Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề

Tải bản đầy đủ - 0trang

Để sử dụng tốt phương pháp đàm thoại trong việc giảng dạy môn giáo dục

công dân nhằm đạt hiệu quả cao trong giáo dục, giáo viên cần tuân theo các yêu

cầu sau:

- Đàm thoại có thể dùng để giảng tri thức mới hoặc củng cố tri thức cũ,

kiểm tra đánh giá kết quả giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh. Sau khi

lựa chọn hình thức này, giáo viên phải lựa chọn những hình thức đặt câu hỏi phù

hợp với nó để xác định loại câu hỏi cần nêu ra. Loại câu hỏi rất đa dạng, do đó

trong khi đặt nên có những thay đổi nhất định để tránh sự ức chế, tăng yếu tố

kích thích hưng phấn tư duy cho học sinh.

- Các câu hỏi đặt ra cần sắp xếp một cách theo một hệ thống xác định, hợp

lí giúp học sinh theo dõi, lĩnh hội đầy đủ kiến thức mới. Khi chuyển từ câu hỏi

này sang câu hỏi khác cần tạo ra sự liên hệ giữa chúng để kiến thức không bị

tách rời.

- Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác cả nội dung và từ ngữ. Những

câu hỏi dài, mập mờ, khơng cính xác sẽ làm cho học sinh khó hiểu, hoặc khơng

hiểu và do đó sẽ khó trả lời hoặc trả lời khơng đúng nội dung định hướng của

giáo viên.

- Câu hỏi phải phù hợp với nội dung bài giảng, gần gũi với thực tế hay

những nôi dung kiến thức học sinh đã được tích lũy. Câu hỏi đòi hỏi trả lời bằng

những kiến thức học sinh chưa được trang bị, tích lũy sẽ làm cho các em không

đủ khả năng trả lời dẫn đến chán học.

- Câu hỏi đặt ra phải phù hợp với đặc điểm, tâm sinh lí, thực tế của xã hội,

trình độ của học sinh. Khi nêu ra các câu hỏi cần tìm đến các loại học sinh khác

nhau trong 1 lớp để một mặt kích thích sự phát triển trí tuệ ở học sinh trung

bình, khá, mặt khác có thể giúp học sinh yếu, kém phát huy tính tích cực, do đó

động viên sự hăng hái học tập của học sinh. Muốn vậy cần có sự đầu tư thỏa

đáng của giáo viên vào đặt câu hỏi chính, dự kiến những câu trả lời của học

sinh, đặt ra các câu hỏi phụ nhằm gợi mở cho học sinh.

- Môn giáo dục cơng dân là một mơn học có chức năng hệ tư tưởng bị

định kiến không tốt về mặt chính trị, tư tưởng. Cho nên cần khuyến khích học

sinh tự do đặt ra, tranh luận, giải quyết những vẫn đề thuộc nội dung bài học và

thực tiễn diễn ra xung quanh.

4.2. Một số yêu cầu về phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học mà ở đó giáo viên thiết kế

bài học (hay một phần của bài) dưới dạng những bài tập nhận thức với nhiệm vụ

cụ thể rồi giao cho từng nhóm nhỏ nhỏ học sinh.

Dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên trong một khoảng thời gian nhất

định, các thành viên trong nhóm tiến hành trao đổi hợp tác, tranh luận để cùng

nhau giải quyết nhiệm vụ của mình, từ đó tiếp cận và chiếm lĩnh nội dung tri

thức của bài học. Về bản chất, phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm

giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập. Tạo cơ

hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các

vấn đề có liên quan đến nội dung bài học, tạo cơ hội cho các em được giao lưu,

học hỏi, cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung. Chính vì vậy để

sử dụng phương pháp này có hiệu quả, giáo viên và học sinh, cần:

6



- Giáo viên:

+ Xác định rõ ràng, đúng mục tiêu bài học, tiết học để chuẩn bị tốt

phương tiện dạy học và phương pháp dạy học phù hợp. Từ đó sử dụng phương

pháp thảo luận nhóm vào từng phần nội dung bài học. Ví dụ như hình thành khái

niệm các chủ điểm đạo đức biểu hiện, ý nghĩa, cách rèn luyện… đồng thời

hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước những yêu cầu cân thiết đối với tiết học đó.

Ví dụ như: giấy bút, sưu tầm tranh ảnh có liên quan đến bài học…

+ Giáo viên chia nhóm học sinh và hướng dẫn cách hoạt động nhóm.

+ Thiết kế câu hỏi, giao nhiệm vụ cho các nhóm

+ Tổ chức, điều khiển hoạt động nhóm

- Học sinh:

+ Học và chuẩn bị bài tốt theo yêu cầu hướng dẫn của giáo viên.

+ Trên lớp cần chú ý, tích cực chủ động trong hoạt động của nhiệm vụ

trong tiết học.

+ Xác lập vai trò nhóm trưởng và thư kí nhóm mình.

4.3. Áp dụng bài dạy có sự kết hợp phương pháp thảo luận

nhóm và đàm thoại

Đối với mơn giáo dục cơng dân, thỏa luận nhóm được xem là một trong

những phương pháp dạy học hiệu quả bởi vì phương pháp này có nhiều ưu thế

trong việc hai thác được tối đa 5 yếu tố tham gia vào quá trình lĩnh hội tri thức

mới (bao gồm giáo viên - học sinh - sách giáo khoa - tri thức tích hợp và kinh

nghiệm sống của học sinh).

Tuy nhiên, trong quá trình lên lớp, phương pháp thảo luận nhóm cũng cần

phải được giáo viên vận dụng kết hợp với một số phương pháp dạy học khác.

Bởi vì khơng có phương pháp nào là vạn năng có thể áp dụng cho tất cả nội

dung kiến thức.

Thực tế cho thấy, thảo luận nhóm chỉ có thể phát huy tối đa ưu điểm của

mình trong những điều kiện nhất định. Trong hoàn cảnh ấy, việc kết hopwj

phương pháp thảo luận nhóm với phương pháp đàm thoại là cách tốt nhất để tạo

nên sự cộng hưởng, lấy ưu điểm của phương pháp này để khắc phục nhược điểm

của phương pháp kia.

Căn cứ vào nội dung tri thức, giáo viên thiết lập, biên soạn một hệ thống

các câu hỏi. Chúng được sắp xếp một cách logic, đáp án của câu hỏi trước sẽ là

điều kiện để trả lời câu hỏi sau.

Hệ thống câu hỏi được ghi vào phiếu học tập và đưa đến các nhóm. Các

thành viên trong nhóm tiến hành hợp tác giải quyết, tìm ra hướng trả lời cho

những câu hỏi đã nêu.

Trong quá trình thảo luận, giáo viên đi đến các nhóm để cổ vũ, dộng viên.

Khi nào nhóm nào gặp khó khăn, giáo viên có thể đưa ra những gợi ý chỉ dẫn

nhằm giúp nhóm vượt qua các “cửa ải” của từng câu hỏi tiến đến giải quyết trọn

vẹn vấn đề.

Hết giờ thảo luận, giáo viên bắt đầu nêu ra từng câu hỏi và chỉ định các

nhóm trả lời, các nhóm khác lắng nghe, đối chiếu để bổ sung, tranh luận, giáo

viên tổng kết vấn đề sau cùng.



7



Ví dụ 1: Khi giáo viên giảng kiến thức “ý nghĩa của đạo đức đối với cá

nhân, gia đình và xã hội” (Mục 1, bài 11, GDCD10).

* Mục tiêu:

- HS hiểu được vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách, là

nền tảng của một gia đình hạnh phúc, xã hội ln đượcc củng cố và phát triển

bền vững.

- Rèn luyện cho HS năng lực tự học, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực

hợp tác, năng lực xử lý tình huống.

* Phương pháp giảng dạy: Thảo luận nhóm kết hợp với đàm thoại.

* cách thức tiến hành:

- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm có 4-6 học sinh, phân

cơng vị trí ngồi và cử nhóm trưởng thư kí.

- Giáo viên phát phiếu thảo luận bao gồm hệ thống câu hỏi dẫn dắt sắp

xếp logic như sau:

1. Em suy nghĩ như thế nào về mối quan hệ giữa cái tài và cái đức?

2. Trong một con người nếu có tài mà khơng có đức thì sẽ thế nào?

3. Em hãy rút ra vai trò của đạo đức đối với cá nhân?

4. Theo em hạnh phúc gia đình có được là do có tiền bạc, danh vọng hay

đạo đức?

5. Em có suy nghĩ gì về vai trò của đạo đức đối với gia đình, nhất là trong

giai đoạn hiện nay?

6. Em biết gì về thực trạng đạo đức trong xã hội ta hiện nay, nhất là trong

thanh thiếu niên?

7. Điều gì sẽ xảy ra nếu như đạo đức xã hội bị xuống cấp?

8. Theo em, đạo đức có vai trò như thế nào đối với xã hội?

- Các nhóm tiến hành thảo luận, vận dụng tri thức của bài học và những

kiến thức trong đời sống hàng ngày để trả lời lần lượt các câu hỏi dẫn dắt và đưa

ra kết luận.

- Giáo viên đi đến các nhóm quan sát cách làm việc của các nhóm. Khi

nhóm nào gặp khó khăn, giáo viên có thể gợi ý, chỉ dẫn để các nhóm hồn thành

tốt nhiệm vụ.

- Hết giờ thảo luận, Giáo viên phát vấn từng câu và chỉ định nhóm trả lời,

các nhóm khác lắng nghe, đối chiếu để bổ sung.

Cuối cùng giáo viên đi đến kết luận bằng kiến thức:

Đạo đức góp phần hồn thiện nhân cách con người, giúp các nhân có ý

thức và năng lực sống thiện, sống có ích, tăng thêm tình yêu đối với Tổ Quốc.

Một cá nhân thiếu đạo đức thì phẩm chất, năng lực khác sẽ khơng còn ý nghĩa.

Đạo đức là nền tảng của hạnh phúc gia đình, tạo ra sự ổn định và vững

chắc Một xã hội trong đó các quy tắc, chuẩn mực đạo đức luôn được tôn trọng

và luôn được củng cố, phát triển thì xã hội đó phát triển bền vững và ngược

lại.



8



Đây chính là nội dung kiến thức học sinh rút ra được sau quá trình thảo

luận để trả lời những câu hỏi dẫn dắt của giáo viên.

Ví dụ 2: Khi giảng đơn vị kiến thức: “Nghĩa vụ” (Mục 1, bài 11, GDCD10)

* Mục tiêu: Học sinh biết được nghĩa vụ chính là trách nhiệm của mỗi cá

nhân đối với lợi ích chung của cộng đồng xã hội; rèn luyện kĩ năng giải quết một

cách đúng đắn khi có sự mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, xã

hội; bồi dưỡng thái độ biết cố gắng vươn lên thực hiện tốt những nghĩa vụ của

mình phù hợp với lứa tuổi.

* Phương pháp giảng dạy: Thảo luận nhóm kết hợp với đàm thoại.

* Cách thức tiến hành:

- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm có 4 - 6 học sinh, phân

cơng vị trí ngồi và cử nhóm trưởng thư kí.

- Giáo viên phát phiếu thảo luận bao gồm hệ thống câu hỏi dẫn dắt sắp

xếp logic như sau:

1. Điểm khác biệt cơ bản nhất khi so sánh hành động nuôi con của con

người chúng ta và của lồi sói trong ví dụ sách giáo khoa trang 68 là gì?

2. Kể tên một số cộng đồng, tổ chức mà ta đang là một thành viên của

cộng đồng, tổ chức ấy?

3. Với tư cách là một thành viên, chúng ta dường như phải tuân thủ

những quy định chung của cộng đồng, xã hội. Việc này thể hiện điều gì của cá

nhân đối với cộng đồng, xã hội?

4. Vì sao mỗi cá nhân phải thể hiện rõ sviệc luôn phải tuân thủ những quy

định chung của cộng đồng, xã hội?

5. Em hiểu nghĩa vụ là gì? Và nó có vai trò như thế nào đối với các nhân

và sự tồn tại của xã hội?

6. Trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng có thể xuất hiện những

tình huống nào? Khi đó giải quyết ra sao? Vì sao phải giải quyết như thế?

- Các nhóm tiến hành thảo luận, vận dụng tri thức của bài học cũ, thông

tin sách giáo khoa, tri thức từ các khoa học khác và kinh nghiệm thực tiễn để trả

lời lần lượt các câu hỏi dẫn dắt và đưa ra kết luận cuối cùng.

- Giáo viên đi đến các nhóm để cổ vũ, động viên. Khi nhóm naog gặp khó

khăn, giáo viên có thể gợi ý, chỉ dẫn để giúp nhóm vượt qua các “ cửa ải”.

- Hết giờ thảo luận, Giáo viên phát vấn từng câu và chỉ định nhóm trả lời,

các nhóm khác lắng nghe, đối chiếu để bổ sung.

Cuối cùng giáo viên và học sinh đi đến kết luận: mỗi cá nhân con người

luôn luôn phải sống trong nhiều cộng đồng, tập thể và không thể tách rời với

cộng đồng, xã hội. Khi đó, cá nhân phải có nghĩa vụ thực hiện những trách

nhiệm của mình đối với yêu cầu lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Đó là quy

luật tồn tại của bất cứ một cộng đồng nào.

Đương nhiên, giữa yêu cầu, lợi ích cá nhân và yêu cầu, lợi ích cộng đồng,

xã hội đơi khi xung đột và mâu thuẫn. Khi ấy cách giải quyết tốt nhất là phải tìm

được sự hài hòa giữa hai u cầu lợi ích đó. Theo đó cá nhân phải đặt lợi ích tập



9



thể lên trên, đồng thời, tập thể phải quan tâm thích đáng đến quyền lợi chính

đáng của mỗi cá nhân.

Đây chính là nội dung kiến thức học sinh rút ra được sau quá trình thảo

luận để trả lời những câu hỏi dẫn dắt của giáo viên.



Ví dụ 3: Khi giáo viên giảng đơn vị kiến thức “khái niệm tình yêu” (Mục

1, bài 12, GDCD10)

* Mục tiêu: Học sinh biết được tình yêu là sự rung cảm quyến luyến sâu

sắc giữa hai người khác giới. Ở họ có sự phù hợp về nhiều mặt… làm cho họ có

nhu cẩu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng

cho nhau cuộc sống của mình; bồi dưỡng thái độ tơn trong, ca ngợi loại tình cảm

rất đặc biệt này ở con người.

* Phương pháp giảng dạy: Thảo luận nhóm kết hợp với đàm thoại.

* cách thức tiến hành:

- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm có 4 - 6 học sinh, phân

cơng vị trí ngồi và cử nhóm trưởng thư kí.

- Giáo viên phát phiếu thảo luận bao gồm hệ thống câu hỏi dẫn dắt sắp

xếp logic như sau:

1. Bài thơ “Nhớ” của Nguyễn Đình Thi (SGK trang 66 - 67) đề cập đến

nỗi nhớ về ai của nhân vật trữ tình?

2. Hãy đọc 1 bào thơ, câu ca dao hoặc ca từ của một bài hát có chủ đề về

tình u tương tự bài thơ trên?

3. Từ những bài thơ, câu ca dao, câu thơ, bài hát về tình yêu em hãy cho

biết tình u có vai trò như thế nào trong đời sống tình cảm của con người?

4. Các em hãy chỉ ra một số phẩm chất đạo đức thường bộc

lộ trong tình u?

5. Có quan niệm cho rằng u nhau khơng nhất thiết phải sống, gắn bó

cùng nhau. Em có đồng ý với ý kiến trên hay không? Tại sao?



10



6. Em hãy cho biết tình u là gì?

- Các nhóm tiến hành thảo luận, vận dụng thông tin sách giáo khoa, tri

thức tích hợp liên mơn và kinh nghiệm thực tiễn cuộc sống để trả lời lần lượt các

câu hỏi dẫn dắt và đưa ra kết luận cuối cùng.

- Giáo viên đi đến các nhóm để cổ vũ, động viên. Khi nhóm nào gặp khó

khăn, giáo viên có thể gợi ý, chỉ dẫn để giúp nhóm vượt qua khó khăn.

- Hết giờ thảo luận, Giáo viên phát vấn từng câu và chỉ định nhóm trả lời,

các nhóm khác lắng nghe, đối chiếu để bổ sung.

Cuối cùng, với những câu trả lời, giáo viên tiến hành xâu chuỗi lại nội

dung tri thức: Trong cuộc sống, có thể nói tình u là một dạng tình cảm đặc biệt

nhất của con người. Ở đó có sự rung cảm, quyến luyến sâu sắc giữa hai người

khác giới là đặc điểm quan trọng.

Sự phù hợp về nhiều mặt làm họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau và

sẵn sàng hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình. Đây chính là nội dung kiến

thức được học sinh rút ra trong quá trình thảo luận để trả lời những câu hỏi dẫn

dắt của giáo viên.

Ví dụ 4: Khi giảng đơn vị kiến thức lòng yêu nước (Mục 1, bài 14, GDCD10)

* Mục tiêu: Học sinh biết được thế nào là lòng yêu nước, truyền thống yêu

nước của dân tộc Việt Nam và các biểu hiện cụ thể của lòng u nước Việt Nam.

Từ đó các em biết yêu quý quê hương đất nước; biết tự hào về truyền thống tốt

đẹp của dân tộc đồng thời có ý thức học tập, rèn luyện để góp phần vào sự

nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.

* Phương pháp giảng dạy: Thảo luận nhóm kết hợp với đàm thoại.

* Cách thức tiến hành:

- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm có 4 - 6 học sinh, phân

cơng vị trí ngồi và cử nhóm trưởng thư kí.

- Giáo viên phát phiếu thảo luận bao gồm hệ thống câu hỏi dẫn dắt sắp

xếp logic như sau:

1. Em hãy đọc và cho biết đoạn thơ sau nói lên điều gì?

Ơi, Tổ quốc ta u như máu thịt

Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng

Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…

2. Em hiểu thế nào là lòng yêu nước? Và lòng yêu nước bắt

nguồn từ đâu?

3. Có ý kiến cho rằng: “Lòng yêu nước ở mỗi con người chỉ

có thể phát triển thơng qua những biến cố, khó khăn, thử thách”.

Em có nhận xét gì về điều đó?

4. Em hiểu gì về truyền thống yêu nước của dân tộc ta?

5. Lòng yêu nước của dân tộc ta được biểu hiện như thế nào?

6. Sau khi tìm hiểu được lòng u nước em rút ra được bài

học gì cho bản thân?

- Các nhóm tiến hành thảo luận, vận dụng thông tin sách giáo khoa, tri

thức tích hợp liên mơn và kinh nghiệm thực tiễn cuộc sống để trả lời lần lượt các

câu hỏi dẫn dắt và đưa ra kết luận cuối cùng.

11



- Giáo viên đi đến các nhóm để cổ vũ, động viên. Khi nhóm nào gặp khó

khăn, giáo viên có thể gợi ý, chỉ dẫn để giúp nhóm vượt qua khó khăn.

- Hết giờ thảo luận, Giáo viên phát vấn từng câu và chỉ định nhóm trả lời,

các nhóm khác lắng nghe, đối chiếu để bổ sung.

Cuối cùng, với những câu trả lời, giáo viên tiến hành xâu chuỗi lại nội

dung tri thức:

Lòng u nước là tình u q hương đất nước và tinh thần sẵn sàng đem

hết khả năng của mình phục vụ lợi ích của Tổ quốc.

Lòng u nước bắt nguồn từ những tình cảm bình dị nhất và gần gũi nhất

đối với con người. Lòng yêu nước ở mỗi con người chỉ có thể nảy nở và phát

triển thơng qua những biến cố khó hăn và thử thách.

Yêu nước là một truyền thống đạo đức cao quý và thiêng liêng nhất của

dân tộc Việt Nam, là cội nguồn của hàng loạt các giá trị truyền thống khác của

dân tộc. Chính truyền thống yêu nước là sức mạnh nội sinh giúp đất nước ta, dân

tộc ta vượt qua bao khó khăn, thử thách, chiến thắng thiên tai khắc nghiệt và

giặc ngoại xâm. Lòng yêu nước của dân tộc ta được thể hiện thơng qua tình cảm

gắn bó với q hương đất nước, tình yêu thương đối với đồng bào, giống nòi,

dân tộc, lòng tự hào dân tộc chính đáng. Đồng thời lòng u nước còn thể hiện

thơng qua sự đồn kết, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm và tinh thần

cần cù, sáng tạo trong lao động.

Đó chính là nội dung kiến thức mà các em cần rút ra và khắc sâu khi tìm

hiểu đơn vị kiên thức Lòng yêu nước.



Tóm lại, thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học nằm

trong hệ thống các phương pháp dạy học có ưu thế trong việc phát huy tính tích

cực của học sinh. Với đặc trưng cơ bản là tạo lập môi trường giao lưu, hợp tác

giữa thầy - trò; trò - trò, phương pháp này tỏ ra có ưu điểm trong việc kết hợp

với các phương pháp dạy học khác, đặc biệt là với phương pháp đàm thoại.

Sự kết hợp này vừa giúp khai thác tốt các ưu điểm của từng phương pháp,

vừa tạo ra được sự sinh động, phong phú cho bài giảng trên lớp.



12



Thiết nghĩ, khi giảng 1 bài đạo đức giáo viên không thể dùng một phương

pháp, nhưng có lẽ cùng với những phương pháp đang được sử dụng thì thơng

qua việc kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp thảo luận nhóm và đàm thoại như

trên sẽ làm cho những tri thức đạo đức dễ khắc sâu hơn vào tâm trí của học sinh.

Dạy học phần “Công dân với đạo đức” không chỉ là truyền thụ tri thức, hình

thành thái độ mà còn rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh, biến những tri

thức đạo đức thành sức mạnh nội tâm bên trong và thôi thúc hành động của họ

tạo ra những con người Việt Nam có đủ cả sức lẫn tài, đem sức trẻ, nhiệt huyết

và tài năng của mình để xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.

III. KẾT LUẬN

1. Kết quả của đề tài nghiên cứu

Để kiểm nghiệm tính khả thi của biện pháp đưa ra, tôi đã tiến hành kiểm

tra, đánh giá chất lượng học tập của học sinh ở một số lớp trong trường THPT

Hà Trung năm học 2017 - 2018 khi chưa kết hợp phương pháp thảo luận nhóm

và đàm thoại với kết quả học tập của học sinh ở 1 số lớp sau khi đã vận dụng đề

tài vào giảng dạy năm học 2018 - 2019. Kết quả như sau:

Trước khi chưa sử dụng trong các bài dạy đạo đức thì chất lượng học tập của học sinh ở các

lớp 10 B, C, K, H năm học 2017-2018 như sau:



Lớp



Sĩ số



10 B



Giỏi



Khá



T.Bình



Yếu



Kém



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



46



4



8,7



12



26,1



25



54,3



5



10,9



0



0



10 C



46



2



4,3



10



21,7



28



61,0



6



13,0



0



0



10 H



42



3



7,1



11



26,2



23



54,8



5



11,9



0



0



10 K



45



2



4,5



11



24,5



27



60,0



5



11,0



0



0



Và dưới đây là bảng số liệu đánh giá kết quả chất lượng học của các em

sau khi tôi đã sử dụng kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và đàm thoại

Lớp



Sĩ số



10 A



Giỏi



Khá



Trung bình



Yếu



Kém



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



50



13



26



29



58



8



16



0



0



0



0



10 C



48



11



22



28



56



9



18



0



0



0



0



10 G



45



9



20



26



52



7



15,5



3



6,6



0



0



10 I



45



7



15,5



29



64,4



6



13,3



3



6,6



0



0



Ngồi việc đánh giá hiệu quả của việc đổi mới phương pháp giảng dạy

thông qua các giờ học trên lớp, tơi còn đánh giá được chất lượng học sinh thông

qua kết quả làm bài kiểm tra năm học 2018 - 2019. Và kết quả thật khác biệt.

Trước khi chưa lồng ghép thì kết quả làm bài kiểm tra của học sinh ở các

lớp như sau: ở lớp 10A, trong 50 bài kiểm tra, có 8 bài đạt điểm giỏi (16%), có

15 bài đạt điểm khá (30%), 20 bài đạt điểm trung bình (40%) và 7 bài đạt điểm

13



kém (14%). Ở lớp 10C có 48 bài kiểm tra trong đó có 6 bài bài đạt điểm giỏi

(12,5%), có 18 bài đạt điểm khá (37,5%), 18 bài đạt điểm trung bình (37,5%) và

8 bài đạt điểm kém (16,6%). Còn ở lớp 10G có 45 bài kiểm tra trong đó có 5 bài

bài đạt điểm giỏi (11,1%), có 16 bài đạt điểm khá (35,5), 11 bài đạt điểm trung

bình (24,4%) và 10 bài đạt điểm kém (22,2%). Ở lớp 10I có 45 bài kiểm tra

trong đó có 4 bài bài đạt điểm giỏi (8,8%), có 18 bài đạt điểm khá (40%), 13 bài

đạt điểm trung bình và 10 bài điểm kém (22,2%).

Nhưng sau khi vận dụng kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và đàm

thoại trong q trình giảng dạy thì kết quả làm bài kiểm tra như sau:

Đối với lớp 10A, trong 50 bài kiểm tra có 13 bài đạt điểm giỏi (26%), 26

bài đạt điểm khá (52%), 11 bài đạt điểm trung bình (22%). Ở lớp 10C, trong

tổng số 48 bài, có11 bài đạt điểm giỏi (22,9%), 25 bài đạt điểm khá (52,1%), 11

bài đạt điểm trung bình (22,9%) và 1 bài điểm kém (2%). Còn ở lớp 10G có 45

bài kiểm tra trong đó có 8 bài đạt điểm giỏi (17,7%), 25 bài điểm khá (55,5%), 9

bài đạt điểm trung bình (20%) và 4 bài điểm kém (8,8%). Đối với lớp 10I, trong

tổng số 45 bài thì trong đó có 9 bài đạt điểm giỏi (20%), 26 bài điểm khá

(57,7%), 8 bài đạt điểm trung bình (17,7) và 2 bài điểm kém (4,4%).

Chưa dừng lại ở đó, để chứng minh thêm tính khả thi của đề tài tôi đã

kiểm nghiệm kết quả xếp loại hạnh kiểm học kỳ I của các em khi các em chưa

được học phần đạo đức với kết quả xếp loại hạnh kiểm kì II sau khi các em đã

được học phần cơng dân với đạo đức do tôi giảng dạy ở 1 số lớp năm học 2018 2019. Kết quả như sau:

Kết quả xếp loại hạnh kiểm kì I



Lớp



Sĩ số



10 A



Tốt



Khá



Trung bình



Yếu



Kém



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



50



41



82



7



14



2



4



0



0



0



0



10 C



48



39



12



6



56



3



20



0



0



0



10 G



45



37



82,2



6



13,3



2



4,4



0



0



0



0



10 I



45



38



84,4



4



8,8



2



4,4



1



2,2



0



0



Kết quả xếp loại hạnh kiểm kì II



Lớp



Sĩ số



10 A



Tốt



Khá



Trung bình



Yếu



Kém



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



50



46



92



4



8



0



0



0



0



0



0



10 C



48



43



89,5



4



8,3



1



2,0



0



0



0



0



10 G



45



41



91,1



3



6,6



1



2,2



0



0



0



0



10 I



45



42



93,3



2



4,4



1



2,2



0



0



0



0



Với kết quả trên rõ ràng chúng ta thấy việc đổi mới phương pháp giảng

dạy bằng việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và đàm thoại trong quá trình



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giải quyết vấn đề

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×