Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Chiều cao: Chiều cao là yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương. Những người có tầm vóc nhỏ có khối lượng xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương

- Chiều cao: Chiều cao là yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương. Những người có tầm vóc nhỏ có khối lượng xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



1.3. Cơng cụ dự báo lỗng xương

1.3.1. Mật độ xương (MĐX)

 Định nghĩa: Mật độ xương là tổng lượng xương tính trên một đơn vị

thể tích (g/cm3) hoặc trên một đơn vị diện tích vùng (g/cm2) và được

đo bằng máy đo mật độ xương

 Các phương phap đo MĐX

- Chụp cắt lớp vi tính định lượng (Quantitative computer tomography - QCT).

- Hấp thụ photon đơn (Single photon absorptiometry - SPA).

- Hấp thụ photon kép (Dual photon absorptiometry – DPA).

- Siêu âm định lượng (Quantitative ultrasound – QUS).

- Hấp thụ tia X năng lượng đơn (Single energy Xray absorptiometry – SXA).

- Hấp thụ tia X năng lượng kép (Dual energy Xray abssorptiometry – DEXA).

DEXA được sử dụng rộng rãi nhất. Nó linh hoạt với ý nghĩa có thể được

sử dụng để đánh giá thành phần khống của tồn bộ xương cũng như những vị

trí đặc trưng bao gồm những vị trí dễ tổn thương dẫn đến gãy xương

Hạn chế của DEXA

- Osteomalacie bệnh thiếu dinh dưỡng ở người lớn, do có giảm độ khống

hóa xương nên dùng DEXA khơng đánh giá đúng

- Thối hóa xương khớp hoặc bệnh xương khớp viêm tại tủy sống hoặc

khớp háng ở người lớn ảnh hưởng tới đo MĐX

 Giá trị chẩn đốn lỗng xương dựa trên đo mật độ xương bằng

DEXA

- MĐX được mô tả bằng T-score và Z-score với đơn vị là SD [40]

T-score xác định bởi MĐX ở cá thể được đo so với giá trị trung bình ở

người trẻ tuổi khỏe mạnh. Loãng xương được xác định khi T-score đo ở cột

sống thắt lưng hoặc cổ xương đùi nhỏ hơn hoặc bằng -2,5 SD



10



T score được ước tính theo cơng thức sau đây:



iMĐX - mMĐX

SD

Trong đó, iMĐX là mật độ xương của đối tượng I, mMĐX là mật độ

T score =



xương trung bình của quần thể trong độ tuổi 20-30 (peak bone mineral

density) và SD là độ lệch chuẩn của mật độ xương trung bình của quần thể ở

lứa tuổi 20-30 [40]

Trong đó, iMĐX là mật độ xương của đối tượng i, tMĐX là mật độ

xương trung bình của quần thể có cùng độ tuổi với đối tượng, và SD là độ

lệch chuẩn của MĐX trung bình của quần thể có cùng độ tuổi cùng giới với

đối tượng.

1.3.2. Công cụ đánh giá loãng xương

Các bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên cần được đánh giá yếu tố nguy cơ loãng

xương, sàng lọc với đo MĐX được khuyến cáo ở phụ nữ ≥ 65 tuổi

Các cơng cụ đánh giá lỗng xương

+ ORAI

+ SCORE

+ OSIRIS

+ OSTA

1.3.2.1. Chỉ số ORAI: Osteoporosis risk assessment instrument (Công cụ đánh

giá nguy cơ loãng xương [41]

Năm 2000 Cadarette và cộng sự nghiên cứu ở phụ nữ Canada từ 45 tuổi

trở lên đánh giá nguy cơ loãng xương dựa trên 3 yếu tố:

-Tuổi: ≥ 75 tuổi : 15 điểm, 65 - 74 tuổi: 9 điểm, 55 - 64 tuổi: 5 điểm,45 54 tuổi: 0 điểm

- Cân nặng: < 60kg : 9 điểm, 60 - 69 kg: 3 điểm, > 70kg: 0 điểm

- Dùng estrogen: có: 0 điểm, khơng: 2 điểm



11



Người thấp nhất 0 điểm, người cao nhất 26 điểm, những người có điểm ≥

9 thì được khun đi đo mật độ xương.

Chỉ số có độ nhậy: 93,3%, độ đặc hiệu: 46,4%.

1.3.2.2. Chỉ số SCORE: Simple calculated osteoporosis risk estimation (Tính

tốn đơn giản ước lượng nguy cơ loãng xương)

Năm 1998 Lydick E Cook và cộng sự nghiên cứu mơ hình tiên lượng

nguy cơ phụ nữ loãng xương dựa trên 6 tiêu chuẩn: màu da, viêm khớp dạng

thấp, tiền sử dụng estrogen, gãy xương > 45 tuổi, tuổi, cân nặng, những người

trên 6 điểm được khuyên đi đo mật độ xương [41]

Độ nhạy: 90%, độ đặc hiệu: 40%.

1.3.2.3. Chỉ số OSIRIS : Osteoporosis index of risk (Chỉ số nguy cơ loãng xương)

Năm 2002 Sedrine và cộng sự nghiên cứu 1303 phụ nữ mãn kinh ở Bỉ

đánh giá nguy cơ loãng xương dựa trên 4 yếu tố: tuổi, trọng lượng cơ thể, sử

dụng biện pháp hormone thay thế, tiền sử gãy xương [42]

Nghiên cứu có độ nhậy: 78,5%, độ đặc hiệu: 51,4%

Các chỉ số (ORAI, SCORE, OSIRIS) đều có chung đặc điểm là nhiều

biến do đó khi áp dụng trên lâm sàng sẽ khó khăn

1.3.2.4. Chỉ số OSTA: Osteoporosis Self-Assessment Tool for Asians (cơng cụ

tự đánh giá lỗng xương cho người châu Á)

Đo MĐX không được áp dụng rộng rãi ở một số cộng đồng vì giá thành cao

và thiếu trang thiết bị. Năm 2001, Koh và cộng sự đã thiết lập ra chỉ số

OSTA, đây là một công cụ tự đánh giá loãng xương cho người châu Á với độ

nhạy 91%, độ đặc hiệu 45% khi so sánh với đo mật độ xương bằng phương

pháp DEXA [9], ưu điểm nổi trội của chỉ số này là tính tốn rất đơn giản chỉ

bằng cân nặng và tuổi.

Phương pháp tính ra chỉ số OSTA: Tác giả thu thập dữ liệu từ 8 quốc gia

châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Philippine, Thái Lan,

Malaysia, Singapore). Đối tượng là phụ nữ mãn kinh từ 40 tuổi trở lên, tự



12



nguyện tham gia nghiên cứu, không mắc các bệnh ảnh hưởng tới mật độ

xương và chưa bao giờ điều trị loãng xương. Tất cả các đối tượng đều được

đo mật độ xương bằng phương pháp DEXA và được khai thác các thông tin

theo một bộ câu hỏi lượng giá gồm các biến: Tuổi, cân nặng, chiều cao, chủng

tộc, độ giảm chiều cao, tiền sử gãy xương (bản thân, cha mẹ, chị em), tuổi

mãn kinh, tiền sử dùng một số loại thuốc (estrogen, hoocmon tuyến giáp,

corticoid), bệnh khớp viêm, chế độ bổ sung canxi, hoạt động thể chất, hút

thuốc, thời gian vận động, tiền sử nằm bất động, phơi nắng. Sử dụng hồi quy

đa biến logistic cho 11 biến (tuổi, trọng lượng, estrogen, thuốc tuyến giáp, bất

kỳ gãy xương từ 45 tuổi, gẫy xương cột sống từ trước, Trung Quốc, Thái Lan,

Malaysia, Hồng Kông, Đài Loan) để tính tốn thì thấy chỉ cần 2 biến là tuổi

và cân nặng đã có ý nghĩa trong đánh giá nguy cơ lỗng xương.

Cơng thức tính OSTA: [cân nặng (kg) – tuổi (năm)] * 0,2

Kết quả thu được khơng tính đến chữ số sau dấu phẩy

Sau đó tác giả tính độ nhạy, độ đặc hiệu và AUC (diện tích dưới đường

cong) của chỉ số OSTA để đánh giá giá trị của chỉ số này trong chẩn đốn

lỗng xương

+ Độ nhạy: là tỷ lệ phụ nữ loãng xương (T-scores ≤ -2.5) mà làm test

dương tính (tức là có giá trị dưới cut-off).

+ Độ đặc hiệu: là tỷ lệ phụ nữ không lỗng xương có test bình thường

(chỉ số nhỏ hơn hoặc bằng cut-off)

- Phần tầng nguy cơ loãng xương theo OSTA

Nguy cơ cao: OSTA < -4 (Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 8% phụ

nữ có nguy cơ cao thì có tới 61% lỗng xương).

Nguy cơ trung bình: -4 ≤ OSTA ≤ -1(Kết quả nghiên cứu cho thấy trong

số 52% phụ nữ có nguy cơ trung bình thì có 15% loãng xương).

Nguy cơ thấp: OSTA > -1 (Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 40%

phụ nữ có nguy cơ thấp thì chỉ có 3% lỗng xương).



13



Biểu đồ 1.1. Mơ hình OSTA

1.4. Tình hình nghiên cứu về lỗng xương và OSTA

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

- Năm 2013 Kanis A.J và cộng sự, trong hướng dẫn chẩn đoán và quản lý

loãng sau mãn kinh của châu Âu, đưa ra con số về gãy xương, năm 2010, số

ca tử vong liên quan tới gãy xương loãng xương ở phụ nữ châu Âu khoảng

43.000, trong đó xấp xỉ 50% là gãy cổ xương đùi, 28% gãy xương cột sống.

Điều này cho thấy loãng xương ở phụ nữ ở các nước phát triển vẫn là vấn đề

cấp thiết, tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế của đo mật độ

xương bằng DEXA như sự ảnh hưởng của thối hóa khớp hoặc tình trạng gãy

xương từ trước [43]

- Koh và CS đã xác lập ra chỉ số OSTA với độ nhạy và độ đặc hiệu 95%

và 47% [9]

- Trung Quốc: loãng xương gặp ở 70 triệu dân trên 50 tuổi, gây nên

687.000 gãy cổ xương đùi [44]. Từ năm 1988 đến 1992, tỷ lệ này ở Bắc Kinh

tăng 34% ở nữ giới và gãy cổ xương đùi ở nữ giới cao hơn nam giới [45]. Tuy



14



nhiên theo nghiên cứu của Tuzun và cộng sự cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân

lỗng xương được phòng bệnh và nhận thức về bệnh chỉ hạn chế ở những

thành thị nơi có máy đo mật độ xương bằng DEXA. Điều này cho thấy Trung

Quốc giống như các nước đang phát triển khác trong đó có Việt Nam rất cần

thiết có một cơng cụ dự báo lỗng xương hữu hiệu trong tình hình máy DEXA

vẫn còn hạn chế ở nhiều khu vực trên đất nước

- Ở Nhật nghiên cứu về chỉ số OSTA với mẫu 1123 dùng cut-off -1 cho

kết quả độ nhạy 98% và độ đặc hiệu 29%. Chia số phụ nữ thành 3 nhóm nguy

cơ cao, trung bình, thấp tương ứng với các khoảng OSTA [-4; -1] thì tỷ lệ

lỗng xương là giảm theo trình tự như trên [47]

- Nghiên cứu OSTA ở Malaysia năm 2012 cũng có kết quả về độ nhạy

87,5%, độ đặc hiệu 95,8% [47]

1.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

- Năm 1996 Vũ Thị Thanh Thủy nghiên cứu một số yếu tố liên quan tới

nguy cơ lún đốt sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh, bằng phương

pháp chụp Xquang quy ước cột sống lưng và thắt lưng trên 270 phụ nữ mãn

kinh cho kết quả: nguy cơ lún đốt sống do loãng xương sau mãn kinh là tuổi

trên 70, chiều cao dưới 145cm, cân nặng dưới 45kg, sinh trên 4 con [48]

- Năm 2002 Trần Thị Tô Châu nghiên cứu trên phụ nữ mãn kinh Hà Nội

có đo mật độ xương bằng siêu âm xương gót phát hiện tỷ lệ loãng xương ở

phụ nữ mãn kinh là 36,2%, tăng dần theo tuổi; có mối tương quan nghịch giữa

tuổi và mật độ xương, tương quan thuận giữa cân nặng và mật độ xương.

Khơng có mối tương quan giữa chiều cao, BMI, tuổi có kinh lần đầu, số lần

có thai và thời gian mãn kinh với mật độ xương [5]

- Năm 2009 Nguyễn Thị Thanh Hương, Phạm Thị Minh Đức và cộng sự

nghiên cứu trên 382 nữ dùng máy DEXA Lunar Prodigy đo mật độ xương và

dùng giá trị tham chiếu cho người Việt Nam thấy tỷ lệ loãng xương ở nữ giới



15



trên 50 tuổi là 25,6% tại vị trí cột sống thắt lưng và 23,1% tại vị trí cổ xương

đùi. Khối lượng xương đỉnh của người Việt nam từ 27 đến 29 tuổi [29]

- Năm 2010 Đặng Hồng Hoa và cộng sự nghiên cứu trên 1034 người

tuổi từ 15 - 84 bằng máy DEXA Unigamma, có sử dụng giá trị tham chiếu cho

người Việt Nam thấy tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ trên 50 tuổi tại vị trí cột

sống thắt lưng là 24,4%, cổ xương đùi là 24,6% [49]

- Năm 2014, Nguyễn Xuân Trường, Nghiên cứu chỉ số OSTA áp dụng

cho nam giới từ 40 tuổi trở lên cho kết quả độ nhạy 70,4%, độ đặc hiệu

76,5% [10]

- Năm 2015, Nguyễn Thị Ngọc Lan và CS, khảo sát yếu tố nguy cơ

loãng xương ở phụ nữ Việt nam từ 50 tuổi trở lên và nam giới 60 tuổi trở lên ,

cho kết quả yếu tố nguy cơ loãng xương ở phụ nữ Việt Nam ≥ 50 tuổi là cân

nặng < 42 kg, chiều cao < 147 cm, tuổi có kinh muộn > 16 tuổi, số lần sinh

con ≥ 5 lần [50]



16



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Lựa chọn từ những người đi kiểm tra sức khỏe đến khám tại khoa khám

bệnh theo yêu cầu bệnh viện Bạch Mai từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 09

năm 2015.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Phụ nữ mãn kinh từ 40 tuổi trở lên sức khỏe bình thường

- Có đo mật độ xương

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Chưa điều trị loãng xương bao giờ

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không hợp tác

- Bệnh nhân mất trí nhớ hoặc trí nhớ kém ảnh hưởng đến q trình thu

thập thơng tin

- Tiền sử hoặc hiện tại đang mắc các bệnh xương: Cường cận giáp, suy cận

giáp, Paget, nhuyễn xương, loạn dưỡng xương do bệnh thận, bệnh tạo xương bất

toàn, ung thư di căn xương, bằng chứng suy thận, cắt bỏ buồng trứng

- Tiền sử thay khớp háng hoặc gãy cổ xương đùi hai bên

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Khoa khám bệnh theo yêu cầu - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 12 năm

2014 đến tháng 09 năm 2015.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang



17



2.3.2. Cỡ mẫu

Cỡ mẫu được tính theo cơng thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu tìm độ

nhạy hoặc độ đặc hiệu của một phương pháp chẩn đốn [1]



Trong đó:

Pse: độ nhạy của chỉ số OSTA (Pse = 0,91)

Z²α là hằng số phân bố chuẩn (Zα = 1,96 khi α= 0,05)

w: sai số của 2 xác suất dương tính thật và âm tính thật: 0,05

Pdis là tỷ lệ lưu hành bệnh trong quần thể: 58,4 % [50]

N tối thiểu là 215, chúng tôi lấy n = 406

2.3.3. Cách chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu

Mỗi đối tượng nghiên cứu sẽ được hỏi bệnh và thăm khám theo một

mẫu bệnh án thống nhất bao gồm các chỉ số và biến số để tìm hiểu về những

yếu tố liên quan đến loãng xương và bước đầu xác định chỉ số OSTA

Hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng:

- Tuổi: Là tuổi thực tế, tính theo năm.

- Giới: nữ

- Nghề nghiệp:

+ Nhóm nghề nghiệp tĩnh tại: giáo viên, bác sỹ, luật sư, kế tốn, nhà

văn, cán bộ hành chính sự nghiệp…

+ Nhóm nghề nghiệp khác: công nhân, nông dân, vận động viên...

- Cân nặng: Tính theo kilogram, đo tại thời điểm nghiên cứu, dùng cân

có độ chính xác cao, được đối chiếu kiểm tra điều chỉnh lại cân thường xuyên

cho chính xác.

- Chiều cao: Tính theo cm, đo tại thời điểm nghiên cứu, dùng thước đo

chiều cao gắn với cân có độ chính xác cao. Bệnh nhân ở tư thế đứng thẳng



18



không đi giày, dép (coi là đứng thẳng khi 4 điểm chẩm, mỏm vai, mơng và gót

chân tiếp giáp chạm tường).

- Giảm chiều cao trên 3 cm: Khi bênh nhân có chiều cao thấp hơn ít nhất

trên 3 cm (so sánh với chiều cao tối đa khi khám sức khỏe tuổi thanh niên).

- BMI: Được tính theo cơng thức: BMI = m/h2 (kg/m2)

m: cân nặng (kg), h: chiều cao (m)

Phân loại BMI [3]

+ Gầy: BMI < 18,5

+ Bình thường: 18,5 ≤ BMI ≤ 22,9

+ Thừa cân: BMI ≥ 23

- Tiền sử bị gãy xương ở tuổi trưởng thành: Là tiền sử gãy xương tự

nhiên hoặc sau một sang chấn nhẹ ở tuổi trưởng thành.

- Người thân (cha mẹ, anh chị em ruột) có tiền sử gãy xương tự nhiên

hoặc sau chấn thương nhẹ.

- Hút thuốc: Coi là có hút thuốc nếu bệnh nhân hút 20 điếu/ một ngày

- Lạm dụng rượu: Coi là có khi bệnh nhân uống 3 hoặc nhiều hơn 3 đơn

vị rượu/ngày (1U= 8g rượu). Một đơn vị tương đương với một ly bia tiêu

chuẩn (285ml), hoặc 30ml rượu mạnh, hoặc một ly rượu vang cỡ trung

bình(120ml) hay 60ml rượu khai vị [5]

- Dùng thuốc kéo dài (trên 3 tháng): Sử dụng steroid với liều prednisolone

ít nhất 5mg/ngày hoặc thuốc tương đương, thuốc thay thế hormon tuyến giáp,

thuốc chống động kinh..

- Té ngã trong 12 tháng qua: Bao gồm ngã do chấn thương, trượt chân,

ngã cầu thang…

- Tập thể dục: Đối tượng được coi là tập luyện vừa phải khi thường

xuyên tham gia luyện tập với chế độ trên 3 lần/tuần, mỗi lần trên 60 phút [6]

- Đo Mật độ xương:



19



Thiết bị đo: Sử dụng máy đo mật độ xương bằng phương pháp đo hấp

thụ tia X năng lượng kép (DEXA), máy Hologic

Vị trí đo tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi.

Phân tích kết quả:

+ Chỉ số T-score được đo ở vùng cột sống thắt lưng L1- L4 và vùng cổ

xương đùi. Kết quả cuối cùng được tính bằng trung bình cộng của các chỉ số ở

các vùng được đo ở cột sống thắt lưng và vị trí cổ xương đùi

- Chỉ số T-score tính theo khối lượng xương đỉnh của nữ giới Việt Nam

[29]

Khối lượng xương đỉnh



Tuổi đạt khối lượng



Vị trí đo MĐX

đo bằng máy Hologic

xương đỉnh

Cổ xương đùi

0,86 (0,1)

25

Cột sống thắt lưng

0,98 (0,11)

30

Cơng thức tính T-score theo khối lượng xương đỉnh (g/cm2)

T score =



MDX - mMĐX

SD



+ Đánh giá mật độ xương theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới năm

1994 [7]

- Bình thường:



MĐX ≥ -1



- Giảm mật độ xương:



MĐX từ dưới -1 đến cận -2,5



- Loãng xương:



MĐX ≤ -2,5



- Loãng xương nặng:



MĐX ≤ -2,5 và có ≥ 1 lần gãy xương



+ Áp dụng chỉ số OSTA phân tầng nguy cơ loãng xương

OSTA = (Cân nặng (kg) - Tuổi (năm)/5

Kết quả thu được lấy phần nguyên



2.4. Phân tích và xử lý số liệu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Chiều cao: Chiều cao là yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương. Những người có tầm vóc nhỏ có khối lượng xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×