Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sơ đồ thực hiện Qui trình truyên truyền và hỗ trợ theo qui trình như sau:



Hình 1. Sơ đồ thực hiện Qui trình TTHT người nộp thuế

5.2.2. Phương pháp triển khai

5.2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu

- Số liệu thứ cấp: Báo cáo công tác thu NSNN từ 2012-2016; Báo cáo công tác

tuyên truyền và hỗ trợ của Cục Thuế tỉnh Bến Tre, … các số liệu này sẽ được thu thập

tại cơ quan Cục Thuế tỉnh Bến Tre. Ngoài ra còn thu thập thêm các số liệu liên quan từ

các Sở, ban ngành địa phương, trung ương, và các tài liệu trên mạng internet...

- Số liệu sơ cấp:

+ Đối tượng điều tra: theo 2 nhóm:

(i) Nhóm thứ nhất là cán bộ thuế: bao gồm đang thực hiện hoặc không đang thực

hiện công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế tại Cục Thuế và các Chi cục Thuế.

Nội dung điều tra liên quan đến đánh giá công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp

thuế trong thời gian qua; những khó khăn đối với cơng tác tun truyền và hỗ trợ

người nộp thuế trong thời gian qua, đánh giá những đề xuất bổ sung những nội dung

vào qui trình TTHT người nộp thuế

4



(ii) Nhóm thứ hai là người nộp thuế: là đại diện người tổ chức, đơn vị kinh doanh

có tham gia thực hiện cơng tác kế tốn - thuế tại đơn vị thuộc Cục Thuế tỉnh Bến Tre

quản lý. Nội dung điều tra liên quan đến đánh giá công tác tuyên truyền và hỗ trợ

người nộp thuế của Cục Thuế trong thời gian qua; những kênh thông tin mà người nộp

thuế thường hay tiếp cập với chính sách thuế, lợi ích mà cơng tác tun truyền và hỗ

trợ người nộp thuế mang lại cho người nộp thuế, đánh giá những giải pháp nhằm hồn

thiện cơng tác TTHT người nộp thuế

+ Cỡ mẫu:

(i) Nhóm thứ nhất là cán bộ thuế: Tổng số cán bộ thuế thuộc nhóm này là 105

người. Cỡ mẫu ở nhóm này là 54 người. Chi tiết lựa chọn đối tượng cần khảo sát và cỡ

mẫu được mô tả bằng Bảng 1 như sau:

Bảng 1. Cỡ mẫu đối tượng cần khảo sát - nhóm cán bộ thuế

Đối tượng cần khảo sát

1. Cục Thuế

1.1 Ban lãnh đạo

1.2 Trưởng/phó phòng

1.3 Cán bộ TTHT NNT

2. Các Chi cục Thuế

2.1 Ban lãnh đạo Chi cục

Thuế

2.2 Đội trưởng/ Đội phó

đội TTHT NNT

2.3 Cán bộ TTHT NNT

tại Chi cục Thuế

Tổng



Số

luợng

thực tế



Số luợng

khảo sát



2

36

7



Ghi chú



2 Chọn tất cả

18 Chọn 02 lãnh đạo phòng/ 9 phòng

7 Chọn tất cả



27



9 Chọn 01 lãnh đạo/chi cục thuế



18



9 Đội trưởng hoặc đội phó



18



9 Chọn 01 cán bộ/chi cục thuế



105



54



(ii) Nhóm thứ hai là người nộp thuế: Tổng số người nộp thuế thuộc Cục Thuế

tỉnh Bến Tre đang quản lý là 658 đơn vị. Do số lượng người nộp thuế nhiều, tác giả lựa

chọn khoảng 50% số người nộp thuế để đưa vào tính tốn ra cỡ mẫu nghiên cứu. Sử

dụng công thức Sloven’s n= N / (1 + Ne 2) để xác định kích thước mẫu cần khảo sát

với N=658/2=329, e là sai số cho phép (tác giả chọn 5%), ta được cỡ mẫu cần thiết của

nhóm người nộp thuế là n=180. Như vậy tác giả chọn khảo sát 180 người nộp thuế.



5



+ Phương pháp chọn mẫu:

(i) Nhóm thứ nhất là cán bộ thuế: phương pháp chọn mẫu thuận tiện.

(ii) Nhóm thứ hai là người nộp thuế: phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên người

nộp thuế tham dự Hội nghị tập huấn hoặc có liên hệ với bộ phận một cửa và bộ phận

TTHT người nộp thuế.

+ Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp

với bảng câu hỏi khảo sát đối với 2 nhóm đối tượng khảo sát. Nội dung khảo sát liên

quan đến công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế.

5.2.2.2. Phương pháp phân tích thống kê mơ tả

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phương pháp phân tích số liệu

từ kết quả điều tra thu thập số liệu để đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền và hỗ

trợ người nộp thuế.

5.3. Phương pháp nghiên cứu cho mục tiêu cụ thể 3

5.3.1. Khung lý thuyết

Qui trình Tuyên truyền và Hỗ trợ người nộp thuế của Tổng cục Thuế và các qui

định liên quan đến công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế.

5.3.2. Phương pháp triển khai

Tổng hợp, phân tích các kết quả từ việc thực hiện 2 mục tiêu cụ thể nói trên để đề

xuất các giải pháp nhằm hồn thiện công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế tại

Cục Thuế tỉnh Bến Tre trong thời gian tới.



6



PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ

1.1.1. Khái niệm về thuế

Tổng cục Thuế (2012), Giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ cho cơng chức mới, đã

dẫn các khái niệm về thuế như sau:

- "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận

được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng

hóavà dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản".

- Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện dựa trên cơ sở đối giá như

sau: "thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng

hố, dịch vụ) của các cơng ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi

đó họ khơng nhận được trực tiếp hàng hố, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó khơng phải

là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật".

Nhìn chung có nhiều khái niệm về thuế của các nhà kinh tế học theo nhiều quan

điểm với nhiều góc độ khác nhau được nghiên cứu nhưng hiện nay một định nghĩa về

thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế

kinh tế thị trường như sau: “Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và

pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; khơng

mang tính chất đối khoản, khơng hồn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để

trang trải cho các nhu cầu chi tiêu cơng cộng”.

1.1.2. Đặc điểm của thuế

Thuế có những đặc điểm cơ bản nhu sau:

1.1.2.1. Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền

Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc, thuế là

một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật

đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi

thị trường. Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của

thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác.



7



1.1.2.2. Luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước

Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của

công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia. Việc ban

hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan

duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao. Mặt

khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu

thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác

định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành. Hiến

pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và

quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế.

1.1.2.3. Luôn gắn liền với thu nhập

Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. Nhà nước thực hiện thu thuế

thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết

quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc

cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào

khác cho người nộp thuế. Thuế, cho dù dưới bất kỳ hình thức nào đều buộc người trả

thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh tốn cho Nhà nước mà khơng cần

biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa.

1.1.2.4. Khơng hồn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu cơng

Tính chất khơng hồn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, Sự chuyển giao thu nhập thơng qua thuế khơng mang tính chất đối giá.

Về mặt pháp lý, thuế không là giá cả của dịch vụ cung cấp. Vì vậy, người nộp thuế

khơng thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà nước sử

dụng tiền thuế khơng có hiệu quả. Họ cũng khơng thể đòi hỏi số tiền thuế do họ nộp

phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác. Mặt khác, họ cũng không thể

từ chối nộp thuế với lý do số thuế thu được tài trợ cho các khoản chi tiêu trái với

những nguyên tắc của nó.

Thứ hai, Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực

tiếp cho người nộp thuế. nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao

cho Nhà nước khơng hồn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những

dịch vụ và hàng hố cơng cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế khơng có

quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hố, dịch vụ cơng cộng trực tiếp cho mình mới

8



nộp thuế cho Nhà nước. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ

công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp

thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho

Nhà nước. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí

và giá cả.

1.1.3. Vai trò của thuế

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của

Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với q trình

phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

1.1.3.1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước

Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành

nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là ngân

sách Nhà nước. Ngân sách Nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau,

nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng. Trong tất cả các nguồn,

thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu ngân sách Nhà

nước.

1.1.3.2. Thuế là cơng cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch

lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính vì vây,

Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội.

Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào q trình

này.

Việc điều hồ thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thơng

qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt. Loại thuế này có đối

tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền. Các hàng

hoá, dịch vụ này thơng thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới

có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ.

Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế

suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo

công bằng xã hội.



9



1.1.3.3. Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm sốt hoạt động SXKD

Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong

thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế

đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm

vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh

doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và

các phương thức hạch tốn riêng có. Từ cơng tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát

hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ.

Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức

quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này. Như vậy, qua

cơng tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm sốt tồn diện các mặt hoạt

động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của

đời sống kinh tế - xã hội.

1.1.3.4. Thuế góp phần thức đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển

Thuế trong cơ chế thị trường khơng chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của

ngân sách Nhà nước, mà còn là một cơng cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh

doanh phát triển. Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực

hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và

cung ứng những lợi ích cơng cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động

sản xuất, kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất

nước, mà Nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động

kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển

nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn.

1.2. TUYÊN TRUYỀN, HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ

1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết của tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế

Phạm Xuân Tun (2016), Giáo trình bồi dưỡng cán bộ Tài chính - Chuyên đề

18 [16], khái niệm như sau:

Tuyên truyền pháp luật về thuế được hiểu đó lá hoạt động nhằm phổ biến, truyền

bá những tư tưởng, quan điểm, nội dung cơ bản về chính sách thuế, quản lý thuế đến

người nộp thuế và cộng đồng dân cư nhằm nâng cao nhận thúc chung của xã hội về

pháp luật thuế và nâng cao ý thức tự giác tuân thủ pháp luật thuế cũng như hiệu quả

hoạt động quản lý thu thuế của Nhà nước.

10



Hỗ trợ người nộp thuế là công tác hướng dẫn cụ thể các Luật thuế, cung cấp và

giải đáp vướng mắc về thủ tục và nội dung các sắc thuế cho người nộp thuế để họ tuân

thủ và thực hiện tốt các chính sách thuế qua từng thời kỳ.

Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng hệ thống pháp luật. Pháp luật về

thuế là một bộ phận của hệ thống pháp luật Nhà nước mà mọi người dân nói chung và

NNT nói riêng phải chấp hành. Đồng thời, trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước,

cơ quan thuế đại diện cho Nhà nước trong việc quản lý và thực thi pháp luật về thuế.

Vì vậy, cơ quan thuế phải tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật về thuế cho NNT

và toàn dân để mọi công dân và NNT hiểu biết về thuế, pháp luật thuế, về nghĩa vụ và

quyền lợi của NNT, từ đó thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những hành vi trốn thuế, gian

lận thuế ngày càng diễn ra phức tạp, phạm vi rộng khắp, quy mô lớn với những thủ

đoạn tinh vi (Phạm Thị Thanh, 2017)[13]. Mặt khác, số lượng NNT ra đời ngày càng

nhiều với quy mô lớn hơn và mức độ sai phạm nghiêm trọng hơn, tinh vi hơn. Vì vậy,

cần thiết phải đẩy mạnh công tác TTHT NNT nhằm làm cho các tổ chức, mọi cá nhân

và toàn xã hội kịp thời nắm bắt các quy định về thuế, hiểu ra được bản chất tốt đẹp và

ý nghĩa quan trọng của việc nộp thuế, mọi hành vi trốn thuế, tránh thuế, gian lận thuế

không chỉ là hành vi vi phạm pháp uật mà còn là hành vi vi phạm đạo đức cơng dân,

dư luận xã hội cần phải lên án, không khoan nhượng. Từ đó, góp phần xây dựng ý thức

tự giác chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về pháp luật thuế trong toàn xã hội.

Đứng trước những yêu cầu trên, rõ ràng ngành Thuế cần phải đẩy mạnh công tác

tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế cho toàn dân, triển khai mạnh mẽ công tác hỗ

trợ, phục vụ các tổ chức và cá nhân nộp thuế, đưa công tác TTHT NNT thành một

trong những khâu trọng tâm của ngành trong cơng tác quản lý thu thuế.

1.2.2. Mục đích, vai trò của cơng tác tun truyền, hỗ trợ NNT

1.2.2.1. Mục đích

- Tuyên truyền làm cho NNT và mọi người dân hiểu được bản chất của thuế, mục

đích sử dụng tiền thuế và lợi ích mà mỗi người dân được hưởng và lợi ích chung của

tồn xã hội. Từ đó, NNT và mỗi người dân nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ

trong việc đóng thuế cho Nhà nước, tự nguyện chấp hành pháp luật thuế; đồng thời,

phối hợp, hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế trong việc tuyên truyền, phổ biến về pháp

luật thuế.

11



- Cung cấp, hướng dẫn cho NNT các thơng tin, hiểu biết về nội dung các chính

sách thuế, các quy trình nghiệp vụ, các thủ tục về thuế… làm cho NNT hiểu rõ và có

cơ sở chấp hành các nghĩa vụ về thuế một cách chính xác, đầy đủ.

- Mang lại lợi ích kinh tế cho cả NNT và cơ quan thuế hay đó chính là lợi ích của

tồn xã hội. Trên cơ sở các thơng tin và dịch vụ hỗ trợ do cơ quan thuế cung cấp NNT

tiết kiệm được chi phí, thời gian, cơng sức dành cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và chấp

hành pháp luật thuế, từ đó giảm dần những sai phạm khơng cố ý trong quá trình thực

hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, tăng sự tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế.

- Thực hiện tốt cơng tác TTHT còn tạo lập mối quan hệ bình đẳng, thân thiện

giữa cơ quan quản lý thuế và NNT theo hướng NNT là người được phục vụ, là khách

hàng của cơ quan thuế và cơ quan thuế là người phục vụ đáng tin cậy nhất của NNT.

Đây sẽ là sự thay đổi căn bản trong quan điểm của cơ quan thuế cũng như của các cán

bộ thuế và của NNT, từ đó làm cho mối quan hệ giữa hai chủ thể này thay đổi theo

chiều hướng tích cực.

1.2.2.2. Vai trò của cơng tác tun truyền, hỗ trợ NNT

Công tác tuyên tuyền, hỗ trợ NNT là một nội dung quan trọng trong việc tổ chức

hoạt động của cơ quan thuế. Nó khơng chỉ tác động đến việc tổ chức quản lý nội bộ

của cơ quan thuế mà còn tác động đến cả lợi ích của NNT và cả cộng đồng.

a. Tác động của công tác TTHT đối với NNT và cộng đồng

Thứ nhất, trong việc cung cấp các dịch vụ TTHT cơ quan thuế đóng vai trò là

người cung cấp, truyền bá thơng tin về chính sách thuế, pháp luật thuế của Nhà nước

đến với mọi người dân. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các phương

tiện liên lạc cá nhân, cơ quan thuế cần phải truyền tải được những thông tin cần thiết

đến đúng đối tượng pháp luật thuế điều chỉnh. Lúc này, cơ quan thuế đóng vai trò như

một cầu nối, một kênh cung cấp thông tin phổ biến pháp luật của Nhà nước đến với

mọi người dân.

Thứ hai, công tác TTHT góp phần giúp cho NNT đơn giản hơn trong việc thực

hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Nhờ việc triển khai ứng dụng các thành quả phát triển của

công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan thuế, NNT có thể thực hiện các hoạt

động đăng ký, kê khai, nộp thuế,… mà không cần trực tiếp đến cơ quan thuế. Nhờ việc

triển khai ứng dụng này, NNT có thể giảm đáng kể chi phí đi lại cũng như sự phiền hà

trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế.

12



Thứ ba, với các dịch vụ tư vấn cho NNT, cơ quan thuế đã kịp thời giải quyết các

vấn đề khó khăn, vướng mắc của NNT, giúp họ hiểu các quy định về thuế đối với

trường hợp của mình, từ đó có các định hướng, chiến lược kinh doanh cho phù hợp.

Thứ tư, công tác TTHT trong cơ quan thuế bảo vệ quyền lợi chính đáng của

NNT. Trước hết, cơ quan thuế cần nâng cao hiểu biết của người dân và các tổ chức, cá

nhân nộp thuế về quyền lợi và nghĩa vụ của mình thơng qua các hoạt động tun

truyền qua báo chí, tờ rơi, sách hướng dẫn… Khi NNT khơng hài lòng với các quyết

định của cơ quan thuế, họ có thể gửi khiếu nại đến cơ quan thuế và bộ phận Bảo vệ

quyền lợi cho NNT có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của NNT một

cách khách quan và cơng bằng.

Thứ năm, cơng tác TTHT góp phần ngăn ngừa rủi ro cho NNT. Thông qua việc

công bố công khai các thông tin cảnh cáo về các trường hợp NNT đã bỏ trốn khỏi địa

điểm kinh doanh; các doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; các hoá đơn, chứng từ khơng

còn giá trị sử dụng… cơ quan thuế đã giúp các tổ chức, cá nhân kinh doanh tránh được

những rủi ro khi gặp phải các đối tượng lừa đảo, kinh doanh không trung thực.

Thứ sáu, việc thực hiện tốt cơng tác TTHT góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp

luật thuế nói riêng và nâng cao trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật nói chung của cả

cộng đồng. Cơng tác TTHT khơng chỉ đóng vai trò cung cấp thơng tin về chính sách, pháp

luật thuế mà còn đóng vai trò tun truyền về bản chất tốt đẹp của tiền thuế, giáo dục

cộng đồng về ý thức trách nhiệm đối với Ngân sách Nhà nước. Qua đó thúc đẩy cộng

đồng lên án, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật thuế, đảm bảo sự công bằng cho mọi

NNT.

b. Tác động của công tác TTHT đối với cơ quan thuế

Một là, công tác TTHT trong cơ quan thuế góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động

quản lý thuế của tồn ngành Thuế. Để có thể thực hiện tốt công tác TTHT đáp ứng yêu

cầu của NNT, đòi hỏi tất cả các khâu, các bộ phận trong cơ quan thuế phải thống nhất,

đồng bộ. Bộ phận pháp chế – chính sách cần xây dựng được những chính sách, quy

định, thủ tục về thuế rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu, dễ áp dụng. Bộ phận thanh tra,

cưỡng chế thu nợ cần có các biện pháp, kế hoạch hiệu quả trong việc kiểm tra, truy

thu, xử lý các trường hợp dây dưa, nợ đọng tiền thuế, trốn thuế. Bộ phận xử lý thông

tin cần xây dựng được hệ thống các cơ sở dữ liệu đồng bộ, tập trung, hiện đại, đảm bảo

cung cấp thơng tin chính xác, kịp thời.

13



Hai là, thực hiện tốt cơng tác TTHT góp phần cải thiện hình ảnh của cơ quan

thuế. Nếu cơ quan thuế khi đặt nhiệm vụ chỉ tập trung vào số thu với các chức năng

quản lý, cưỡng chế thu nợ, kiểm tra, thanh tra để tận thu tiền thuế thì khoảng cách giữa

cơ quan thuế và NNT ngày càng nới rộng. Khi đó, hình ảnh về cơ quan thuế chỉ còn

được biết đến như là một kẻ có quyền, thậm chí lộng quyền trong con mắt của NNT.

Tuy nhiên, việc chủ động cung cấp các dịch vụ TTHT cho NNT, cơ quan thuế sẽ đóng

vai trò là người bạn đồng hành, người trợ giúp cho NNT hiểu về bản chất tốt đẹp của

tiền thuế, hiểu về chính sách thuế và biết làm thế nào để thực hiện nghĩa vụ Nhà nước.

Qua đó, nâng cao vai trò, vị thế và cải thiện hình ảnh của cơ quan thuế trong con mắt

NNT và cả cộng đồng.

Ba là, công tác TTHT NNT là một trong những phương pháp, công cụ quan trọng

nhất để đạt tới mục đích là sự tuân thủ tự nguyện cao nhất của NNT. Một trong các biện

pháp quản lý thuế hiện đại là căn cứ theo mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của

NNT để đánh giá, phân chia NNT ra 4 nhóm sau: (1) Nhóm NNT có ý thức tự giác tuân

thủ, (2) nhóm NNT có ý thức tuân thủ nhưng chưa thực hiện đầy đủ các quy định, (3)

nhóm NNT chưa có ý thức tuân thủ pháp luật thuế, (4) nhóm NNT cố tình khơng tn

thủ. Cơng tác TTHT góp phần đều chỉnh, nâng cao số lượng nhóm người nộp thuế (1)

và (2), kéo giảm số người nộp thuế thuộc nhóm (3) và (4).

1.2.3. Các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT

Trên thế giới hiện nay hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ NNT được thực hiện dưới

nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Tuỳ theo phương thức tiếp cận với NNT có thể

phân chia cơng tác TTHT trong cơ quan thuế thành 2 hình thức, đó là: hình thức TTHT

gián tiếp và hình thức TTHT trực tiếp.

1.2.3.1. Các hình thức TTHT gián tiếp

- Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát

thanh, truyền hình, báo, tạp chí, các gameshow với chủ đề về thuế,… để đưa hình ảnh

của cơ quan thuế tiếp xúc rộng rãi với công chúng. Nhiều quốc gia quảng bá các hình

ảnh, khẩu hiệu truyên truyền trên các pano, áp phích được đặt ở các khu trung tâm,

đường giao thông lớn. Phát hành rộng rãi các ấn phẩm tuyên truyền, các tài liệu, sách

hướng dẫn về thuế cũng là một trong những hình thức tuyên truyền được áp dụng rộng

rãi. Thông thường các ấn phẩm tuyên truyền này được biên soạn và in ấn dưới dạng tờ

rơi quảng cáo với những nội dung đơn giản, gần gũi với NNT.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×