Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Áp dụng phân loại u buồng trứng IOTA để chẩn đoán phân biệt UBT ác tính và UBT lành tính.

Áp dụng phân loại u buồng trứng IOTA để chẩn đoán phân biệt UBT ác tính và UBT lành tính.

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



1.1.1. Phơi thai học buồng trứng

Sự phát triển bình thường của buồng trứng trải qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn tuyến sinh dục chưa biệt hóa: từ tuần lễ thứ 1 đến 7 của

q trình phát triển phơi.

- Giai đoạn biệt hóa: bắt đầu vào tuần lễ thứ 8 của đời sống bào thai.

- Giai đoạn nhân lên và trưởng thành ngun bào nỗn.

-



Giai đoạn hình thành nang.



Sự phát triển của hệ niệu sinh dục được hình thành rất sớm, vào khoảng

tuần thứ 5 của thời kỳ thai nghén. Vết tích sinh dục đầu tiên được tìm thấy ở

túi nỗn hoàng nằm ở bề mặt phần bụng của tổ chức phôi thai, thuộc phân

đoạn đốt sống từ ngực 8 đến thắt lưng 4, có hình dáng giống như 1 nụ chồi,

được bao phủ bởi 1 lớp biểu mô của khoang cơ thể, gọi là lớp biểu mô mầm.

Giai đoạn này chưa có sự biệt hóa tuyến sinh dục, nghĩa là về mặt hình thái,

tuyến sinh dục chưa phân biệt được tinh hoàn hay buồng trứng.

Vào tuần thứ 4 đến tuần thứ 6 thời kỳ thai nghén thì hình thành ruột hồn

chỉnh với mạc treo. Các tế bào từ vết tích sinh dục đầu tiên này di chuyển đến

mạc treo ruột cuối và sau đến phần trung mô ở thành sau của cơ thể nằm ở

khoang đốt sống ngực 10. Tại đây, bắt đầu có sự biệt hóa giới tính sinh dục.

Các tế bào mầm giai đoạn này tăng sinh rất mạnh, các tế bào thuộc vùng trung

thận kế cận và biểu mơ khoang cơ thể hình thành ụ sinh dục. Sự phát triển của

cơ quan sinh dục phụ thuộc một cách tuyệt đối vào sự tăng sinh này. Các tế

bào sau khi tăng sinh sẽ bao quanh và nuôi dưỡng các tế bào mầm, nếu khơng

có các tế bào này, tế bào mầm sẽ bị thối hóa. Như vậy, khi tế bào biệt hóa có

rất nhiều nang trứng nguyên thủy phát triển, vỏ của BT gồm nhiều nang trứng

nguyên thủy nằm trong một mô đệm liên kết rất đặc. Xung quanh các nang

trứng nguyên thủy là một lớp biểu mô vng khối thấp, đó là màng hạt. Khi

nang trứng thuần thục to ra dưới ảnh hưởng của hormon kích thích nang của

tuyến yên, các tế bào hạt trở lên vuông khối hơn và phát triển thành nhiều lớp.



4



Một hố trung tâm xuất hiện trứng nằm ở một cực và được bao bọc bởi một

vành tế bào hạt, xung quanh nang nỗn là một lớp biểu mơ liên kết chun

biệt gọi là lớp vỏ trong, tiếp theo là lớp vỏ ngoài.

1.1.2. Giải phẫu buồng trứng

Buồng trứng là một tạng nằm trong ổ phúc mạc, hai buồng trứng nằm sát

hai thành bên của chậu hông bé, sau dây chằng rộng. Buồng trứng có hình

hạnh nhân hơi dẹt, màu hồng nhạt. Hình dáng kích thước của buồng trứng

thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể.

Về lâm sàng, điểm buồng trứng là điểm giữa của đường nối gai chậu

trước trên tới khớp vệ.

Mặt ngoài liên quan với động mạch chậu ngoài, động mạch chậu trong

và động mạch tử cung. Mặt trong liên quan với manh tràng, ruột thừa, ruột

non ở bên phải và đại tràng sigma ở bên trái.



Hình 1.1. Tử cung và các phần phụ

(Trích trong Atlas - Giải phẫu người của Frank H. Netter)

Buồng trứng được định vị bởi 4 dây chằng. Các dây chằng này treo giữ

buồng trứng một cách tương đối:

+ Dây chằng tử cung - buồng trứng.

+ Dây chằng thắt lưng - buồng trứng.

+ Mạc treo buồng trứng.



5



+ Dây chằng vòi trứng - buồng trứng.

Mạch máu và thần kinh buồng trứng:

* Động mạch: Buồng trứng được cấp máu từ hai nguồn

- Động mạch buồng trứng: tách ra từ động mạch chủ bụng ở ngang mức

các động mạch thận. Sau khi bắt chéo động mạch chậu ngoài, động mạch

buồng trứng chia làm 3 nhánh ở đầu trên của buồng trứng gồm: nhánh vòi

ngồi, nhánh buồng trứng ngồi và nhánh nối.

- Động mạch tử cung: tách ra các nhánh tận tiếp nối với các nhánh của

động mạch buồng trứng tạo thành cung mạch máu nuôi dưỡng buồng trứng.

* Tĩnh mạch: Tĩnh mạch buồng trứng phải đổ về tĩnh mạch chủ dưới,

tĩnh mạch buồng trứng trái đổ về tĩnh mạch thận trái.

* Hệ thống bạch huyết: Dẫn lưu vào các thân bạch mạch lớn hơn để tạo

thành đám rối ở rốn buồng trứng, chúng đi qua mạc treo buồng trứng để dẫn

lưu tới các hạch quanh động mạch, các nhánh khác dẫn lưu vào các hạch chậu

trong, chậu ngoài, giữa động mạch chủ, động mạch chậu chung và hạch bẹn.

* Thần kinh: Tách ra từ đám rối liên mạc treo và đám rối thận.

1.1.3. Sinh lý buồng trứng.

Buồng trứng là tuyến sinh dục của nữ, nó có hai chức năng quan trọng:

chức năng ngoại tiết sinh ra noãn, chức năng nội tiết là tiết ra các hormon, dưới

sự tác động trực tiếp của các hormon hướng sinh dục do tuyến yên bài tiết.

Hoạt động chức năng sinh dục – sinh sản nữ chịu sự điều khiển của trục

nội tiết: vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng. Rối loạn hoạt động của trục

nội tiết này không chỉ gây ảnh hưởng đến hoạt động chức năng mà ảnh hưởng

đến các sự phát triển về hình thái – cấu tạo của các cơ quan sinh dục nữ.

Chính vì buồng trứng ln có những thay đổi rõ rệt về mặt hình thái cũng

như chức năng trong suốt cuộc đời người phụ nữ nên những thay đổi đó có thể

dẫn đến những rối loạn không hồi phục, phát triển thành bệnh lý, đặc biệt là sự



6



hình thành các khối u.

1.2. Đặc điểm đại thể của một số khối UBT

1.2.1. Khối u cơ năng – bệnh lý lành tính

Bệnh lý lành tính của buồng trứng thường gặp ở những phụ nữ độ tuổi

hoạt động sinh dục, bao gồm những nang cơ năng hoặc những khối u tân sinh

lành tính. Xử trí các bệnh lý này phụ thuộc vào tình trạng khối u khi chẩn

đốn. Đa số trường hợp bệnh nhân khơng có triệu chứng lâm sàng, khối u chủ

được phát hiện tình cờ và thường thoái triển tự nhiên sau một thời gian. Tuy

nhiên bệnh nhân vẫn cần được theo dõi và đánh giá lại sau 6 tuần. Trường hợp

khối u vẫn tồn tại sau thời gian này cần được xem xét lại.

1.2.1.1. Buồng trứng đa nang (loạn dưỡng buồng trứng)

Đây là hội chứng được Stein – Leventhel mô tả lần đầu vào năm 1935 nên

còn được gọi là hội chứng Stein – Leventhel. Hội chứng này bao gồm nhiều

triệu chứng như vô kinh, tăng thể trọng, rậm lơng và buồng trứng có nhiều

nang nhỏ, đi kèm với hiện tượng mất cân bằng về hình thái học và chức năng

của buồng trứng thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau.

Những triệu chứng lâm sàng thường có những đợt bùng phát hoặc thối

triển. Những dấu hiệu rối loạn thường xuất hiện ở những phụ nữ trẻ và có thể

kéo dài suốt nhiều giai đoạn hoạt động sinh dục.

Về mặt giải phẫu bệnh, người ta tìm thấy ở bệnh lý này những đặc điểm sau:

-



Buồng trứng tăng kích thước : gặp trong 50% trường hợp.



-



Tăng sản mô đệm.



-



Nhiều nang nhỏ nằm dưới lớp vỏ buồng trứng.



-



Vỏ bao trứng dày.



1.2.1.2. U nang cơ năng

Là những nang sinh lý phát triển trong mỗi chu kì kinh nhưng do điều

kiện ngẫu nhiên nào đó mà chúng vẫn tồn tại và ngày càng phát triển to lên

trong những chu kì kinh tiếp theo. U nang cơ năng là một nang chứa dịch

trong, có bờ mỏng, thành nhẵn, kích thước dao động từ 30 – 60mm và tồn tại



7



không quá 3 chu kì kinh

1.2.1.3. U thanh dịch

Chiếm từ 20-50% tổng số khối u, trong đó lành tính 70%, giáp biên 510% và ác tính 20-25%. U thanh dịch giáp biên và u xâm lấn chiếm 35-40%

tổng số UTBT

- U thanh dịch lành tính: u có kích thước từ nhỏ đến lớn, trên 50% có

đường kính > 150 mm, có nhiều thùy, nhiều múi; vỏ u mỏng, mềm, trong, nhẵn

bóng; dịch u trong suốt hoặc có màu vàng nhạt hoặc màu nâu

- Ung thư biểu mô tuyến thanh dịch: 30% trường hợp bị cả hai bên. Khối

u thường nửa đặc nửa nang, có nhiều nhú sùi khơng nhẵn, bóng, trong, màu

trắng đục, sần sùi. Trên diện cắt thấy mô u mềm, mủn, xen lẫn những ổ hoại

tử chảy máu

1.2.1.4. U nang nhầy

Chiếm từ 15-25% tổng số UBT, trong đó lành tính chiếm 85%, giáp biên

6% và ung thư xâm lấn chiếm 9%. Ung thư biểu mô nhầy chiếm 6-10% tổng số

ung thư biểu mô BT.

U nhầy là loại lớn nhất trong tất cả các khối UBT, có nhiều ngăn, thành

mỏng, mặt ngoài u trơn, dịch trong u nhầy đặc và quánh. U hai bên gặp khoảng

5% u lành, 10-20% u giáp biên và u xâm lấn.

- U biểu mô nhầy lành tính: u có kích thước từ 15-30 cm, có nhiều thùy

chứa dịch nhầy.

- Ung thư biểu mô chế nhầy: u có kích thước to, mặt ngồi gồ ghề, trên

mặt cắt có nhiều hình thái phức tạp.

1.2.1.5. U tế bào mầm

Chiếm 20% u nguyên phát của BT, 90-95% là u quái dạng nang lành

tính, điển hình là u nang bì. U nang bì có thể gặp ở một hoặc hai bên BT,

đường kính từ vài cm đến hàng chục cm. U phát triển trong hố phúc mạc

hoặc trong dây chằng rộng, vỏ u màu trắng hoặc xanh, mặt ngoài nhẵn trong,



8



nhiều múi, chỗ chắc, chỗ bùng nhùng. Khi bổ u thấy có nhiều ngăn chứa bã

đậu lổn nhổn, mặt trong u có chỗ nhẵn, chỗ sần sùi, trên mặt có ít lơng tóc.

Trong u nang bì thường thấy có khối mơ lồi vào lòng nang gọi là polyp, trong

giống như một mảnh da. Bổ polyp ra thấy có xương, răng, một hoặc nhiều

ngón tay hoặc một phần hàm răng...

1.2.1.6. U dạng nội mạc tử cung

U dạng nội mạc tử cung chiếm 5% tổng số UBT, các u lành dạng nội mạc

tử cung (u xơ tuyến) ít gặp, ung thư dạng nội mạc tử cung chiếm 15 - 25 %

tổng số UBT, các u ác tính giúp biên hiếm gặp và tiêu chuẩn cho chẩn đoán

chưa được áp dụng rộng rãi. Ung thư biểu mơ dạng nội mạc tử cung khó có thể

phân biệt với các UTBT khác. Ở hai bên BT chiếm 30 % số trường hợp, lạc nội

mạc tử cũng có thể xác định thấy trong 10 - 20 % số trường hợp, hoặc là tại BT

hoặc là tại tiểu khung. U có hình thái đa dạng, từ thể đặc, mềm, mùn nát hoặc

xơ cứng cho tới dạng nang mỏng, vách mịn, hoặc những nhu mếm, hoặc dấm

tổ chức sùi dạng nấm, khơng có hạt canxi, có thể có chất nhầy trong u. Nang

chứa dịch màu nâu sẫm hoặc dịch nhầy. Ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung

thường là u đặc, ít khi là u nang

1.2.1.7. Khối lạc nội mạc tử cung trên BT

Lạc nội mạc tử cung là sự có mặt lạc chỗ của nội mạc tử cung, bao gồm cả

tuyển và lớp tử cung đệm bào. Nội mạc tử cung có đặc tính gắn liền với lớp cơ

khơng rõ ranh giới, có thể rời khỏi tử cung và sinh sản tại nơi mới, đó là lạc nội

mạc tử cung ra ngoài. Cấu trúc lạc nội mạc tử cung phát triển thành khối và có

tính giả u, ở trên BT, khối lạc nội mạc tử cũng giống như khối u xơ lổi lên,

khơng đều và có thể có ổ chảy máu, đa dạng về màu sắc và kích thước, chúng

được bao bọc bởi lớp vỏ dày, dính, bên trong chứa đầy dịch nâu, trong tuổi sinh

đẻ khối phát triển tăng dần sau mỗi chu kỳ kinh, nhưng đến khi mãn kinh sẽ

thoái triển do các thành phản nội mạc tử cung teo đi. Khi ở nông, khối lạc nội



9



mạc nối gó lên và có thể vỡ ra, dễ nhầm với u hoàng tuyển. Khi ở trong sâu,

chúng có thể xâm nhập vào các mơ và khuếch tán như một tổ chức ác tính, thực

tế rất hiếm gặp thối hố ác tính của lạc nội mạc tử cung

1.3. Các phương pháp chẩn đoán ubt

1.3.1. Khám lâm sàng

Phần lớn các khối UBT khi còn nhỏ khơng gây ra triệu chứng gì đặc biệt,

bệnh nhân vẫn có kinh và vẫn có thể sinh đẻ bình thường. Bệnh được tình cờ

phát hiện ra khi người phụ nữ đi khám phụ khoa, đi chữa vơ sinh, hoặc khi có

cảm giác nặng vùng bụng dưới, đau ở hố chậu, đái rắt, băng huyết. Theo

Nguyễn Thị Ngọc Phương, triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng, chiếm

43,7% UBT lành, 44,2% UTBT; tiếp là triệu chứng bụng to nhanh, chiếm

29,4 % trong UTBT. Theo Fleischer, các triệu chứng trên là hai trong số các

triệu chứng thường gặp nhất (u lành tính 17,9% đau bụng, 7% bụng to ra, u ác

tính có 29,4% bụng to ra, 9,8 % dau bụng).

Khám lâm sàng, khi khối u nhỏ thấy khối u biệt lập với tử cung, mật độ

căng hoặc chắc; di động dễ, hạn chế hoặc dính; có đau hoặc không đau. Khi

khối u to, chúng nằm ngay vùng hạ vị hoặc thượng vị, mặt nhắn hoặc lổn

nhổn, bờ khơng rõ ràng, u dính hoặc di động. Triệu chứng đau chiếm 2 %, đau

do chèn ép xảy ra khi khối u đã phát triển và lan tràn trong ổ bụng, triệu

chứng này thường xuất hiện muộn khi bệnh nhân đã bị suy kiệ . Đau do xoắn

xảy ra khi khối u có cuống với đặc điểm là đau bụng vùng hạ vị, nơn hoặc

buồn nơn, chống, khám thấy khối u nằm bên cạnh tử cung căng , đau và

không di động. Theo nghiên cứu của Trịnh Hùng Dũng trên 394 bệnh nhân có

UBT, tỷ lệ UBT xoắn là 58/394 (14,7%) , theo các tác giả khác tỷ lệ này là

dao động từ 3,5-16%.

Triệu chứng rối loạn kinh nguyệt gặp trong UBT chủ yếu là tình trang

cường kinh, rong kinh hoặc quá sản niêm mạc tử cung. UBT dạng nang không



10



gây rối loạn kinh nguyệt, ngược lại u dây sinh dục - mô đệm đứng đầu trong

các khối u thực thể gây rối loạn kinh nguyệt. Về tỷ lệ sống, vì khối UBT

thường nằm trong sâu, thường chỉ khi u to, gây chèn ép hoặc gây rối loạn

chức năng thì mới phát hiện được, khi đó 80% đã ở giai đoạn muộn, do đó

nếu là UTBT tỷ lệ sống rất thấp. Ở phụ nữ mãn kinh, nếu kích thước u<50

mm, tỷ lệ ác tính là 5%; ở khoảng 50-100 mm là 12% và >100 mm là 60%.

Nếu ở cả hai BT đểu có u, khả năng ác tính gấp 2 lần khi khối u chỉ ở một bên

BT. Theo Đinh Thế Mỹ [20], nếu khối u ở một bên BT có kích thước <30

mm, khả năng sống sau 5 năm là 70%, nếu khối u >30 mm, hoặc ở cả hai bên

BT tỷ lệ này chỉ còn là 30%. Theo William Helm C và cộng sự, tỷ lệ sống 5

năm ở bệnh nhân UTBT nói chung là 41,6 %.

1.3.2. Xét nghiệm CA125

CA125 là chất đánh dấu khối u tốt nhất trong UTBT. Nếu sử dụng riêng

lẻ, có thể thấy CA125 tăng cả trong ung thư cổ tử cung, ung thư niêm mạc tử

cung, ung thư đại tràng và ung thư vú. Về giá trị chẩn đoán sớm của chất đánh

dấu CA125 đối với khối UBT nói chung, nhiều tác giả cho rằng ít có giá trị

phát hiện. Trong nghiên cứu của Lý Thị Bạch Như đã trích dẫn Jacobs dùng

CA125 như một test để sàng lọc cho 1.010 phụ nữ sau mãn kinh và thấy 1

trường hợp UTBT, giá trị tiên đoán (+) của thử nghiệm là 1,72%; Einhom

dùng CA 125 kết hợp với siêu âm ổ bụng cho 5.550 phụ nữ trên 40 tuổi phát

hiện được 9 ca UTBT, giá trị tiên đoán (+) là 3,43%.

Tuy nhiên, CA125 có tác dụng định hướng cho bác sỹ. Lê Thanh Bình sử

dụng CA125 trên 58 bệnh nhân UBT điều trị tại Bệnh viện Sản Hải Phòng

thấy giá trị tiên đốn (+) là 53,8%, giá trị tiên đoán (-) là 86,7%, khả năng

chẩn đoán đúng Ac = 79,3%. Trong 86,7% ca u nang BT lành tính có CA125

trong giới hạn bình thường <35UI/ml, 53,9% ca UTBT có CA125 >35 UI/ml.



11



Dựa trên kết quả nghiên cứu, các tác giả cho rằng không nên lạm dụng

CA125 như là biện pháp hữu hiệu trong chẩn đốn sớm UTBT, bởi giá trị

CA125 chỉ có tính định hướng trong chẩn đoán, theo dõi, đánh giá kết quả

điều trị, khả năng tái phát và di căn.

Tuy độ đặc hiệu của CA125 thấp, khơng có giá trị chẩn đoán sớm đối với

UTBT ở phụ nữ trẻ, nhưng ở phụ nữ mãn kinh, giá trị chẩn đốn tính chất ác

tính của CA125 là 100 % khi lượng CA125 >65 UI/ml. Vì vậy nên sử dụng

CA125 phối hợp với các marker khác hoặc với siêu âm để nâng cao hiệu quả

chẩn đoán.

1.3.3. Nội soi ổ bụng

Nội soi ổ bụng xác định tương đối chính xác bản chất khối u, song

phương pháp này có nhược điểm là phải gây mê và khi tiến hành thủ thuật có

nguy cơ làm vỡ khối u làm tế bào u lan tràn vào ổ bụng. Phương pháp nội soi

ổ bụng chỉ được sử dụng sau khi đã được cân nhắc kỹ càng giữa giá trị chẩn

đốn và tai biến của chúng, do đó chúng được áp dụng một cách hạn chế so

với các phương pháp khác Nếu là u ác tính, nội soi thấy bề mặt u sần sùi, gồ

ghề, có nhú, có nhiều mạch máu tăng sinh và có dịch trong ổ bụng; còn nếu là

u lành tính thấy bề mặt trơn nhẵn, khơng có nốt sùi, khơng có dịch ở bụng.

Hiện nay, việc chọc hút khối u hoặc nang BT dưới sự hướng dẫn của siêu

âm hay trong phẫu thuật nội soi được coi là một phương pháp chẩn đốn có

giá trị, nhất là trong chẩn đoán phân biệt khổi UBT với các tổn thương khác

như ứ dịch vòi trứng, lạc nội mạc tử cung.

1.3.4. Chẩn đốn hình ảnh

- X quang

Chụp tử cung - vòi trứng, chụp bụng khơng chuẩn bị hoặc chụp hệ tiết

niệu bằng phương pháp chụp thận tĩnh mạch ( Urographie intraveineuse - UIV

) có thể thấy các hình ảnh gây chèn ép niệu quản khi u đã quá to, hình cản



12



quang của mảnh xương răng, các vết vơi hóa của u - nang bì; hoặc hình ảnh

lắng đọng canxi của các khối u ác tính. Chụp tim phổi cũng là xét nghiệm cần

thiết trong chẩn đốn UBT vì tim phổi là vị trí di căn thường gặp trong ung

thư biểu mô BT. Trong hội chứng De Mons - Meigs có thể thấy hình ảnh tràn

dịch màng phổi.

- Chụp cắt lớp vi tính ( CT scane ):

Là phương pháp hiện đại cho phép nhìn thấy tồn diện ổ bụng, nghiên

cứu được u, hạch cạnh sống, hạch cạnh động mạch chủ và hạch vùng khung

chậu cũng như đo được tỷ trọng chất chứa trong u để phân biệt mỡ, xương,

dịch. Trên cắt lớp vi tính, u tế bào mầm có khối đặc, có thể có một phần dịch,

tỷ trọng từ 10 - 20 HD, cấu trúc loang lổ do có thể có những vùng ngấm ít

thuốc hoặc vùng hoại tử khơng ngấm thuốc; u mơ đệm dây sinh dục có nhiều

múi và ngồi phần đặc còn thấy vùng dịch, vùng hoại tử, hình thối hố và

vơi hố; UBT ác tính có thành dày mỏng khơng đều, có vơi hố, dịch trong tu

có tỷ trọng >15 HU. Chụp CT scan là phương pháp chẩn đốn khơng can

thiệp, cho giá trị chẩn đốn rất cao cả về chẩn đoán thể bệnh cũng như chẩn

đốn giai đoạn bệnh, hữu ích cho bác sĩ lâm sàng để đưa ra phương pháp điều

trị và tiên lượng bệnh. Tuy vậy, việc trang bị máy CT scan đến nay còn hạn

chế và giá chụp còn quá cao nên phương pháp này chưa được sử dụng phổ

biến trong chẩn đốn khối UBT.

- Siêu âm:

Siêu âm có vai trò quan trọng trong chẩn đốn các khối UBT, có khả

năng lặp lại nhiều lần nên siêu âm là chỉ định đầu tay của các bác sĩ khi thăm

khám khối UBT. Bên cạnh đó, siêu âm cũng rất có giá trị trong theo dõi diễn

biến khối UBT và có giá trị nhất định trong dự đốn khá năng ác tính. Siêu

âm quan sát được BT khá rõ ràng, phát hiện khối u và cung cấp các đặc điểm

và số đo chính xác đến vài mm; siêu âm còn giúp thăm dò các vị trí khác để



13



tìm dịch ổ bụng, tìm dấu hiệu di căn và loại trừ khối u không thuộc BT. Trong

siêu âm, nếu thấy hình ảnh khối u bờ khơng đều, nham nhở không phân biệt

rõ với tổ chức lân cận, u có vách, có nhú ở trong hay mặt ngoài u, kèm theo

dịch cổ trướng, nên hướng tới chẩn đốn ác tính.

- Siêu âm doppler

Doppler phát hiện được những mạch máu tăng sinh bất thường xung

quanh và trong lòng khối u. Qua đánh giá chỉ số trở kháng RI và chỉ số xung

PI của dòng máu người ta có thể nhận định tốc độ, hướng dòng chảy, mức độ

tăng sinh của mạch máu để dự đốn tính chất ác tính của khối u. Doppler màu

trên u thanh dịch có thể thấy mạch máu trong vách hoặc thành khối u; còn

doppler trên u nhẩy khơng có mạch bên trong u,...

Một số hình ảnh doppler dự đốn khối UBT ác tính :

-



Mạch máu xâm nhập nhiều ở vùng trung tâm khối u.



-



Mạch máu nhánh có kích thước to hơn mạch máu chính.



-



Có nhiều mạch tắt giữa động mạch và tĩnh mạch.



-



Cuối mạch máu phình to thành hổ huyết.



-



Độ trở kháng RI thấp ( RI < 0,4), tốc độ dòng máu PI cao ( PI > 1).

Theo Robbin, khi nghiên cứu hình ảnh siêu âm doppler cho thấy độ trở



kháng tưới máu khối u có RI < 0,4 thì tỷ lệ ác tính với độ nhạy 96% , độ đặc

hiệu 99,8%

Năm 1996, Fleischer AC [43], qua nghiên cứu 62 trường hợp nhận xét:

với doppler khả năng chẩn đoán đúng UTBT là 83%, độ nhạy 92%, độ đặc

hiệu 80%.

1.4. Đặc điểm hình ảnh siêu âm ubt

1.4.1. Hình ảnh khối UBT nói chung

Đa số các tác giả đều mơ tả hình ảnh BT, bình thường khi siêu âm BT

nằm ở hố BT, sát thành bên tiểu khung, ở dưới tĩnh mạch chậu trong và trước

của hệ thống mạch hạ vị, nhưng vị trí này có thể thay đổi khi người phụ nữ đã



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Áp dụng phân loại u buồng trứng IOTA để chẩn đoán phân biệt UBT ác tính và UBT lành tính.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×