư đồng thì, vị trí thường gặp là họng miệng. Cũng trong nghiên cứu

này, tỷ lệ gặp ung thư đồng thì ở thực quản là 60,7%, trong đó chủ yếu bệnh

nhân được chẩn đoán ở giai đoạn III, IV.

1.2.2. Các yếu tố nguy cơ

1.2.2.1. Thuốc lá, uống rượu

* Các chất độc trong thuốc lá và khói thuốc lá

Phần lớn các chất gây UT trong khói thuốc lá là sản phẩm phụ của quá trình

nhiệt phân, các chất này trong tẩu và xì gà có nồng độ cao hơn. Phân tích hóa

học cho thấy khói thuốc có hơn 4000 thành phần khác nhau, bao gồm cả một số

chất có hoạt tính dược lý, độc hại, gây đột biến hoặc gây UT. Thuốc lá khơng

khói cũng chứa các chất gây UT, thậm chí có một số chất ở mức rất cao như các

sản phẩm của thuốc lá khơng khói (q trình bảo dưỡng, lên men…) xảy ra trong

điều kiện các chất của thuốc lá, như N-nitrosamines (TSNAs) từ nicotine và

allkaloid từ thuốc lá khác như nornicotine, anatabine và anabasine. Trong thuốc

lá nhai và thuốc lá hít cũng có khả năng là bổ sung lượng TSNAs gây UT.

Đặc biệt, nếu BN tiếp tục hút thuốc trong quá trình điều trị UTĐC thì

tiên lượng bệnh sẽ nặng hơn (cả về độc tính, kiểm sốt cũng như ST) so với

người đã từng hút thuốc lá nhưng ngừng hút trong thời gian điều trị bệnh.

* Tiêu thụ rượu

Một nghiên cứu về ảnh hưởng của uống rượu với nguy cơ gây UT cho

thấy ethanol trong đồ uống có cồn là nguyên nhân gây UT ở người. Có mối

liên quan nhân quả giữa uống rượu và UT đường tiêu hóa và hô hấp trên.

Ethanol được hấp thu ở ruột non và sau đó chuyển hóa, chủ yếu ở gan.

Alcoldehydrogenase (ADH) là cytosolic, dimeric và oxy hóa ethanol thành

acetaldehyd. Khi tiêu thụ rượu cao, cytochrome P450 2E1 (CYP2E1, là một

enzym thuộc nhóm enzym cytochrom P450) sẽ oxy hóa ethanol thành

acetaldehyd. Sau đó, acetaldehyd được biến đổi thành acetat dưới tác dụng của



14



aldehyd dehydrogenase (ALDH). Trong gan có rất nhiều loại enzym ALDH

nhưng các enzym ALDH2 được mã hóa trên nhiễm sắc thể 12 có phương trình

Michaelis rất thấp vì vậy chỉ có một lượng rất ít acetaldehyd (khoảng 1µmol/L)

được biến đổi tạo acetat trong q trình chuyển hóa ethanol.

* Tiêu thụ rượu và hút thuốc lá

Từ lâu nay người ta đã công nhận có mối liên quan mạnh mẽ giữa uống

rượu và hút thuốc lá. Khoảng 80% BN phụ thuộc rượu được báo cáo liên quan

tới thuốc lá. Ngoài ra, phụ thuộc nicotine xuất hiện nặng hơn ở người hút

thuốc lá với tiền sử phụ thuộc rượu. Việc sử dụng đồng thời cả thuốc lá và

rượu làm gia tăng tỷ lệ hình thành một số khối u ác tính, đặc biệt là UTĐC. Ở

nam giới hút thuốc và uống rượu thì nguy cơ mắc UTĐC cao gấp khoảng 38

lần so với những người không hút thuốc lá và uống rượu.

Theo nghiên cứu của tác giả Talamini tại châu Âu cho thấy ở những

người vừa uống rượu và hút thuốc thì nguy cơ mắc UT thanh quản cao hơn

gấp nhiều lần so với những người khơng uống rượu và hút thuốc lá. Ngồi ra,

uống rượu và hút thuốc lá kéo dài còn tăng nguy cơ phơi nhiễm UT nguyên

phát thứ hai ở những BN đã mắc UT đường tiêu hóa, hơ hấp trên.

1.2.2.2. Các yếu tố khác

* Nước súc miệng

Nước súc miệng cũng có thể gây UT họng miệng vì chúng có nồng độ

cồn cao (khoảng 26%) và được sử dụng thường xuyên. Tác giả Elmore và

Horwitz đã đánh giá sử dụng nước súc miệng và UT họng miệng.

* Chế độ ăn uống

Lượng beta-carotene thấp có liên quan với tăng nguy cơ UT phổi, thanh

quản, dạ dày, buồng trứng, vú, cổ tử cung và UT khoang miệng. Một số

nghiên cứu đã chỉ ra rằng một lượng thấp của trái cây và rau quả (nguồn chính

của beta-carotene) cũng liên quan đến tăng nguy cơ UT và tỷ lệ tử vong.



15



Ngược lại, nếu mức tiêu thụ trái cây và/hoặc rau quả tăng lên làm giảm nguy

cơ UT miệng hoặc hầu họng.

Chế độ ăn thiếu vitamin C có thể làm tăng nguy cơ gây UT dạ dày, thực

quản, khoang miệng, thanh quản và cổ tử cung. Ở những người có chế độ ăn

giầu vitamin C và chất xơ làm giảm nguy cơ gây UT họng miệng một nửa so

với những người có chế độ ăn thiếu vitamin C và chất xơ. Trong một nghiên

cứu ở 2000 người được bổ sung vitamin E cho thấy tỷ lệ UT họng miệng

giảm hơn hẳn so với những người không được bổ sung vitamin E.

* Bức xạ vật lý

Ánh nắng mặt trời, thơng qua bức xạ hóa học, làm gia tăng UT môi. Ánh

nắng mặt trời gây UT thường gặp ở những người da trắng tiếp xúc với ánh

nắng mặt trời hơn so với ở những người có màu da tối. Từ nghiên cứu này đã

xuất hiện các chế phẩm để bảo vệ chống tác hại của bức xạ hóa học.

* Các yếu tố nha khoa

Có rất ít bằng chứng cho thấy việc vệ sinh răng miệng kém, cách lắp

răng giả không đúng, phục hồi lỗi nha khoa hoặc răng thẳng hoặc sắc nhọn

thúc đẩy UT khoang miệng.

1.3. Chẩn đoán ung thư đồng thì

1.3.1. Chẩn đốn lâm sàng

Tùy thuộc vào vị trí u ban đầu, sự xâm lấn của khối u, vị trí và tính chất

của hạch di căn trên từng BN mà có biểu hiện các dấu hiệu cơ năng và thực

thể khác nhau. Có bệnh nhân biểu hiện các triệu chứng vùng đầu cổ, có bệnh

nhân biểu hiện trước bằng các triệu chứng ung thư thực quản.

1.3.1.1. Các triệu chứng lâm sàng ung thư đầu cổ

BN có khối u khoang miệng có thể biểu hiện với loét miệng khơng nóng,

răng lung lay, răng giả trục trặc, chứng khó nuốt, giảm cân, chảy máu hoặc

đau tai. Có 66% BN có tổn thương lưỡi nguyên phát cùng với sự xuất hiện



16



hạch vùng cổ, trong khi tỷ lệ này là thấp hơn đáng kể ở BN UT vòm miệng

cứng và mơi.

UT lưỡi phát triển với một tổn thương lồi ra ngoài và xâm lấn ra xung

quanh. Các triệu chứng thường gặp là đau, có hoặc khơng có rối loạn chức

năng nói. Có thể có tiền sử bạch sản kéo dài.

Các khối u của thành sau họng thường khơng có triệu chứng trong một

thời gian dài nên thường được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Với

các biểu hiện như đau, chảy máu hoặc có khối u vùng cổ.

Các triệu chứng liên quan với UT thanh quản phụ thuộc vào vị trí. Khàn

tiếng kéo dài có thể là biểu hiện ban đầu của UT thuộc dây thanh. Tiếp theo là

các triệu chứng như khó nuốt, đau tai, ho mãn tính, ho ra máu và tiếng thở rít.

UT thượng thanh mơn thường được phát hiện muộn khi có biểu hiện tắc

nghẽn đường thở hay di căn các hạch bạch huyết. Các khối u hạ thanh môn

thường hiếm gặp, BN biểu hiện tiếng thở rít hoặc khó thở khi gắng sức.

Khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng thường là khối u đã xâm lấn rộng

và đôi khi đã là giai đoạn muộn. Các hình thái có thể gặp: nụ sùi hoặc loét

hoặc vừa sùi vừa loét nham nhở, sờ vào gây đau và vướng, u khơng có ranh

giới rõ ràng, cứng, dễ chảy máu.

1.3.1.2. Các triệu chứng lâm sàng ung thư thực quản

Giai đoạn đầu của UTTQ hầu như khơng có triệu chứng (khơng có biểu

hiện lâm sàng). Nuốt nghẹn là triệu chứng phát hiện bệnh gặp ở hầu hết các

trường hợp UTTQ, nhưng đó lại là một dấu hiệu muộn, minh chứng cho một

khối u đã ở giai đoạn tiến triển gây chèn ép lưu thông thực quản.

Triệu chứng nuốt nghẹn trong UTTQ cũng có những đặc điểm riêng và

có những hình thái biểu hiện khác nhau tuỳ vào sự tiến triển của bệnh. Mới

đầu chỉ là cảm giác khó chịu khi ăn uống, cảm giác đau tức sau xương ức.

Tiếp theo là triệu chứng khó nuốt hoặc nuốt vướng, xuất hiện trong khi ăn



17



nhưng thường cũng bị người bệnh bỏ qua, ít để ý tới. Chỉ khi triệu chứng nuốt

nghẹn thực sự và tăng dần thì người bệnh mới đi khám. Nuốt nghẹn trở nên

thường xuyên, tăng dần cùng với sự lớn lên của khối u trong lòng thực quản,

lúc đầu là nghẹn với thức ăn đặc, sau là với chất lỏng và nặng hơn nữa thì chỉ

nuốt khơng cũng tạo nên cảm giác khó khăn, khi đó mức độ hẹp của thực

quản có thể đã là 2/3 chu vi thực quản hoặc hơn.

Tổ chức Y tế Thế giới chia nuốt nghẹn làm 5 độ:

- Độ 0: không nghẹn

- Độ I: Nghẹn thức ăn rắn

- Độ II: nghẹn thức ăn nửa rắn

- Độ III: Nghẹn lỏng

- Độ IV: Nghẹn hoàn toàn

Nuốt đau gặp ở một nửa số người bệnh, thường đau sau xương ức. Nếu

khổi u ở thực quản thấp thì có thể gặp đau bụng. Đau có thể lan ra sau lưng

giữa hai vai, lên cằm, ra sau tai hay ra vùng trước tim. Khi đau lan ra sau lưng

thì cần nghi ngờ xâm lấn cột sống.

Nuốt sặc: một số người bệnh UTTQ cổ (ngay sát dưới ngã ba hầu họng).

Sặc là triệu chứng thường gặp và khá sớm.

Các triệu chứng khác có thể gặp khi UTTQ đã ở giai đoạn tiến triển, xâm lấn:

- Chảy máu thực quản biểu hiện nơn máu, đi ngồi phân đen

- Viêm phổi có thể là triệu chứng, song cũng có khi là biến chứng

- Ho dai dẳng do rò thực - phế quản

- Nói khó do xâm lấn dây thần kinh quặt ngược thanh quản hoặc di căn

hạch trung thất chèn ép

- Hội chứng Horner

- Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên

- Các dấu hiệu di căn: tràn dịch màng phổi ác tính, gan to, hạch cổ, đau



18



xương, đái máu.

Triệu chứng tồn thân có thể gặp: gầy sút trên 90% người bệnh, xuất

hiện khá sớm vì các triệu chứng làm người bệnh sợ ăn, không ăn được, đồng

thời với quá trình tăng chuyển hóa của ung thư. Thường những tháng đầu có

thể mất từ 3 - 5kg/tháng.

Khám thực thể có thể phát hiện thấy hình ảnh ung thư thứ hai phối hợp,

hay gặp nhất là ung thư khoang miệng, hầu, thanh quản và phổi. Tỷ lệ ung thư

phối hợp với ung thư thực quản 5- 12%, theo số liệu của viện GoustaveRousy (Pháp) và trung tâm Sloan- Kettering (Mỹ) là 25%. Các ung thư hay

gặp nhất là ung thư khoang miệng, hầu, thanh quản, và phổi. Do đó trong

bilan chẩn đốn cần khám tai mũi họng, nội soi thanh khí phế quản để tránh

bỏ sót.

Các triệu chứng lâm sàng khơng quá rầm rộ và không đặc hiệu riêng cho

UTTQ, thường phát hiện muộn ở giai đoạn bệnh đã tiến triển nặng. Một người

> 50 tuổi, nếu thấy xuất hiện các triệu chứng nuốt vướng, khó chịu khi nuốt…

phải nghĩ đến khả năng có thể bị UTTQ, cần cho kiểm tra thực quản bằng các

biện pháp chẩn đoán hữu hiệu (Xquang, nội soi…).

1.3.2. Chẩn đoán cận lâm sàng

1.3.2.1. Các phương pháp thăm dò chức năng

Nội soi Tai mũi họng

Nội soi tai mũi họng giúp phát hiện các tổn thương vùng khoang

miệng, họng miệng, hạ họng thanh quản. Ngồi ra còn phối hợp sinh thiết tổn

thương giúp chẩn đoán xác định.

Nội soi thực quản ống mềm

Trên nội soi, do bệnh nhân thường đến khám ở giai đoạn muộn nên UTTQ

hay gặp ở các thể u loét sùi và thâm nhiễm cứng, ổ lt thường có bờ nham nhở



19



khơng đều. Thành TQ cứng, niêm mạc xung quanh không đều, co kéo về trung

tâm khối u. Lòng TQ bị chít hẹp do u thâm nhiễm. Các tổn thương loét hoại tử,

cứng chắc hoặc sùi đơn thuần thường ít gặp mà hầu hết là thể phối hợp.



a



b



Hình 1.5: Nội soi thực quản: (a) u sùi chít hẹp thực quản ( b) u sùi – loét

Phương pháp NS có thể thay thế một phần cho vị trí của điện quang. Hạn

chế của NS là chỉ quan sát được niêm mạc, không quan sát được các lớp khác

của thành TQ nên khó đánh giá xâm lấn của u, không đánh giá trực tiếp được

hạch trừ khi hạch lớn chèn ép TQ, khơng thăm dò được đoạn thấp khi u lấp

kín lòng TQ.

Đối với các trường hợp khó có thể nội soi, nhuộm màu rồi sinh thiết. Các

loại thuốc nhuộm màu như xanh Methylene, xanh Tohudine 1%, Indigocarmine

hay Lugon 2%.

Nội soi khí phế quản

Soi khí phế quản nhằm phát hiện xâm lấn khí phế quản của UTTQ 1/3 trên

và 1/3 giữa. Khi có u sùi vào lòng khí phế quản hoặc rò khí phế quản là chắc

chắn có xâm nhiễm, cần sinh thiết tổn thương để xác định. Ngồi ra, soi khí phế

quản, hầu họng cần phải làm hệ thống để phát hiện các ung thư hầu họng, khí

phế quản phối hợp. Khi có ung thư hầu họng phối hợp thì sẽ làm thay đổi chiến

thuật điều trị và có thể đặt vấn đề điều trị triệt căn cả 2 ung thư cùng lúc.

Siêu âm nội soi (SANS) thực quản



20



Hình 1.6. SANS, UTTQ xâm lấn thành và xâm lấn qua thành thực quản

SANS với đầu dò tần số cao cho phép ta thăm dò tốt theo từng lớp của

thành TQ và đánh giá xâm lấn trực tiếp của u cũng như khu vực, có thể phát

hiện các u nhỏ tới 0,2 mm. Hình ảnh siêu âm của UTTQ thường là khối giảm

âm ở thành TQ, tuỳ mức độ xâm lấn phá vỡ cấu trúc bình thường của thành TQ

mà được xếp thành 4 giai đoạn tương ứng 4 giai đoạn T như mô bệnh học.

Hạch được nghĩ đến là hạch di căn khi có các tiêu chuẩn khối tròn, giảm âm,

ranh giới rõ, có thể có số lượng nhiều, đường kính ³10 mm (tuy khơng đặc

hiệu). Với xâm lấn thành TQ, SANS đạt độ chính xác 80 tới 90%, chẩn đốn

chính xác di căn hạch tới 80-90%. Tuy vậy do bệnh nhân thường đến muộn nên

SANS phát hiện UTTQ ở giai đoạn sớm vẫn còn thấp. Rất khó, đơi khi khơng

thăm dò được dưới vị trí chít hẹp khi u lấp kín lòng TQ, hoặc xơ hố sau xạ trị.

1.3.2.2. Các phương pháp chẩn đốn hình ảnh

Chụp cắt lớp vi tính (CT scan)

Đối với UT khoang miệng, CT scan có tiêm thuốc cản quang có thể giúp

xác định mức độ xâm lấn của khối u vào hệ thống cơ lưỡi sâu và có hoặc

khơng có liên quan tới xương hàm dưới. Đối với các UTĐC khác, CT scan

đặc biệt hữu ích trong đánh giá giai đoạn UT đã xâm lấn tại chỗ hoặc lan tràn

vào các cấu trúc bên cạnh, khi khám lâm sàng rất khó khăn để phát hiện. CT

scan có thể cung cấp thơng tin về xâm lấn khoang trước thanh quản, sụn thanh

quản, sự mở rộng khoang cận thanh quản và hạ thanh môn và có thể đánh giá



21



các hạch trước cổ và hạch trước khí quản. Ngồi ra, xâm lấn xương và sụn,

một tiêu chuẩn cho bệnh giai đoạn T4 có thể được phát hiện dễ dàng hơn. So

sánh với khám lâm sàng đơn thuần, việc sử dụng CT scan có thể phát hiện di

căn hạch cổ tốt hơn, CT scan có tính ưu việt hơn về độ nhạy (83% so với

74%), độ đặc hiệu (83% so với 81%), độ chính xác (83% so với 77%) và giá

trị phát hiện các bệnh lý hạch bạch huyết vùng cổ (91% so với 75%).

UTTQ chủ yếu là ung thư biểu mơ, tiến triển nhanh có xu hướng gây hẹp

lòng thực quản, xâm lấn thành và lan rộng quanh TQ, xâm lấn các cơ quan lân

cận và thường di căn hạch từ rất sớm. Chụp CLVT cho phép đánh giá tình

trạng xâm lấn của u vào thành thực quản vào tổ chức quanh u (khí phế quản).



Hình 1.7. CLVT khối UTTQ xâm lấn lòng khí quản, khối UTTQ sau nhĩ trái

Chụp CLVT khơng nhằm chẩn đốn xác định UTTQ mà là một thăm dò

nhằm đánh giá tổng quan xâm lấn lan rộng của UTTQ trước mổ, góp phần

quyết định chọn lựa phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh. Với các trường

hợp có chỉ định phẫu thuật cắt TQ, CLVT góp phần chọn phương pháp phẫu

thuật, tuỳ thuộc khu trú và liên quan của u với các thành phần và cơ quan lân

cận. Chụp CLVT có thể thực hiện dễ dàng trong những trường hợp thăm dò

đoạn dưới chít hẹp TQ mà nội soi và SANS khó có thể thực hiện được. CLVT

còn cho phép ta phát hiện những di căn xa, theo dõi phát hiện các tái phát, di

căn sau phẫu thuật.

Chụp cộng hưởng từ (MRI)



22



Trong nhiều trường hợp, CT scan và MRI cung cấp thông tin bổ sung lẫn

nhau. So với CT scan, MRI cung cấp các tổn thương mô mềm tốt hơn rõ rệt.

MRI cũng tốt hơn so với CT để phân biệt khối u dưới niêm và trong việc phát

hiện xâm lấn xương. Mặt khác, CT scan tốt hơn so với MRI để phát hiện xâm

lấn vỏ xương vì MRI khơng cho biết các tổn thương xương chi tiết. Trong

phần lớn, CT scan tốt hơn so với MRI để phát hiện di căn hạch vùng. Độ nhạy

được báo cáo của MRI là thấp, khoảng 57-67%. Tuy nhiên, năm 2009,

Vandecaveye và cộng sự nghiên cứu giá trị của MRI khuếch tán (diffusionweighted) so sánh với MRI thông thường để xếp giai đoạn hạch vùng. Kết

quả: MRI diffusion có độ nhạy 84%, độ đặc hiệu 94% và độ chính xác 91%

khác biệt so với tình trạng bệnh lý của hạch và lần lượt là 94%, 97% và 97%

đối với khác biệt giai đoạn hạch. So với MRI thơng thường, MRI diffusion có

độ nhạy cao hơn hẳn (76% so với 7%) nhưng thấp hơn chút ít về độ đặc hiệu

(94,0% so với 99,5%) để phát hiện di căn hạch < 10 mm.

Ưu điểm hơn chụp cắt lớp vi tính ở chỗ phân biệt được tổn thương ở lớp

thành thực quản và thăm dò với 3 bình diện, tổn thương thành thực quản thấy

rất rõ trên xung T2W, cho phép phân biệt rất tốt về cầu trúc, liên quan giải

phẫu của thực quản và các cơ quan lân cận qua đó xác định xâm lấn của

UTTQ cũng như di căn hạch khu vực.

PET CT

UTĐC là một nhóm bệnh được Medicare chấp thuận cho sử dụng PET

scan để chẩn đoán, ngay cả phân loại giai đoạn ban đầu và sau khi kết thúc

điều trị. PET scan ít nhất cũng đạt được độ nhạy và độ đặc hiệu như CT và

MRI trong việc phát hiện các khối u nguyên phát vùng đầu cổ. Điều quan

trọng hơn là PET scan có giá trị ưu việt hơn hẳn so với CT scan và MRI để

phát hiện di căn hạch vùng, cũng như các khối u di căn xa và u nguyên phát

thứ hai. Tác giả Kyzas (2008) phân tích tổng hợp về giá trị FDG-PET để đánh



23



giá di căn hạch ở BN UTĐC và so sánh hiệu quả của PET 18F-FDG với các

phương pháp chẩn đốn thơng thường (CT, MRI và FNA dưới hướng dẫn siêu

âm) bằng cách sử dụng các phương pháp chẩn đoán trên cùng một BN. Qua

32 nghiên cứu với 1236 BN, độ nhạy và độ đặc hiệu của 18F-FDG PET là

79% và 86%. Song đối với BN cN0, độ nhạy chỉ còn 50%, trong khi độ đặc

hiệu là 87%. Trong các nghiên cứu trong đó cả 18F-FDG PET và chẩn đốn

thơng thường khác, độ nhạy và độ đặc hiệu của 18F-FDG PET là 80% và

86%, tương ứng, so với 75% và 79%. Như vậy, 18F-FDG PET có hiệu quả tốt

trong việc đánh giá tổng thể BN UTĐC nhưng vẫn không phát hiện bệnh ở

một nửa số BN bị di căn và cN0.

Khi được sử dụng để xếp giai đoạn ban đầu của UTĐC, hình ảnh

PET/CT tích hợp vượt trội so với CT, MRI và PET đơn thuần. Ví dụ:

• Trong 30 BN UTĐC mới được chẩn đốn, PET/CT (98%) tốt hơn so

với CT (70%) và MRI (80%) trong việc xác định khối u xâm lấn của các cấu

trúc giải phẫu cụ thể. Những phát hiện về hình ảnh PET/CT làm thay đổi phác

đồ điều trị trong 7/30 BN (23%). Kết quả tương tự đã được báo cáo bởi những

nghiên cứu khác.

• Trong một nghiên cứu khác trên 68 BN (52 với UTĐC, 8 với SCC

không rõ nguyên phát và 8 với UT tuyến giáp tái phát hoặc di căn), 6 trường

hợp khối u ác tính đã bỏ sót bởi PET, nhưng chỉ trường hợp với PET-CT.

Trong số 157 điểm hấp thu FDG bất thường, tỷ lệ tổn thương nghi ngờ giảm

53% với sự tích hợp của PET và CT. Từ kết quả của PET CT thay đổi kế

hoạch điều trị 12 BN (18%).

1.3.2.3. Một số phương pháp cận lâm sàng khác

Chọc hút kim nhỏ (FNA)

FNA là kỹ thuật thường được sử dụng nhất để thực hiện chẩn đoán ban

đầu của UTĐC khi BN biểu hiện với một khối vùng cổ (di căn hạch bạch

huyết) mà khơng có tổn thương u rõ ràng ở niêm mạc. Tác giả Tandon trong



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trên toàn thế giới, năm 2012 có 482,300 ca mới mắc và 406,800 ca tử vong. Tỉ lệ mắc ung thư thực quản khác nhau giữa các vùng, nơi có tỉ lệ mắc cao nhất là Nam Phi, Đông Phi và Đông Á, trải dài từ Bắc Iran qua các nước châu Á tới Bắc - Trung Trung Quốc (c

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×