Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1Lý do chọn đề tài

1Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.3.1. Đối tượng sáng kiến kinh nghiệm

Đối tượng sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập nâng cao khả năng

chuyền bóng cao tay trước mặt cho học sinh khối 12 Trường THPT Yên Định 2

1.3.2. Khách thể sáng kiến kinh nghiệm

Học sinh lớp 12B3 của Trường THPT Yên Định 2

1.3.3. Phạm vi sáng kiến kinh nghiệm

− Đánh giá thực trạngchuyền bóng cao tay trước mặt.

− Lựa chọn bài tập nâng cao khả năng chuyền bóng cao tay trước mặt

chohọc sinh lớp 12B3 và của học sinh lớp 12 các khóa nói chung, của

Trường THPT Yên Định 2

1.3.4. Giả thuyết khoa học

Hiệu quả học tập cũng như tập luyện của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó nhân tố thể lực, kỹ thuật, sức bật…của học sinh đóng vai trò hết

sức quan trọng. Nếu nhân tố này được củng có chặt chẽ thì khi thực hiện kỹ

thuật chuyền bóng cao tay trước mặt sẽ có hiệu quả cao.Trong giảng dạy cũng

như huấn luyện nếu các tố chất về sức mạnh, sức nhanh, khả năng khéo léo…

được phát huy thì khi thực hiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay trước mặt sẽcó

hiệu quả cao.

1.3.5. Nhiệm vụ sáng kiến kinh nghiệm.

Để giải quyết mục tiêu sáng kiến kinh nghiệm, sáng kiến kinh nghiệmđề

ra 2 nhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ 1:Đánh giá thực trạng chuyền bóng cao tay trước mặtcủa học

sinh lớp 12B3 nói riêng và của học sinh khối 12 các khóa nói chung, của Trường

THPT Yên Định 2

Nhiệm vụ 2:Lựa chọn một số bài tập nâng cao khả năng chuyền bóng cao

tay trước mặt cho học sinh lớp 12B3 nói riêng và của học sinh khối 12 các khóa

nói chung, của Trường THPT Yên Định 2.

1.4. Phương pháp viết sáng kiến kinh nghiệm.

Để giải quyết sáng kiến kinh nghiệm tôi đã sử dụng những phương pháp

sau:

1.4.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình sáng kiến kinh

nghiệm. Trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm phương pháp này giúp tơi

tìm hiểu vấn đề của việc chuyền bóng cao tay trước mặt. Qua đó phân tích và

lựa chọn bài tập để có thể tổ chức tập luyện nhằm nâng cao khả năng chuyền

bóng cao tay trước mặt cho học sinh trong giờ học tự chọn bóng chuyền.

1.4.2. Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu

2



Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập các tư liệu sáng kiến kinh

nghiệm thông qua phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi các khách thể. Các lĩnh

vực mà sáng kiến kinh nghiệm quan tâm là:Tập làm sao để nâng cao khả năng

chuyền bóng cao tay trước mặt cho học sinh lớp 12B3 nói riêng và của học sinh

khối 12 các khóa nói chung, của Trường THPT Yên Định 2.

1.4.3. Phương pháp quan sát sư phạm

Tổ chức quan sát sư phạm ngay tại trường trong giờ học chính khố thông

qua phương pháp quan sát sư phạm để đánh giá hiệu quả hay chưa hiệu quả khi

thực hiện kĩ thuật chuyền bóng cao tay trước mặt của học sinh lớp 12B3 nói

riêng và của học sinh khối 12 các khóa nói chung, của Trường THPT Yên Định

2.Kết quả của phương pháp này được coi là những cơ sở thực tiễn để đề xuất,

lựa chọn, sáng kiến kinh nghiệm các biện pháp hợp lý và cần thiết.

1.4.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm

Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích thơng qua các test và các chỉ

tiêu để đánh giá thể chất của học sinh. Các chỉ tiêu sử dụng là do Bộ giáo dục và

đào tạo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 09 năm 2008, và

những tiêu chí đánh giá tính tự giác tích cực bao gồm 2 test.

1. Test: Tại chỗ chuyền bóng cao tay trước mặt.

2. Test: Chuyền bóng cao tay trước mặt ra 2 biên

1.5. Những điểm mới của sáng kiến

Trên cơ sở sáng kiến kinh nghiệm chỉ ra thực trạng chuyền bóng cao

tay trước mặt của học sinh lớp 12B3 nói riêng và của học sinh khối 12 các khóa

nói chung, của Trường THPT Yên Định 2, đề xuất một số bài tập nhằm nâng

cao khả năng chuyền bóng cao tay chính diện cho học sinh lớp 12B3 nói riêng

và của học sinh khối 12 các khóa nói chung, của Trường THPT Yên Định 2.

* Kế hoạch sáng kiến kinh nghiệm

Sáng kiến kinh nghiệm được tiến hành từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 5

năm 2019, sáng kiến kinh nghiệm được chia làm 2 giai đoạn:

* Giai đoạn 1: Từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018:

- Đọc tài liệu và tham khảo tài liệu.

- Xác định hướng sáng kiến kinh nghiệm và mục tiêu, nhiệm vụ của sáng

kiến kinh nghiệm

- Lựa chọn tên sáng kiến kinh nghiệm.

* Giai đoạn 2: Từ tháng 1/2019 đến tháng 5/2019:

- Từ tháng 1/2019 đến tháng 3/2019: Tổng hợp tài liệu có liên quan

- Từ tháng 3/2019 đến giữa tháng 5/2019:

+ Xây dựng Test

3



+ Đánh giá thực trạng thể lực chuyên môn đối với học sinh lớp 12B3

+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng.

- Xây dựng và lựa chọn các bài tập.

+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm của sáng kiến kinh nghiệm.

+ Đánh giá kết quả sau thực nghiệm của sáng kiến kinh nghiệm.

+ Hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm.

2.PHẦN NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1.Cơ sở lí luận của đề tài

2.1.1. Quan điểm của Đảng và Chính phủ về công tác TDTT

Các quan điểm của Đảng về phát triển TDTT là những định hướng cơ bản

để xác định vị trí và mối quan hệ của tồn bộ sự nghiệp TDTT đối với các lĩnh

vực kinh tế, văn hoá, xã hội... Các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VI, thứ VII và thứ VIII, IX và X của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản

và chủ trương lớn để chỉ đạo công tác TDTT trong sự nghiệp đổi mới.

Một là, Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng

của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khoẻ,

làm phong phú đời sống văn hố tinh thần của nhân dân, góp phần mở rộng

giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh và quốc

phòng của đất nước.

Hai là, Phát triển TDTT phải đảm bảo tính dân tộc, tính khoa học và

nhân dân

Ba là, Kết hợp phát triển phong trào TDTT quần chúng với xây dựng lực

lượng cho các trường chuyên nghiệp và cho các địa phương, nâng cao thành

tích các mơn thể thao, trong trường học là phương châm quan trọng đảm bảo

cho TDTT phát triển nhanh và đúng hướng.

Bốn là, Thực hiện xã hội hoá tổ chức, quản lý TDTT, kết hợp chặt chẽ sự

quản lý của nhà nước, của các tổ chức xã hội.

Năm là, Kết hợp phát triển TDTT trong nước với mở rộng các quan hệ

quốc tế về TDTT.

2.1.2. Quan điểm, Đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất

trường học

Trên cơ sở phát huy nội lực để phát triển TDTT cần tăng cường các mối

quan hệ quốc tế trên lĩnh vực TDTT để phát triển sự nghiệp TDTT

Vấn đề chăm lo cho con người về thể chất phải là trách nhiệm của toàn xã

hội và mọi ngành giáo dục, cụ thể là GDTC trong trường học.

4



Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1991) về công tác GDTC khẳng

định: “ Về công tác giáo dục thể chất cần coi trọng nâng cao chất lượng GDTC

trường học… và tổ chức hướng dẫn, động viên đông đảo nhân dân tham gia rèn

luyện thân thể hằng ngày”.

Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 tại

điều 41 quy định: “ Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT,

quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học … không ngừng mở rộng

hoạt động TDTT quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi

dưỡng tài năng thể thao.

Như vậy, quan điểm của các cấp ủy Đảng, các Sở, ban đoàn thể và các cơ

quan hữu quan, các trường học... Từ xưa đến nay đều có cơ sở dựa trên những

quan điểm được xây dựng từ trước đó của Đảng và Bác Hồ. Xuyên suốt trong

quá trình đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ thì nhân tố trung tâm, nhân tố

quan trọng, nhân tố quyết định bao giờ cũng là nhân tố con người. Trong đó

khơng tách rời giáo dục thể chất.

2.1.3.Khái niệm, nội dung, hình thức các bài tập thể dục thể thao

Bài tập thể dục thể thao là những hoạt động vận động chuyên biệt do con

người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với các quy luật Giáo

Dục Thể Chất. Người ta dùng chúng để giải quyết những nhiệm vụ Giáo Dục Thể

Chất. Đáp ứng những yêu cầu phát triển thể chất và tinh thần của con người.

Các hành động trong hoạt động Thể Dục Thể Thao được gọi là hành động

vận động. Các hành động vận động này là sự biểu hiện có mục đích, tính tích

cực vận động của con người nhằm giải quyết nhiệm vụ của một quá trình sư

phạm cụ thể, đó là các bài tập Thể Dục Thể Thao.

Bài tập Thể Dục Thể Thao rất đa dạng, phương pháp tập luyện và điều

kiện thực hiện không giống nhau và cũng nhằm giải quyết những nhiệm vụ khác

nhau. Chúng bao gồm các bài tập: đi, chạy, nhảy, ném, lăn… hợp thành các bài

tập riêng đối với từng môn thể thao. Tuy nhiên, giữa chúng có những đặc điểm

chung là khi tập luyện phải sử dụng một lượng vận động thích hợp, tiêu hao

năng lượng và đưa dến quá trình mệt mỏi  hồi phục  thúc đẩy sự phát triển

hình thái và chức năng cơ thể.

Như vậy nếu xét về phương diện nghỉ ngơi tích cực thì bài tập thể dục thể

thao là hoạt động vui chơi, giải trí nhưng nếu xét về quá trình sư phạm thì bài

tập thể dục thể thao là thuộc hoạt động dạy và học, hai hình thức này có thể

chuyển hóa cho nhau. Trong giai đoạn khác nhau, có thể có những hoạt động

chiếm ưu thế và hoạt động kia là thứ yếu và ngược lại.



5



Vì vậy, bài tập thể dục thể thao là phương tiện chuyên môn, cơ bản nhất,

chủ yếu nhất để giải quyết một cách độc lập nhiệm vụ của Giáo Dục Thể Chất

đó là:

+ Phát triển chức năng và nhân cách

+ Hoàn thiện hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, lao động và chiến đấu.

+ Hồn thiện thể chất, giữ gìn và nâng cao sức khỏe.

2.1.4.Phân loại bài tập thể dục thể thao.

- Căn cứ vào giới thiệu đã được hình thành theo lịch sử của hệ thống bài

tập thể dục thể thao thì bài tập thể dục thể thao được phân ra làm:

+ Bài tập thể dục thể thao.

+ Trò chơi

+ Du lịch

+ Thể thao

- Căn cứ vào đặc điểm hoạt động cơ bắp thì bài tập thể dục thể thao được

phân ra làm:

+ Các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ, sức mạnh bền, sức nhanh, sức

nhanh – mạnh, sức bền, sức bền tốc độ.

+ Các bài tập nhịp điệu

- Căn cứ vào nhiệm vụ giáo dưỡng thì bài tập thể dục thể thao được phân

ra làm :

+ Các bài tập cơ bản

+ Các bài tập hỗ trợ

+ Các bài tập giảng dạy

- Căn cứ vào dấu hiệu ưu tiên: được phân ra làm các bài tập phát triển

các nhóm cơ: tay, chân, ngực, hơng, lưng…

2.1.5. Nội dung của bài tập thể dục thể thao

Nội dung của bài tập thể dục thể thao là tổ hợp các động tác và những quá

trình cơ bản diễn ra trong cơ thể người tập dưới tác động của chính những bài

tập đó. Các q trình này rất đa dạng và phức tạp, chúng ta có thể xem xét chúng

theo các quan điểm : Tâm lý học, sinh lý học, sinh cơ và sinh hóa học.

- Về sinh lý học : nội dung của bài tập thể dục thể thao là những biến đổi

trong hoạt động chức năng của cơ thể khi thực hiện bài tập, làm cho cơ thể

chuyển sang một mức độ hoạt động hoặc cao hơn so với lúc yên tĩnh. Người ta

cũng tính tới những biến đổi trước và sau khi thực hiện bài tập tùy theo đặc điểm

bài tập, những thay đổi sinh lý có thể đạt mức khá hơn.

- Về mặt sư phạm: Xem xét tác dụng tổng hợp của các bài tập đối với

việc phát triển các năng lực vận động của cơ thể và sự hình thành các kỹ năng,

6



kỹ xảo vận động cũng như sự tác động đến hành vi và nhân cách người tập. Để

người tập có thể hiểu được các tác dụng của bài tập với việc thực hiện những

nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đã đặt ra.

- Về mặt tâm lý: Bài tập thể dục thể thao là các hành động tự ý và nhằm

đạt hiệu quả cụ thể tương ứng với nhiệm vụ cụ thể nhất định và đề đạt được mục

đích tập luyện thì người tập phải tư duy tích cực, xác định phương hướng hành

động, đánh giá điều khiển hành động và điều chỉnh chúng. Đồng thời thể hiện nỗ

lực ý chí. Như vậy về mặt tâm lý học thì nội dung các bài tập thể dục thể thao là

quá trình nhận thức.

2.1.6.Hình thức của bài tập thể thao

Hình thức của bài tập thể chất là cấu trúc hay tổ chức bên trong và bên

ngoài của nó. Hình thức bài tập phụ thuộc vào đặc điểm nội dung của nó.

Cấu trúc bên trong của bài tập thể hiện ở mối quan hệ và sự phối hợp tác

động lẫn nhau giữa các quá trình khác nhau của hoạt động chức năng của cơ thể

trong lúc thực hiện bài tập. Các quá trình phối hợp thần kinh – cơ, sự phối hợp

và tác động lẫn nhau giữa hoạt động của hệ vận động và hệ thực vật, cấu trúc

của q trình chuyển hóa năng lượng.

Cấu trúc bên ngồi của bài tập thể dục thể thao là hình dáng có thể nhìn

thấy của nó và thể hiện đặc trưng ở quan hệ giữa các thông số không gian, thời

gian, lực của các động tác thành bài tập.

2.1.7.Đặc điểm môn bóng chuyền

Bóng chuyền là mơn thể thao mang tính tập thể cao thi đấu đối kháng gián

tiếp qua lưới.Được tổ chức thi đấu trên sân có kích thước 9m x 9m ( mỗi bên

sân) và giữa hai sân đấu có lưới ngăn cách (chiều cao là 2m43 đối với nam và

2m24 đối với nữ).Vận động viên được sử dụng tất cả các bộ phận của cơ thể để

đánh bóng. Số lần chạm bóng ở mỗi đội khơng q 3 lần trừ trường hợp chắn

bóng.

Thể thức thi đấu bóng chuyền là 5 hiệp, đội nào thắng 3 hiệp là thắng

cuộc. Mỗi hiệp thắng được quy định 25 điểm trước, nếu 24 đều thì thi đấu cho

đến khi lệch 2 quả ( từ hiệp 1 cho đến hiệp 4). Hiệp quyết thắng ( hiệp 5) thi

đấu đến 15 điểm, nếu 14 đều thì thi đấu chênh lệch 2 quả.

Hoạt động bóng chuyền là hoạt động không chu kỳ. Trong thi đấu thường

xuyên có những tình huống khác nhau xảy ra và diễn biến liên tục. Vị trí thi đấu

của các đấu thủ trên sân luôn luôn thay đổi và sau mỗi lần giành quyền phát

bóng thì vị trí đấu thủ ln chuyển theo chiều kim đồng hồ. Do vậy đòi hỏi mỗi

cầu thủ bóng chuyền phải có thể lực tốt và trình độ kỹ thuật, chiến thuật tồn

diện.



7



Thi đấu bóng chuyền có tính đối kháng gián tiếp cao, thể hiện rõ và mãnh

liệt nhất ở khâu đập bóng và chắn bóng trên lưới. Nhưng ít va chạm xơ xát nhau

vì có lưới và đường giữa ngăn cách hai bên.

2.1.8.Khái niệm, phân loại, nguyên lý chuyền bóng cao tay trước mặt, đặc

điểm kĩ thuật chuyền bóng cao tay và những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả

của kĩ thuật chuyền bóng cao tay

2.1.8.a.Khái niệm

Khái niệm chuyền bóng cao tay trước mặt: Là một kỹ thuật mà người tập

chủ yếu sử dụng các ngón tay và chai tay để đưa bóng đến 1 vị trí nhất định hoặc

chuyền bóng cho đồng đội thực hiện đập bóng. Chuyền bóng bao gồm: Kỹ thuật

chuyền bóng cao bằng hai tay, một tay và một số biến dạng khác (như nhảy

chuyền, chuyền bóng ra sau đầu, chuyền bóng chiến thuật, v v,.)

2.1.8.b.Nguyên lý kỹ thuật chuyền bóng cơ bản

Chuyền bóng là kỹ thuật tấn cơng chủ yếu trong thi đấu bóng chuyền có

sự quyết định đến hiệu quả của trận đấu. Chuyền bóng bao gồm: Kỹ thuật

chuyền bóng cao bằng hai tay, một tay và một số biến dạng khác ( như nhảy

chuyền, chuyền bóng ra sau đầu, chuyền bóng chiến thuật, v v,.)

Kỹ thuật chuyền bóng cơ bản được chia làm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn chuẩn bị:

Người tập đứng ở tư thế trung bình cao, chân trước chân sau, trọng lượng

cơ thể dồn vào chân trước, hai tay co tự nhiên ở khớp khuỷu. Khi xác định được

điểm rơi của bóng người tập nhanh chóng thực hiện đạp đất di chuyển nhanh

đến vị trí dưới bóng, hai tay đưa lên cao trên trán đón bóng.

- Giai đoạn chuyền bóng:

Người tập thực hiện động tác tiếp xúc bóng. Hai bàn tay mở rộng hơi

xoay vào nhau và hướng ra trước lên trên, hai ngón tay cái hợp với nhau như

một đường thẳng, cùng với các ngón trỏ tạo thành hình tam giác. Các ngón tay

còn lại khum tự nhiên, hai bàn tay tạo thành hình túi chuẩn bị đón bóng.

+ Tầm tiếp xúc: Bóng cách trước trên trán khoảng một bóng là thích hợp

nhất.

+ Điểm tiếp xúc bóng: Là phần các chai tay và các mép ngồi của các

ngón tay. Ngón tay cái có nhiệm vụ đỡ bóng là chính, ngón tay trỏ và các ngón

giữa có tác dụng đẩy bóng đi một cách chính xác. Các ngón còn lại có chức

năng giữ thăng bằng và hỗ trợ lực, ổn định hướng chuyền bóng.

+ Phương hướng dùng lực: Đồng thời với tay tiếp xúc bóng là động tác

phối hợp của chân. Lúc này người tập duỗi mạnh khớp gối, nâng trọng tâm cơ



8



thể lên cao, hai tay vươn theo thực hiện duỗi khớp khuỷu, sau đó là cổ tay, bàn

tay và cuối cùng là các ngón tay bật mạnh và đẩy bóng đi.

Để tránh các trường hợp phạm lỗi kĩ thuật như dính bóng hoặc hai tiếng

khi chuyền, người tập cần thực hiện động tác hoãn xung hợp lí trong khi đỡ và

tiếp xúc bóng bằng cách hơi ngả bàn tay ra sau một chút sau đó mới thực hiện

phối hợp đẩy bóng đi.

Hai tay khi tiếp xúc bóng phải ngang đều nhau, tránh tay cao tay tháp

hoặc tiếp xúc bóng một cách đột ngột bằng các đầu ngón tay..

2.1.8.c.Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chuyền bóng

Kỹ thuật chuyên bóng là một kỹ thuật sử dụng các bộ phận một cách linh

hoạt, khéo léo nhất cụ thế là các ngón tay, cổ tay góp phần tạo sự chuyển động

chính xác, linh hoạt và biến hóa các đường bóng. Chuyền bóng cao tay trước

mặt là khâu nối tiếp giữa phòng thủ và tấn cơng. Đăc biệt với kỹ thuật đập bóng,

chuyền bóng cao tay là kĩ thuật tổ chức, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả tấn

cơng. Đòi hỏi cầu thủ phải thực hiện nhanh, chính xác, do đó để có được hiệu

quả cao thì cầu thủ phải có đủ các tố chất vì sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự

mềm dẻo khéo léo và có kỹ thuật chuyên môn tốt được tập luyện trong thời gian

dài. Như vậy có thể nói rằng chuyền bóng cao tay trước mặt chịu sự ảnh hưởng

của rất nhiều yếu tố khác nhau như:

+ Mức độ hoàn thiện kỹ thuật

+ Thể lực chuyên môn:

+ Tâm lý

2.1.8.d.Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 15 – 17

Ở lứa tuổi này các bộ phận cơ thể tiếp tục phát triển và hoàn thiện, cơ thể

đang phát triển cả về chiều cao lẫn chiều ngang. Chức năng sinh lý chưa ổn định

khả năng hoạt động các hệ cơ quan của cơ thể bắt đầu nâng cao hơn. Vì vậy giáo

viên, huấn luyện viên cần căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý để đưa ra những bài

tập sao cho đảm bảo tính hợp lý và tạo sự phát triển một cách toàn diện.

2.1.8.d.1Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 15-17

Học sinh có nhiều diễn biến tâm lý chưa ổn định. Đây là thời kỳ mà lứa

tuổi đang có những biến đổi về các chức năng tâm lý, là thời kỳ mà nhân cách

con người đang được định hình. Để quá trình GDTC đạt hiệu quả thì phải nắm

rõ tâm lý ở lứa tuổi này.

- Những điều kiện ảnh hưởng tới tâm lý của học sinh.

+ Điều kiện sinh học.

+ Điều kiện xã hội

- Sự hình thành thế giới quan

9



Tri thức và nhân cách đang định hình.

- Sự phát triển trí tuệ

- Trí nhớ

- Tư duy

- Đời sống tình cảm và giao tiếp

- Hứng thú

- Các phẩm chất ý chí

2.1.8.d.2Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 15 - 17

Sinh lý của từng lứa tuổi là căn cứ quan trọng để tiến hành trong quá trình

giảng dạy.

- Hệ vận động ( hệ cơ xương )

+ Hệ xương

+ Hệ cơ

- Hệ tuần hồn

- Hệ thần kinh

- Hệ hơ hấp

Là những đặc điểm cần lưu ý đến trong quá trình giảng dạy giáo dục thể

chất trong nhà trường cũng như đối tượng học sinh lớp 12 trương THPT Yên

Định 2 và học sinh lứa tuổi từ 15-17 nói chung

2.2 Đánh giá thực trạng chuyền bóng cao tay trước mặt của học sinh lớp 12

trường THPT Yên Định 2

Bóng chuyền là mơn thể thao mang tính tập thể, tính cộng đồng cao nên

đang được học sinh các trường THPT, chọn làm mơn thể thao tự chọn nói chung.

Trong đó có trường THPT n Định 2 nói riêng ưa thích và lựa chọn. Sự phát triển

của mơn bóng chuyền là nền tảng cho học sinh trong trường tham gia, phát triển thể

thao phong trào ở các địa phương, đặc biệt đây là mơn thể thao được tồn trường

lựa chọn làm mơn thể thao thi đấu trong giải thể thao truyền thống vào ngày thành

lập Đồn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của nhà trường. Chính vì vậy mơn

bóng chuyền được đơng đảo học sinh nhà trường quan tâm và tham gia tập luyện.

2.2.1. Thực trạng về cơ sở vật chất, điều kiện giảng dạy cho môn bóng

chuyền

Để phục vụ công tác giảng dạy bóng chuyền thì hiện nay trường THPT n

Định 2 chia làm hai khu vực sân đất sau núi và khu vực sân bê tông trước

trường. Tuy vậy điều kiện sân bãi đã xuống cấp, nhưng thầy và trò nhà

trường vẫn khắc phục những khó khăn để học tập và rèn luyện.

2.2.2.Hiệu quả chuyền bóng cao tay trước mặt của học sinh lớp 12B3 nói

10



riêng và của khối 12 nói chung.

Chuyền bóng cao tay trước mặt là một kỹ thuật cơ sở để phối hợp và

phát triển các kĩ thuật khác. Tạo khả năng thực hiện phối hợp hoạt động

chiến thuật khác nhau, tự tin hơn, chuẩn xác hơn.

Để đánh giá hiệu quả kỹ thuật chuyền bóng cao chính diện của học

sinh khối 12, sáng kiến kinh nghiệm tiến hành thống kê hiệu quả chuyền

bóng trong một lớp tiêu biểu là lớp 12B3 mà tôi trực tiếp giảng dạy

Kết quả được trình bày ở bảng sau:

Bảng 2.1: Kết quả thống kê mức độ sử dụng

và hiệu quả của kỹ thuật chuyền bóng

Số

lần

Hiệu suất

Số tiết Kỹ thuật chuyền bóng

Tỷ lệ %

Hiệu quả

thực hiện

%

Cao tay trước mặt

1550

40,3

258

16,7

16

Chuyền bóng thấp tay 1450

37,9

310

21,3

Các dạng khác

838

21,8

225

26,8



3838

100%

793

Qua thống kê tại bảng 2.1 cho thấy trong 15 tiết học Giáo Dục

Thể Chất trường THPT Yên Định 2 ở lớp 12B3 tôi thấy học sinh sử

dụng kỹ thuật chuyề n bó ng cao tay trướ c mặ t và chuyề n bóng thấ p

tay. Với số lần thực hiện là 1550 lần chuyề n bóng cao tay trướ c mặ t

chiế m tỷ lệ 40,3 % tổng số lần chuyề n bóng hiệ u quả là 258 đạt

hiệu suất là 16,7% và chuyề n bóng thấ p tay được thực hiện 1450 lần

chiếm tỷ lệ 37,9% tổng số lần chuyề n bóng hiệ u quả là 310 lầ n đạt

hiệ u suất 21,3%. Các dạng chuyề n khác với số lần thực hiện là 838

lần chuyề n bóng chiếm tỷ lệ 21,8% tổng số lần chuyề n bóng hiệ u

quả 225 điểm đạt hiệu suất là 26,8%.

Những kết quả thống kê ở bảng trên cùng với việc quan sát

thực tiễn trong quá trình giảng dạy và tập luyện. Thì kĩ thuậ t

chuyề n bó ng cao tay trướ c mặ t và chuyền bóng thấp tay của học

sinh là rất yếu.

Trong q trình theo dõi tơi thấy những điểm sai thường mắc

của học sinh.

Tiế p xú c bó ng xa ngườ i hoặ c thự c hiệ n chuyề n bó ng trong

trạ ng thá i di độ ng khơng có giai đoạ n dừ ng.

- Tiế p xú c bó ng quá cao hoặ c quá thấ p, hì nh tay rộ ng, ngó n

cá i xoay ra trướ c, khi chuyề n hay bị lọ t bó ng ( học sinh do sợ khi

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×