Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BẾN TRE

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BẾN TRE

Tải bản đầy đủ - 0trang

quản lý thuế đảm bảo tính liên kết, tự động hóa cao, gắn chặt với q trình cải cách thủ

tục hành chính thuế và áp dụng thuế điện tử.

- Hồn thiện tiêu chí và áp dụng phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của

ngành phù hợp với thông lệ quốc tế.

3.1.1.3. Mục tiêu công tác TTHT trong thời gian tới

- Hoạt động tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế đa dạng về hình thức, phong phú

về nội dung đáp ứng nhu cầu theo từng nhóm người nộp thuế và phù hợp với chuẩn

mực quốc tế.

- Các dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế thực hiện thủ tục hành chính thuế chủ yếu

bằng hình thức điện tử trực tuyến, tập trung thống nhất; tự động hóa trong việc cung

cấp thơng tin tra cứu hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế thường xuyên

24/24 giờ.

- Khuyến khích, hỗ trợ phát triển các tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về

thuế.

3.1.2. Những tồn tại hạn chế trong Qui trình TTHT NNT

Qui trình TTHT NNT là cơ sở pháp lý để hướng dẫn ngành thuế các cấp thực

hiện. Qui trình đã qua nhiều lần bổ sung và thay thế theo hướng hoàn thiện dần nhưng

hiện nay trên cơ sở đánh giá thực trạng ở chương 2 vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất

định như: khơng có bộ tiêu chí đánh giá chất lượng, một vài nội dung, hình thức tuyên

truyền mới chưa được bổ sung kịp thời so với xu thế hiện nay, chưa có sự thay đổi

mang tính đột phá,… Vì vậy cần có giải pháp nhằm hồn thiện hơn Qui trình TTHT

NNT đáp ứng được như cầu trong thời gian tới.

3.1.3. Những tồn tại hạn chế trong công tác tổ chức thực hiện

Từ kết quả nghiên cứu thực trạng và kết quả điều tra khảo sát tại chương 2 cho

thấy việc triển khai thực hiện công tác TTHT NNT tại Cục Thuế tỉnh Bến Tre vẫn còn

tồn tại những hạn chế nhất định do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan khác

nhau. Một số nội dung thực hiện còn dàn trải, theo lối mòn, chưa đi vào trọng tâm,

chưa thực sự nâng tầm, nâng chất,… Do đó cần có những giải pháp thật sự phù hợp và

mang tính đột phá nhằm khắc phục tồn tại hạn chế và nâng cao chất lượng công tác

TTHT NNT trong thời gian tới.



74



3.2. NỘI DUNG CÁC GIẢI PHÁP

3.2.1. Giải pháp hồn thiện Qui trình TTHT NNT

Thứ nhất, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng cơng tác TTHT tại các

Cục Thuế, Chi cục Thuế.

Đây là nội dung tồn tại khá lâu vẫn chưa được giải quyết. Để xây dựng bộ tiêu

chí đánh giá chất lượng cơng tác TTHT người nộp thuế, ngành thuế cần tổng hợp số

liệu toàn quốc, phân tích, so sánh các đơn vị với nhau xét theo nhiều yếu tố như: số thu

NSNN, số doanh nghiệp, số lượng người nộp thuế quản lý trên địa bàn,… để xây dựng

các tiêu chí đánh giá.

Qui định chỉ tiêu các nội dung phải triển khai, số lượng phải triển khai tương ứng

với những mức đánh giá chất lượng như sau:

- Qui định số lần tổ chức Hội nghị đối thoại, tập huấn, tuyên dương trong năm: 4

lần (hàng quí), 2 lần (mỗi 6 tháng), 1 lần (mỗi năm),…

- Qui định số lần tổ chức Sự kiện, họp chuyên đề, điều tra khảo sát nhu cầu của

người nộp thuế, kiểm tra công tác TTHT người nộp thuế.

- Tỉ lệ hài lòng của người nộp thuế đối với cơng tác TTHT của ngành thuế.

Thứ hai, bổ sung chương trình, kế hoạch tuyên truyền chính sách qua hệ

thống giáo dục.

Tuyên truyền chính sách thuế qua hệ thống giáo dục là nội dung rất quan trọng và

cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Học sinh, những người chủ doanh nghiệp, kế toán,

người nộp thuế tương lai của đất nước cần được giáo dục bản chất vai trò của thuế,

trách nhiệm và nghĩa vụ của người nộp thuế từ đó sẽ có ý thức chấp hành pháp luật về

thuế ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Nội dung này, ngành thuế cần nghiên

cứu xây dựng phát triển thành một Đề án trình Bộ Tài chính tham mưu Chính Phủ chỉ

đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp ngành thuế triển khai thực hiện.

Thứ ba, xây dựng ứng dụng quản lý công tác TTHT người nộp thuế của cơ

quan thuế các cấp.

Hiện nay, các bộ phận chức năng khác của ngành thuế như thanh tra thuế, kiểm

tra thuế, kê khai kế tốn thuế, quản lý nợ thuế,… đều có các ứng dụng hỗ trợ các bộ

thuế thực hiện trong khi đó bộ phận TTHT chưa có ứng dụng riêng. Ngành thuế cần

xây dựng ứng dụng quản lý công tác TTHT người nộp thuế nhằm thống kê, báo cáo và

đánh giá kết quả thực hiện công tác TTHT người nộp thuế các cấp. Ứng dụng được

75



xây dựng với các chức năng như thống kê, theo dõi số lượng cuộc gọi vướng mắc về

thuế, số lượt trả lời trực tiếp người nộp thuế (máy đếm lượt), kèm theo đó là đánh giá

của người nộp thuế về nội dung phục vụ của cơ quan thuế. Với ứng dụng quản lý công

tác TTHT người nộp thuế, cơ quan thuế các cấp có thể thống kê số liệu một cách thống

nhất, cơ quan thuế cấp trên có thể tra cứu kết quả thực hiện trên ứng dụng này. Hạn

chế theo dõi thủ công, báo cáo cáo giấy tờ, tiết kiệm thời gian, nhân lực của ngành

thuế. Tập trung tối đa cho công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ TTHT người nộp

thuế.

Thứ tư, xây dựng tài liệu, cẩm nang phục vụ cán bộ thực hiện công tác TTHT

người nộp thuế.

Cẩm nang này bao gồm các nội dung như: Kiến thức chung về thuế; những nội

dung cơ bản của các chính sách thuế, phí, lệ phí; thủ tục thuế; vướng mắc chung về

thuế;… Cẩm nang TTHT sẽ góp phần bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực của cán

bộ TTHT người nộp thuế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Thứ năm, xây dựng tổng đài tự động hỗ trợ vướng mắc về thuế cho NNT

Cần nghiên cứu xây dựng tổng đài hỗ trợ trực tuyến tập trung thông qua việc thiết

lập một hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật đầy đủ để giải đáp các yêu cầu hỗ trợ của NNT

một cách tự động đối với những yêu cầu thường gặp đã được sắp xếp định dạng sẵn

hoặc chuyển đến cán bộ thuế để giải đáp trực tiếp.

3.2.2. Giải pháp hồn thiện cơng tác tổ chức thực hiện

3.2.2.1. Nâng cao chất lượng cán bộ thực hiện công tác TTHT

Công tác tuyên truyền hỗ trợ và nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược cải cách,

hiện đại hóa ngành thuế. Với phương châm cơ quan thuế là người bạn đồng hành của

người nộp thuế, thì người cán bộ tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế chính là cầu nối

giữa cơ quan thuế với người nộp thuế. Vì vậy nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực

hiện công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế là một trong những giải pháp hàng

đầu nhằm hồn thiện cơng tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế.

Cán bộ thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế cần có những tiêu

chuẩn như sau:

- Về trình độ chun mơn, nghiệp vụ: Có trình độ chun mơn nghiệp vụ trên các

lĩnh vực thuế, tài chính và kế tốn. Cán bộ trực tiếp tại bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ

người nộp thuế bên cạnh những kiến thức về chính sách thuế thì cần phải có sự am

76



hiểu thêm kiến thức về kế tốn, tài chính doanh nghiệp. Bởi vì những chính sách thuế

ln đi kèm với những nghiệp vụ kế toán mà người nộp thuế cần giải đáp vướng mắc

về thuế thường hay vướng mắt về chế độ kế toán. Nếu như người cán bộ thuế có thể

am hiểu và giải đáp cặn kẽ những vướng mắc phát sinh của người nộp thuế thì có thể

tạo được sự tin tưởng, an tâm nơi người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế

thực hiện đúng, thực hiện đủ các thủ tục, qui định về thuế và chế độ kế toán. Đó mới

thực sự chính là hỗ trợ người nộp thuế.

- Kỹ năng tổng hợp, phân tích, đánh giá: Chính sách thuế thường xuyên thay đổi

đòi hỏi người cán bộ thuế phải có kỹ năng tổng hợp để bao quát các nội dung chính

sách, kỹ năng phân tích, đánh giá phát hiện ra những điểm mới của chính sách thuế,

phạm vi ảnh hưởng để đề xuất những nội dung hướng dẫn phù hợp với người nộp thuế.

- Kỹ năng giao tiếp, lắng nghe và truyền đạt: đây là kỹ năng không thể thiếu của

người cán bộ tuyên truyền, hỗ trợ. Để thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hỗ trợ như

tuyên truyền chính sách thuế mới, giải đáp vướng mắc, hướng dẫn thủ tục hành chính

thuế thì người cán bộ thực hiện phải có nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng thuyết trình, trình

bày và đứng trước đám đơng, nói khác hơn đó là những kỹ năng của một người diễn

giả. Người cán bộ tuyên truyền, hỗ trợ có những kỹ năng nói trên thì sẽ có khả năng

tạo sức hút trong khi trình bày, làm cho người nộp thuế dễ dàng tiếp cận các nội dung

cần cung cấp, truyền đạt. Bên cạnh kỹ năng diễn đạt tốt cần có thêm kỹ năng lắng

nghe, lắng nghe phân tích và nhận định để xác định đúng yêu cầu của người nộp thuế

để từ đó có những hướng dẫn phù hợp nhất.

- Kinh nghiệm công tác: Kinh nghiệm công tác là cái “vốn liếng” cần thiết của

người cán bộ thuế, nhất là cán bộ làm công tác tuyên truyền và hỗ trợ. Kinh nghiệm là

cả một q trình tích lũy lâu dài của người cán bộ bao gồm cả kinh nghiệm chuyên

môn và kinh nghiệm giao tiếp. Kinh nghiệm trong công tác sẽ giúp cho người cán bộ

có khả năng am hiểu nguồn gốc vấn đề, vận dụng vấn đề đúng nội dung và đúng thời

điểm theo qui định. Người cán bộ tuyên truyền hỗ trợ cần có thêm những kinh nghiệm

trong q trình kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp, xử lý tờ khai thuế của doanh nghiệp.

Có kinh nghiệm càng nhiều thì sẽ càng hỗ trợ tốt cho người nộp thuế.

- Tinh thần, thái độ phục vụ: Người cán bộ tuyên truyền hỗ trợ cần có tinh thần và

thái độ phục vụ người nộp thuế tốt. Khi tiếp xúc với người nộp thuế phải xem người

nộp thuế là đối tượng phục vụ và cán bộ thuế là nhân viên phục vụ. Có thể nói bộ phận

77



tuyên truyền hỗ trợ phải như bộ phận chăm sóc khách hàng và người cán bộ phải là

một nhân viên chăm sóc khách hàng nhiệt tình, năng động, vui vẻ và hiệu quả.

- Kỹ năng đưa tin, viết bài: kỹ năng này góp phần khơng nhỏ vào việc tuyên

truyền, hỗ trợ trên các phương tiện thông tin đại chúng như website, tạp chí,… Với kỹ

năng đưa tin, viết bài người cán bộ tuyên truyền hỗ trợ sẽ tổng hợp tin tức, sự kiện

trong ngành, tổng hợp chính sách thuế mới, tổng hợp các nội dung giải đáp vướng mắc

góp phần tuyên truyền kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Để đảm bảo đội ngũ cán bộ cơng tác tun truyền hỗ trợ người nộp thuế có

những kỹ năng phù hợp với công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế thì về phía cơ

quan thuế phải thực hiện như sau:

- Tập trung nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thực tế, ưu tiên những cán bộ có

nhiều kinh nghiệm chun mơn, có những kỹ năng giao tiếp, có tinh thần thái độ phục

vụ tốt.

- Tăng cường tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ tuyên truyền hỗ trợ

người nộp thuế bằng cách tham gia các khóa học chuyên đề của Tổng cục Thuế, khóa

học nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng mềm,… Tạo điều kiện cho cán bộ thuế được nghiên

cứu, học tập nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu công tác ngày

càng cao.

- Thường xuyên khảo sát ý kiến đánh giá của người nộp thuế về chất lượng giải

quyết công việc của cơ quan thuế và của cán bộ thuế.

Về phía bản thân mỗi cán bộ TTHT NNT cần phải thực hiện như sau:

- Không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ, kỹ năng giao

tiếp, thuyết trình,… Chủ động tự trang bị kiến thức đáp ứng được với nhiệm vụ được

phân công.

- Trong giao tiếp với người nộp thuế phải ln có tinh thần thái độ phục vụ, hợp

tác tốt. Luôn luôn lắng nghe và sẵn sàng giải đáp những vướng mắc của NNT.

Tóm lại, để nâng cao chất lượng đội ngũ các bộ thực hiện cơng TTHT NNT thì cơ

quan thuế, người cán bộ thuế cần xác định và xây dựng những tiêu chuẩn phù hợp với

từng vị trí cơng tác để phân công nhiệm vụ phù hợp. Tăng cường đào tạo bồi dưỡng

trình độ, kỹ năng cho cán bộ thuế là một việc làm thường xuyên và lâu dài. Bên cạnh

đó là sự nổ lực của bản thân người cán bộ tuyên truyền hỗ trợ là một yêu cầu không

thể thiếu.

78



3.2.2.2. Nâng cao chất lượng các hình thức tuyên truyền hỗ trợ

Qui trình Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế qui định khá đầy đủ các hình thức

tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế như: qua hệ thống Tuyên giáo; qua các phương

tiện thông tin đại chúng; qua băng rôn, áp phích; qua ấn phẩm, tờ rơi; qua hội nghị, tập

huấn; qua Website; qua tổ chức sự kiện;…Tuy nhiên bên cạnh việc thực hiện đầy đủ

các nội dung trên thì Cục Thuế tỉnh Bến Tre cần xác định nội dung nào, hình thức nào

là phù hợp nhất với địa bàn quản lý thuế của đơn vị mình để thực hiện tập trung có

trọng điểm các nội dung tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế.

Để xác định được nội dung tuyên truyền trọng điểm thì Cục Thuế Bến Tre xác

định theo 4 tiêu chí sau:

- Nội dung tuyên truyền: nội dung tun truyền nào phù hợp với hình thức nào

nhất,… Khơng thể nội dung nào cũng áp dụng tuyên truyền qua truyền hình hoặc qua

báo chí, có những nội dung nhỏ thì áp dụng tuyên truyền qua website hoặc gửi email

sẽ đạt hiệu quả hơn.

- Điều kiện thực tế của đơn vị: nhân lực, nguồn kinh phí, cơ sở vật chất,… quyết

định khơng nhỏ đối với lựa chọn hình thức tun truyền.

- Đặc điểm của người nộp thuế trên địa bàn: loại hình, qui mơ doanh nghiệp, hộ

kinh doanh,…

- Nhu cầu, thói quen của người nộp thuế: người nộp thuế thường xuyên tiếp cận

hoặc có nhu cầu tiếp cận đối với hình thức nào nhất, …

Căn cứ vào 4 tiêu chí trên cơ quan sẽ áp dụng hình thức tuyên truyền phụ hợp.

Theo kết quả khảo sát người nộp thuế thì đa số người nộp thuế thường xuyên tiếp cận

chính sách thuế thông qua Tập huấn (98,9%), xem trên website (93,2%), thông qua

phát thanh (27,1%), thông qua hệ thống tuyên giáo (18,1% đa số là khối DNNN) (xem

bảng 2.20). Mặc khác khi có chính sách thuế mới 95,5% người nộp thuế cho rằng Cục

Thuế nên tổ chức tập huấn, 74,6% người nộp thuế yêu cầu gửi tài liệu cho doanh

nghiệp, 65,5% yêu cầu đăng trên website và 61% yêu cầu thông tin trên đài phát thanh

(xem phụ lục 07).



79



Trên cơ sở đó ngành thuế cần tập trung nâng cao chất luợng các hình thức tuyên

truyền hỗ trợ sau đây:

- Tăng cường tổ chức Hội nghị tập huấn, đối thoại với người nộp thuế chú

trọng đến việc tập huấn, đối thoại theo từng nhóm: việc tổ chức Hội nghị tập huấn

đối thoại cần xem xét, lựa chọn nội dung tập huấn và người nộp thuế mời tập huấn một

cách hợp lý. Xác định nội dung nào cần thiết tập huấn thì phải triển khai tập huấn kịp

thời. Xác định nhóm người nộp thuế nào cần tập huấn đối với nội dung cần tập huấn

thì triển khai cho nhóm người nộp thuế đó. Tránh tình trạng nội dung chính sách nào

cũng tập huấn và người nộp thuế nào cũng mời tập huấn. Mặt khác cán bộ thuế cần bổ

sung thêm hình thức tập huấn theo chuyên đề như hoàn thuế GTGT, hoàn thuế TNCN,

quyết toán thuế, đăng ký mã số thuế cá nhân, thuế cho doanh nghiệp mới thành lập, …

đồng thời cho phép người nộp thuế được đăng ký tham dự hoặc khơng tham dự nội

dung đó. Hạn chế tình trạng nội dung tập huấn không liên quan đến người nộp thuế,

gây mất thời gian cho người nộp thuế. Mặt khác, cơ quan thuế cần tổ chức Hội nghị

tập huấn chính sách thuế cho doanh nghiệp mới thành lập theo định kỳ để kịp thời

hướng dẫn những thủ tục cần thiết của doanh nghiệp mới thành lập. Hội nghị tập này

góp phần gắn kết doanh nghiệp với cơ quan thuế ngày từ khi mới hình thành, đồng

thời là diễn đàn để Cục Thuế kịp thời tháo gỡ những khó khăn nhất định của doanh

nghiệp mới thành lập thường xuyên gặp phải.

- Đổi mới nội dung tuyên truyền trên website Cục Thuế: thời gian vừa qua

website Cục Thuế đã từng bước nâng cao chất luợng, thu hút được sự chú ý của các

doanh nghiệp. Ban biên tập website Cục Thuế cần xây dựng các nội dung tuyên truyền

định kỳ dàn trải trong năm. Xây dựng đội ngũ cộng tác viên viết bài cho website Cục

Thuế với thành phần đầy đủ các phòng chức năng và chi cục thuế các huyện, thành

phố. Bổ sung thêm nhiều nội dung mới và nhiều bài viết chất luợng về công tác thuế

nhất là các bài viết từ chi cục thuế, các phòng chức năng chun mơn. Phổ biến qui

chế chi tiền nhuận bút, tập huấn hướng dẫn kỹ năng viết tin bài cho nhóm cộng tác

viên này để nâng cao chất lượng nội dung bài viết. Muốn như vậy thì ban biên tập cần

tham mưu với Ban lãnh đạo chỉ đạo các phòng chức năng và các Chi cục thuế có trách

nhiệm ra sức phối hợp tuyên truyền sâu rộng chính sách pháp luật, thơng tin hoạt động

của ngành thuế để cho website càng phong phú, sinh động hơn.

80



- Tăng cường tuyên truyền trên phát thanh: đây cũng là một kênh thơng tin hữu

ích để cơ quan thuế khai thác sử dụng cho mục đích tuyên truyền, vận động hoặc cảnh

báo thông tin về người nộp thuế có rủi ro về thuế. Thực tế thời gian qua, Cục Thuế và

Chi cục thuế đã thực hiện khá tốt nội dung này do đó bộ phận TTHT người nộp thuế

tăng cường thực hiện tốt nội dung này, chủ động tuyên truyền chính sách thuế mới, tập

trng những chính sách quan trọng, động viên kịp thời gương người tốt việc tốt trong

việc thực hiện chính sách thuế. Bên cạnh đó cần tuyên truyền trên phát thanh những

thông tin cảnh báo người nộp thuế đang bị cưỡng chế về hóa đơn để giảm thiếu rủi ro

trong giao dịch của người nộp thuế, đồng thời góp phần nâng cao sự tuân thủ của

người nộp thuế.

- Nâng cao chất lượng giải đáp vướng mắc về thuế kết hợp với biên soạn nội

dung giải đáp vướng mắc thường gặp theo từng lĩnh vực thuế hoặc theo từng nhóm

người nộp thuế: Giải đáp vướng mắc của người nộp thuế cần được nâng cao hơn nữa.

Cán bộ thuế cần dự đoán trước những vướng mắc sẽ phát sinh trong quá trình thực

hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế để biên tập thành những tài liệu phù hợp với

những nhóm nội dung, nhóm đối tượng người nộp thuế trên địa bàn của đơn vị mình

quản lý. Trên cơ sở đó sẽ thống nhất trong bộ phận TTHT trước khi giải đáp cho người

nộp thuế nhằm đảm bảo chính xác và kịp thời. Những nội dung phát sinh mới sau giải

đáp cho người nộp thuế, bộ phần TTHT cần tập hợp lại, bổ sung vào tài liệu phục vụ

giải đáp chính sách thuế. Định kỳ tổ chức thảo luận, kiểm tra, đánh giá lại các nội

dung đã trả lời, cập nhật những chính sách đã thay đổi. Trường hợp trả lời sai cần liên

lạc để đính chính ngay với người nộp thuế. Mặc khác, bộ phận TTHT cần chủ động

đăng tải những thông tin giải đáp vướng mắc (bao gồm câu hỏi và câu trả lời) lên

website Cục Thuế để người nộp thuế có thể tra cứu, vận dụng vào đơn vị mình khi có

phát sinh trường hợp tương tự.

- Tổ chức sự kiện Tháng Quyết toán thuế thu nhập cá nhân vào những tháng

đầu năm dương lịch.

Đây là một trong những hạn chế của công tác TTHT NNT trong thời gia qua cần

phải được khắc phục. Nội dung này, cơ quan thuế thực hiện như sau:

+ Thông báo rộng rãi nội dung của Sự kiện để người nộp thuế cá nhân nắm bắt

thông tin đồng thời chủ động liên hệ cơ quan thuế Quyết toán thuế TNCN đúng thời

gian qui định.

81



+ Cơ quan thuế bố trí khu vực làm việc của bộ phận hướng dẫn Quyết toán thuế

TNCN lịch sự gọn gàng với đầy đủ trang thiết bị như máy tính, máy in, ứng dụng hỗ

trợ,..

+ Tổ chức đón tiếp người nộp thuế ân cần chú đáo, hướng dẫn chính sách, thủ tục

đồng thời thu thập thông tin để thực hiện kê khai hộ cho người nộp thuế.

+ Hướng dẫn người nộp thuế được hoàn thuế (nếu có) hoặc nộp nghĩa vụ thuế

phát sinh vào ngân sách nhà nước theo qui định.

- Tuyên truyền chính sách thuế mới, thông báo thông tin đến người nộp thuế

thông qua hệ thống tin nhắn SMS:

Đây là một hình thức tuyên truyền hiện đại, ứng dụng tốt công nghệ thông tin

truyền thông. Việc gửi tin nhắn SMS là cách truyền tải thông tin đến người nộp thuế

một cách nhanh nhất hiện nay. Tuy nhiên nội dung cần phải ngắn gọn, dễ hiểu nên chủ

yếu là thông báo, hướng dẫn người nộp thuế tra cứu thông tin trên website Cục Thuế.

Để thực hiện tốt hình thức này, bộ phận TTHT cần thực hiện các bước sau:

+ Thông báo rộng rãi cho người nộp thuế đăng ký nhận thông báo bằng SMS của

ngành thuế bằng cách đăng ký thông tin và số điện thoại tiếp nhận thông tin và những

nội dung quan tâm của người nộp thuế.

+ Cập nhật dữ liệu đăng ký của người nộp thuế, phân nhóm người nộp thuế theo

nội dung quan tâm của người nộp thuế vào ứng dụng nhắn tin “SMS Bands” của các

nhà cung cấp dịch vụ mạng viễn thơng.

+ Khi có chính sách thuế mới liên quan, thông báo của cơ quan thuế, bộ phận

TTHT sẽ sử dụng ứng dụng nói trên để thơng báo cho người nộp thuế biết.

Tóm lại, tăng cường đổi mới các hình thức tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế

theo hướng nâng cao chất lượng các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ trên website Cục

Thuế, tổ chức Hội nghị tập huấn đội thoại với người nộp thuế, Giải đáp vướng mắc

của người nộp thuế trực tiếp, điện thoại hay bằng văn bản,… Các nội dung tuyên

truyền hỗ trợ cần tập trung vào chiều sâu: đi vào từng nội dung, từng lĩnh vực, phù hợp

với từng nhóm đối tượng thuộc phạm vị địa bàn quản lý của đơn vị mình. Hiện đại hóa

cơng tác TTHT thơng quan tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông để

đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người nộp thuế.



82



3.2.2.3. Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hình chính thuế

Cải cách thủ tục hành chính thuế ln gắn liền với Tun truyền hỗ trợ người nộp

thuế. Hai nội dung này luôn phải được thực hiện song song với nhau. Cải cách thủ tục

hành chính hiệu quả thì cơng tác TTHT mới đạt kết quả cao. Để thực hiện tốt công tác

cải cách thủ tục hành chính thì trong phạm vị chức năng quyền hạn của đơn vị mình,

cơ quan thuế cần thực hiện những nội dung sau:

- Công khai đầy đủ qui trình thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan thuế trong đó

tập trung những thủ tục thường xuyên của người nộp thuế như: xác nhận hoàn thành

nghĩa vụ thuế; giải thể doanh nghiệp; hoàn thuế thu nhập cá nhân; đăng ký mã số thuế

của hợp tác xã hoặc tổ chức khác (không phải doanh nghiệp); chuyển quyền sử dụng

đất; lệ phí trước bạ; mua hóa đơn lẻ;… Hạn chế cơng khai nhiều nội dung nhưng ít liên

quan đến người nộp thuế trên địa bàn, gây khó khăn người nộp thuế tra cứu.

- Rà sốt các thủ tục hành chính, tổ chức thống nhất giữa các phòng chức năng về

việc giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính so với qui định của Tổng cục Thuế,

Bộ Tài chính đến mức tối đa có thể.

- Định kỳ kiểm tra kiểm soát việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính của

đơn vị thơng qua phiếu thăm dò ý kiến, kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ để kịp thời cập

nhật thông tin mới, chỉnh đốn các bộ phận, các nội dung chưa thực hiện tốt.

- Tuyên truyền sâu rộng đến tồn thể cán bộ cơng chức tồn ngành về tầm quan

trọng của Cải cách thủ tục hành chính và xây dựng văn hóa giao tiếp với người nộp

thuế để tạo động lực quyết tâm thực hiện thắng lợi các nội dung trên.

3.2.2.4. Điều tra, khảo sát nhu cầu, kết hợp phân loại người nộp thuế

Điều tra, khảo sát nhu cầu của người nộp thuế là một nội dung quan trọng nhằm

hồn thiện cơng tác TTHT NNT. Cơ quan thuế có thể điều tra, khảo sát người nộp thuế

các nội dung sau: người nộp thuế đang cần hướng dẫn vấn đề gì; nội dung gì về thuế

mà người nộp thuế quan tâm nhất; người nộp thuế có u cầu gì đối với cơ quan thuế;

cán bộ thuế giải quyết có đúng qui trình, qui định của ngành thuế hay khơng; cán bộ

thuế có sách nhiễu, gây phiền hà cho người nộp thuế khơng; người nộp thuế có hài

lòng khi giải quyết các thủ tục hành chính thuế hay khơng,… Từ những nội dung điều

tra, khảo sát người nộp thuế cơ quan thuế xác định được nhu cầu thực tế của người nộp

thuế để xây dựng kế hoạch, bổ sung vào chương trình TTHT NNT cho phù hợp nhất.

Mặt khác từ kết quả điều tra, khảo sát người nộp thuế cơ quan thuế có cơ hội đánh giá

83



được chất lượng dịch vụ của cơ quan thuế, thái độ phục vụ của cán bộ thuế và quan

trọng hơn nữa là phát hiện, ngăn ngừa những hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà người

nộp thuế của cán bộ thuế.

Việc điều tra, khảo sát người nộp thuế có thể được tiến hành định kỳ 1 lần/năm

vào nhữn tháng gần cuối năm dương lịch để cơ quan thể điều chỉnh áp dụng ngay vào

chương trình cơng tác năm tiếp theo. Có thể phát phiếu điều tra khảo sát tại Hội nghị

tập huấn, qua email doanh nghiệp,… Tuy nhiên việc điều tra, khảo sát cần lưu ý đảm

bảo tính thống nhất trong tồn ngành, tăng cường sự quan tâm của cán bộ thuế, tuyên

truyền sâu rộng chủ trương điều tra, khảo sát người nộp thuế vì lợi ích của người nộp

thuế nhằm thu hút sự quan tâm, tăng cường trách nhiệm của người nộp thuế trong việc

trả lời phiếu điều tra, khảo sát. Có như vậy thì việc điều tra, khảo sát người nộp thuế

mới thực sự đảm bảo đúng vai trò và mục đích và đạt hiệu quả cao.

Phân loại người nộp thuế nhằm mục đích chia người nộp thuế thành những nhóm

người nộp thuế có những đặc điểm chung để cơ quan thuế có những nội dung tuyên

truyền, hỗ trợ có trọng điểm và phù hợp với nhu cầu của người nộp thuế. Theo kết quả

đánh giá công tác TTHT người nộp thuế được tác giả thực hiện tại chương 2 thì riêng

nội dung phân loại theo loại hình doanh nghiệp xác định được đánh giá của khu vực

kinh tế nhà nước và đầu tư nước ngồi tương đơng với nhau nhưng lại khác biệt với

doanh nghiệp tư nhân, đơn vị sự nghiệp. Theo đó đối với nhóm doanh nghiệp nhà

nước và đầu tư nước ngồi có u cầu cao hơn (kết quả đánh giá thấp hơn) do đó cơ

quan thuế cần tập trung thực hiện tốt hơn đối với từng nhóm người nộp thuế này.

Mặt khác khi chính sách thuế thay đổi thì phạm vị áp dụng hay đối tượng điều

chỉnh của mỗi chính sách thuế là khác nhau. Ví dụ: Thơng tư 130/2016/TT-BTC

hướng dẫn về hoàn thuế thay đổi rất nhiều về nội dung nhưng đối với tỉnh Bến Tre thì

chỉ có một số ít doanh nghiệp (khoảng gần 40 DN) có thực hiện hồn thuế do đó khi

Tun truyền, tập huấn về nội dung này cơ quan thuế cần tập trung nhiều vào nhóm

DN hồn thuế, tránh tun truyền dàn trải khơng đúng đối tượng. Cơ quan thuế có thể

phân loại người nộp thuế theo những tiêu chí khác nhau như theo nghiệp vụ thuế phát

sinh, theo loại hình doanh nghiệp, theo vốn đầu tư, theo số nộp ngân sách, theo ngành

nghề kinh doanh,… Cụ thể như sau:

- Nhóm hồn thuế: Những DN có thực hiện hồn thuế tất cả các trường hợp như:

xuất khẩu, dự án đầu tư mới thành lập, đang hoạt động có dự án đầu tư,…

84



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BẾN TRE

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×