Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Có độ linh độ cao( tức là có khả lắng chảy tốt) để có thể nạp đều vào tiết

diện khn ép. Hạt của bột dạng cầu có khả năng chảy lý tưởng nhất, (tất các

hạt dạng thanh, hạt quá mịn, hạt bụi… chảykém).

- Có mật độ cao sau khi nạp vào khn ép, tức là có sự sắp xếp chặt bộ

trong khuôn, giảm thiểu những khoảng trống giữa các hạt liệu. Muốn vậy, bột ép

cần có tỉ lệ hợp lý giữa cỡ hạt lớn, hạt trung bình và hạt mịn tạo điều kiện lấp

đầy các khoảng trống giữa các hạt một cách tốt nhất .

Do trong sản xuất cần lựa chọn chế độ sấy phun, nhiệt độ sấy và tốc độ sấy

nhằm đạt được hiệu suất cao trong sản xuất. Xuất phát từ mục đích trên thì việc

thiết kế và lựa chọn hệ thống sấy phun là khá quan trọng đối với một nhà máy

sản xuất gạch granit.

Vì vậy, mục tiêu của đồ án là:

+Tính phối liệu và cân bằng vật chất nhà máy :

- Lựa chọn nguyên liệu, tính phối liệu.

- Tính cân bằng vật chất cho nhà máy.

+Thiết kế tháp sấy phun:

- Tính kích thước chính của tháp sấy phun.

- Lựa chọn thể xây tháp sấy phun.

- Tính tốn q trình cháy nhiên liệu.

- Tính cân bằng nhiệt tháp sấy phun.

+|Lựa chọn thiết bị phụ trợ cho tháp sấy phun

- Bơm pitton.

- Vòi phun.

- Quạt …



4



1.3. Sơ đồ dây chuyền sản xuất gạch granit và thuyết minh sơ đồ

 Sơ đồ dây chuyền sản xuất gạch granit

Nguyên liệu dẻo



Nguyên liệu gầy



Định lượng



Định lượng



Bể khuấy



Két chứa

Thủy tinh

lỏng



Sàng rung

Bể chứa

Nguyên liệu màu



Máy nghiền liên tục



Nghiền gián đoạn



Sàng rung



Két chứa



Bể chứa

Bể khuấy

Sấy phun



Bơm Piston



Nhiên liệu

Si lô chứa

Trộn



Sấy đứng

Tráng engobe



Tráng men



Máy Ép (1,2,3,4 )

Mài



Xe goòng



Phân loại, đóng hộp



Sấy Tuy nen



Nhập kho thành phẩm



Lò nung



Hình 1.1: Sơ đồ dây chuyền sản xuất gạch granit



 Thuyết minh sơ đồ

5



Nguyên liệu nhập về đưa vào kho. Tại dây chuyền dùng máy nghiền bi liên

tục thì các nguyên liệu dẻo (đất sét, cao lanh) và phụ gia được cân định lượng

rồi được hệ thống băng tải đưa nạp vào bể khuấy. Tại bể khuấy, công nhân vận

hành sẽ thêm nước, thủy tinh lỏng, novibon (chất phụ gia làm tăng cường độ

mộc) vào và cài đặt thời gian khuấy (khoảng 2h), nguyên liệu sẽ được khuấy

thành dạng hồ. Sau khi hết thời gian khuấy đã cài đặt, hồ được kiểm tra và xử lý

(nếu chưa đạt yêu cầu). Thông số của hồ (d = 1,640-1,670 g/ml; V<20s; W = 3538%; R0,063 = 1,0-1,15%). Hồ đạt yêu cầu được xả xuống bể chứa qua sàng rung.

Nguyên liệu gầy được vận hành xúc lật nạp vào các phễu chứa (mỗi phễu

chứa một loại nguyên liệu) theo đơn phối liệu và được định lượng thông qua một

băng cân, theo băng tải chúng được vận chuyển tới 1 phễu chứa tổng hợp. Khi

máy nghiền liên tục hoạt động hồ nguyên liệu dẻo được bơm từ bể chứa bằng

bơm màng vào máy nghiền, nguyên liệu gầy từ phễu chứa tổng hợp tiếp tục

được cân định lượng cộng với nước và thủy tinh lỏng được đưa vào máy thông

qua ngỗng trục. Ra khỏi máy nghiền liên tục, hồ được xả xuống bể chứa qua hệ

3 sàng rung song song. Một phần hồ được chuyển sang nghiền gián đoạn với

nguyên liệu màu, xuống các két chứa, rồi đưa vào bể khuấy để tạo sự đồng nhất

giữa hồ và nguyên liệu màu. Nhờ hệ thống bơm piston, hồ với màu đã đồng nhất

được chuyển sang sấy phun. Bột phối liệu ra khỏi máy sấy phun đạt: thành phần

hạt > 0,625 mm: 4-6%; W = 6,5-8% và được chứa trong các silo chứa.

Bột liệu từ si lô chứa xả xuống, nạp vào băng cân theo tỷ lệ của từng loại bột

và được băng tải đưa vào máy trộn, nhằm tạo sự phân bố đồng đều các hạt bột

mầu cho sản phẩm và được đưa vào máy nghiền bột để tạo vân và được xả

xuống phễu cấp liệu cho máy ép tạo hình.

+ Với sản phẩm tráng men: Sau khi tạo hình, gạch mộc được đưa vào sấy sơ

bộ trong các buồng sấy đứng (độ ẩm gạch mộc sau sấy còn từ 0,3-0,5%) và được

tráng men trong, tráng engobe chống dính dưới đáy của sản phẩm. Sau khi tráng

chống dính, gạch mộc được nạp vào xe goòng chờ và được đưa qua sấy tuynen

(dây chuyền ép 1,2,3) (để đảm bảo gạch mộc khi vào lò độ ẩm còn khoảng

0,2%) và dỡ tải nạp gạch mộc vào lò nung thanh lăn. Sau nung, gạch được đem

đi mài cạnh.

+ Với sản phẩm không tráng men: Với dây chuyền máy ép số 4 gạch mộc

sau khi tạo hình, được đưa vào sấy sơ bộ, tráng engobe chống dính rồi nạp vào

xe goòng đưa vào lò sấy tuy nen và được chuyển thẳng tới lò nung thanh lăn

6



(tonung = 1200-1220oC; t = 60-70 phút). Sau khi nung, gạch được đem mài cạnh,

mài bóng, thổi khơ, phủ lớp dầu chống bẩn.

Gạch sau khi mài được phân loại, đóng hộp và nhập kho thành phẩm.

1.4.Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của thiết bị sấy phun

10

4

3



9



2



5

1



C

8



7

6



B

A



Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống lò sấy phun

A-Hệ bơm; B-Hệ lọc; C-Hệ dẫn và vòi phun quanh tháp

1-Quạt cấp khơng khí



6-Van tháo liệu

7-Cyclon lắng

8-Quạt hút khí thải

9-Hệ lọc bụi

10-Ống khói



2-Hệ cấp nhiệt

3-Ống dẫn khí nóng

4-Ống dẫn khí vòng quanh tháp

5-Buồng hay tháp sấy



7



 Cấu tạo tháp sấy phun

Tháp sấy là bộ phận chính của thiết bị sấy phun. Đó là một tháp rỗng,

phần trên của tháp thường có hình trụ bên dưới hình nón cụt.

Tháp sấy được kết cấu từ nhiều lớp.

Do hoạt động trong môi trường nóng ẩm, lớp trong cùng của tháp sấy

phun được làm bằng thép khơng gỉ, sau đó được ốp một lớp bơng cách

nhiệt bên ngồi để hạn chế nhiệt bức xạ xung quanh nhằm giảm tổn thất

năng lượng đồng thời hạn chế nóng được trong mơi trường làm việc của

phân xưởng. Vỏ ngoài cùng của tháp được ốp bằng những lá thép không

gỉ hoặc lá nhôm mỏng nhằm bảo vệ lớp bông cách nhiệt cháy những sợi

bông lâu ngày đã hóa bị đứt gãy phát tán ra mơi trường có thể gây hại cho

sức khỏe con người. Một vỏ ngoài nhẵn bóng hạn chế bụi bám vào thành

tháp.

 Hệ thống cấp khơng khí nóng.

Khơng khí nóng được tạo ra ở buồng đốt ngay bên ngoài pháp sấy.

Nhiên liệu sử dụng ý tưởng nhất là khí đốt thiên nhiên hoặc khí hóa lỏng

(LPJ). Hệ thống đốt nhiên liệu ra này đơn giản và gọn nhẹ, điều khiển dễ

dàng hơn so với nhiên liệu lỏng (dầu) hoặc rắn ( than các loại).

Tuy nhiên, do khí thiên nhiên chưa thể cung cấp rộng rãi, còn LPG thì

giá q cao phần lớn các nhà sản xuất gạch men ốp lát nước ta thường sử

dụng buồng đốt dầu diesel.

Trước tình hình giá dầu tăng mạnh, một số nhà máy đã và đang cải

thiện hệ thống đốt chuyển sang sử dụng dầu nặng, thậm chí chuyển sang

sử dụng khí hóa than...

Do nhiệt độ khơng khí trong pháp sấy khơng q cao, ta hồn tồn có

thể tận dụng khí thải của lò nung con lăn bổ sung cho sấy phun nhằm

giảm chi phí nhiên liệu khi .

Khi vào Tháp sấy, khơng khí nóng với nhiệt độ khoảng từ 650-700 oC được hệ

thống cấp khí nóng đồng đều cho không gian bên trong tháp sấy.

 Hệ thống cấp hồ.

Sau khi nghiền và điều chỉnh giữ ổn định về nhiệt độ, tỉ trọng và độ

nhớt của bộ phận nghiền, hồ được chuyển về bể cấp liệu sấy phun. Từ

đây, hồ được bơm lên cấp cho tháp sấy qua một bộ lọc để loại bỏ những

tạp chất có thể lẫn trong hồ cũng như những cục liệu vì lý do nào đó

8



khơng tan... Có thể làm tắc béc phun hồ. Bộ lọc này thường được trang bị

một thiết bị làm sạch tự động để loại trừ khả năng bộ lọc bị tắc có thể gây

gián đoạn hoạt động của máy sấy phun.

Bơm sử dụng ở đây là bơm pittong áp lực cao 18-25 Bar.

Do làm việc liên tục ở áp lực cao, xi lanh và pittôn thường được

chế tạo bằng gốm corund có độ cứng cao 9 mohs độ mài mòn nhỏ đảm

bảo cho sự hoạt động ở cường độ cao và liên tục của bơm.

Trong tháp sấy hồ được dẫn vào hệ thống phun bố trí hoặc xung

quanh chu vi tháp hoặc thành cụm ở giữa tháp việc bố trí phun xung

quanh tháp nơi có sàn thao tác ở bên ngoài sẽ thuận lợi hơn khi cần xử lý

hoặc thay thế các béc phun.

Mặc dù đã được nghiền mịn, nhưng do phun bởi áp lực cao các lỗ

của pec phun cũng bị bào mòn lỗ phun làm kích thước lỗ phun rộng ra

dẫn đến thay đổi các thông số hoạt động của máy và cuối cùng làm thay

đổi kích thước bột ép. Vì thế ta cần thường xuyên kiểm tra pec phun hồ và

thay thế nếu lỗ phun đã mòn vượt q giới hạn cho phép.

Cũng vì nơi lý do trên, bec phun thường được chế tạo từ hợp kim hoặc vật liệu

cứng có độ mài mòn nhỏ.

 Hệ thống thu hồi và xử lý khí thải.

Khơng khí nóng sau khi truyền nhiệt cho hồ liệu trở nên nguội đi và

chứa nhiều hơi nước làm trọng lượng tăng lên, nó được hút ra ngồi ở

phần cơn phía dưới tháp. Trong khí thải này, ngồi các sản phẩm cháy của

nhiên liệu và hơi nước, nó còn mang theo một lượng đáng kể các hạt liệu

mịn và bụi, vì thế ta khơng thể đẩy ngay ra ngồi mơi trường .

Đầu tiên, khí thải được xử lý bằng cyclone khí để tách và thu hồi các

hạt liệu mịn, sau đó được lọc một phần lần nữa bằng máy lọc bụi để loại

lại bỏ bụi trước khi đưa vào ống khói.

Cái phần hạt liệu bị thu hồi từ cyclone được dẫn tới cửa ra liệu của tháp

sấy và rải lên lớp bột thành phẩm trên băng tải. Trong trường hợp không

dùng ngay được vì lý do nào đó. Bột thu hồ này được xả xuống bể chứa

hồ sấy phun để dùng lại.

Hệ thống lọc bụi khơng khí cuối cùng thường là thiết bị lọc màng nước

và nước thải ra có lẫn khối lượng phối liệu rất mịn trong đó cũng được thu

hồi để tận dụng lại.

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×