Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.2.2. Luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước

Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của

công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia. Việc ban

hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan

duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao. Mặt

khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu

thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác

định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành. Hiến

pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và

quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế.

1.1.2.3. Luôn gắn liền với thu nhập

Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. Nhà nước thực hiện thu thuế

thơng qua q trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết

quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc

cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào

khác cho người nộp thuế. Thuế, cho dù dưới bất kỳ hình thức nào đều buộc người trả

thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh tốn cho Nhà nước mà khơng cần

biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa.

1.1.2.4. Khơng hồn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu cơng

Tính chất khơng hồn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá.

Về mặt pháp lý, thuế khơng là giá cả của dịch vụ cung cấp. Vì vậy, người nộp thuế

không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà nước sử

dụng tiền thuế khơng có hiệu quả. Họ cũng khơng thể đòi hỏi số tiền thuế do họ nộp

phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác. Mặt khác, họ cũng không thể

từ chối nộp thuế với lý do số thuế thu được tài trợ cho các khoản chi tiêu trái với

những nguyên tắc của nó.

Thứ hai, Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực

tiếp cho người nộp thuế. nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao

cho Nhà nước khơng hồn tồn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những

dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế khơng có

quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hố, dịch vụ cơng cộng trực tiếp cho mình mới

8



nộp thuế cho Nhà nước. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hố, dịch vụ

cơng cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp

thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho

Nhà nước. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí

và giá cả.

1.1.3. Vai trò của thuế

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của

Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình

phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

1.1.3.1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước

Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành

nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu cơng cộng, đó là ngân

sách Nhà nước. Ngân sách Nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau,

nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng. Trong tất cả các nguồn,

thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu ngân sách Nhà

nước.

1.1.3.2. Thuế là cơng cụ điều hòa thu nhập, thực hiện cơng bằng xã hội

Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch

lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính vì vây,

Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội.

Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình

này.

Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông

qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt. Loại thuế này có đối

tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền. Các hàng

hố, dịch vụ này thơng thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới

có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ.

Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế

suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo

công bằng xã hội.



9



1.1.3.3. Thuế là cơng cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm sốt hoạt động SXKD

Vai trò này được xuất hiện trong q trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong

thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế

đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm

vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh

doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và

các phương thức hạch tốn riêng có. Từ cơng tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát

hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ.

Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức

quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm sốt sau này. Như vậy, qua

cơng tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm sốt tồn diện các mặt hoạt

động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của

đời sống kinh tế - xã hội.

1.1.3.4. Thuế góp phần thức đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển

Thuế trong cơ chế thị trường khơng chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của

ngân sách Nhà nước, mà còn là một cơng cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh

doanh phát triển. Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực

hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và

cung ứng những lợi ích cơng cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động

sản xuất, kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất

nước, mà Nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động

kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển

nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn.

1.2. TUYÊN TRUYỀN, HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ

1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết của tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế

Phạm Xuân Tuyên (2016), Giáo trình bồi dưỡng cán bộ Tài chính - Chuyên đề

18 [16], khái niệm như sau:

Tuyên truyền pháp luật về thuế được hiểu đó lá hoạt động nhằm phổ biến, truyền

bá những tư tưởng, quan điểm, nội dung cơ bản về chính sách thuế, quản lý thuế đến

người nộp thuế và cộng đồng dân cư nhằm nâng cao nhận thúc chung của xã hội về

pháp luật thuế và nâng cao ý thức tự giác tuân thủ pháp luật thuế cũng như hiệu quả

hoạt động quản lý thu thuế của Nhà nước.

10



Hỗ trợ người nộp thuế là công tác hướng dẫn cụ thể các Luật thuế, cung cấp và

giải đáp vướng mắc về thủ tục và nội dung các sắc thuế cho người nộp thuế để họ tuân

thủ và thực hiện tốt các chính sách thuế qua từng thời kỳ.

Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng hệ thống pháp luật. Pháp luật về

thuế là một bộ phận của hệ thống pháp luật Nhà nước mà mọi người dân nói chung và

NNT nói riêng phải chấp hành. Đồng thời, trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước,

cơ quan thuế đại diện cho Nhà nước trong việc quản lý và thực thi pháp luật về thuế.

Vì vậy, cơ quan thuế phải tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật về thuế cho NNT

và tồn dân để mọi cơng dân và NNT hiểu biết về thuế, pháp luật thuế, về nghĩa vụ và

quyền lợi của NNT, từ đó thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những hành vi trốn thuế, gian

lận thuế ngày càng diễn ra phức tạp, phạm vi rộng khắp, quy mô lớn với những thủ

đoạn tinh vi (Phạm Thị Thanh, 2017)[13]. Mặt khác, số lượng NNT ra đời ngày càng

nhiều với quy mô lớn hơn và mức độ sai phạm nghiêm trọng hơn, tinh vi hơn. Vì vậy,

cần thiết phải đẩy mạnh cơng tác TTHT NNT nhằm làm cho các tổ chức, mọi cá nhân

và toàn xã hội kịp thời nắm bắt các quy định về thuế, hiểu ra được bản chất tốt đẹp và

ý nghĩa quan trọng của việc nộp thuế, mọi hành vi trốn thuế, tránh thuế, gian lận thuế

không chỉ là hành vi vi phạm pháp uật mà còn là hành vi vi phạm đạo đức công dân,

dư luận xã hội cần phải lên án, khơng khoan nhượng. Từ đó, góp phần xây dựng ý thức

tự giác chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về pháp luật thuế trong toàn xã hội.

Đứng trước những yêu cầu trên, rõ ràng ngành Thuế cần phải đẩy mạnh công tác

tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế cho tồn dân, triển khai mạnh mẽ cơng tác hỗ

trợ, phục vụ các tổ chức và cá nhân nộp thuế, đưa công tác TTHT NNT thành một

trong những khâu trọng tâm của ngành trong công tác quản lý thu thuế.

1.2.2. Mục đích, vai trò của cơng tác tun truyền, hỗ trợ NNT

1.2.2.1. Mục đích

- Tuyên truyền làm cho NNT và mọi người dân hiểu được bản chất của thuế, mục

đích sử dụng tiền thuế và lợi ích mà mỗi người dân được hưởng và lợi ích chung của

tồn xã hội. Từ đó, NNT và mỗi người dân nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ

trong việc đóng thuế cho Nhà nước, tự nguyện chấp hành pháp luật thuế; đồng thời,

phối hợp, hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế trong việc tuyên truyền, phổ biến về pháp

luật thuế.

11



- Cung cấp, hướng dẫn cho NNT các thông tin, hiểu biết về nội dung các chính

sách thuế, các quy trình nghiệp vụ, các thủ tục về thuế… làm cho NNT hiểu rõ và có

cơ sở chấp hành các nghĩa vụ về thuế một cách chính xác, đầy đủ.

- Mang lại lợi ích kinh tế cho cả NNT và cơ quan thuế hay đó chính là lợi ích của

tồn xã hội. Trên cơ sở các thông tin và dịch vụ hỗ trợ do cơ quan thuế cung cấp NNT

tiết kiệm được chi phí, thời gian, cơng sức dành cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và chấp

hành pháp luật thuế, từ đó giảm dần những sai phạm khơng cố ý trong q trình thực

hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, tăng sự tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế.

- Thực hiện tốt cơng tác TTHT còn tạo lập mối quan hệ bình đẳng, thân thiện

giữa cơ quan quản lý thuế và NNT theo hướng NNT là người được phục vụ, là khách

hàng của cơ quan thuế và cơ quan thuế là người phục vụ đáng tin cậy nhất của NNT.

Đây sẽ là sự thay đổi căn bản trong quan điểm của cơ quan thuế cũng như của các cán

bộ thuế và của NNT, từ đó làm cho mối quan hệ giữa hai chủ thể này thay đổi theo

chiều hướng tích cực.

1.2.2.2. Vai trò của cơng tác tun truyền, hỗ trợ NNT

Cơng tác tuyên tuyền, hỗ trợ NNT là một nội dung quan trọng trong việc tổ chức

hoạt động của cơ quan thuế. Nó khơng chỉ tác động đến việc tổ chức quản lý nội bộ

của cơ quan thuế mà còn tác động đến cả lợi ích của NNT và cả cộng đồng.

a. Tác động của công tác TTHT đối với NNT và cộng đồng

Thứ nhất, trong việc cung cấp các dịch vụ TTHT cơ quan thuế đóng vai trò là

người cung cấp, truyền bá thơng tin về chính sách thuế, pháp luật thuế của Nhà nước

đến với mọi người dân. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các phương

tiện liên lạc cá nhân, cơ quan thuế cần phải truyền tải được những thông tin cần thiết

đến đúng đối tượng pháp luật thuế điều chỉnh. Lúc này, cơ quan thuế đóng vai trò như

một cầu nối, một kênh cung cấp thơng tin phổ biến pháp luật của Nhà nước đến với

mọi người dân.

Thứ hai, cơng tác TTHT góp phần giúp cho NNT đơn giản hơn trong việc thực

hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Nhờ việc triển khai ứng dụng các thành quả phát triển của

công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan thuế, NNT có thể thực hiện các hoạt

động đăng ký, kê khai, nộp thuế,… mà không cần trực tiếp đến cơ quan thuế. Nhờ việc

triển khai ứng dụng này, NNT có thể giảm đáng kể chi phí đi lại cũng như sự phiền hà

trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế.

12



Thứ ba, với các dịch vụ tư vấn cho NNT, cơ quan thuế đã kịp thời giải quyết các

vấn đề khó khăn, vướng mắc của NNT, giúp họ hiểu các quy định về thuế đối với

trường hợp của mình, từ đó có các định hướng, chiến lược kinh doanh cho phù hợp.

Thứ tư, công tác TTHT trong cơ quan thuế bảo vệ quyền lợi chính đáng của

NNT. Trước hết, cơ quan thuế cần nâng cao hiểu biết của người dân và các tổ chức, cá

nhân nộp thuế về quyền lợi và nghĩa vụ của mình thơng qua các hoạt động tuyên

truyền qua báo chí, tờ rơi, sách hướng dẫn… Khi NNT khơng hài lòng với các quyết

định của cơ quan thuế, họ có thể gửi khiếu nại đến cơ quan thuế và bộ phận Bảo vệ

quyền lợi cho NNT có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của NNT một

cách khách quan và công bằng.

Thứ năm, cơng tác TTHT góp phần ngăn ngừa rủi ro cho NNT. Thông qua việc

công bố công khai các thông tin cảnh cáo về các trường hợp NNT đã bỏ trốn khỏi địa

điểm kinh doanh; các doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; các hố đơn, chứng từ khơng

còn giá trị sử dụng… cơ quan thuế đã giúp các tổ chức, cá nhân kinh doanh tránh được

những rủi ro khi gặp phải các đối tượng lừa đảo, kinh doanh không trung thực.

Thứ sáu, việc thực hiện tốt công tác TTHT góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp

luật thuế nói riêng và nâng cao trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật nói chung của cả

cộng đồng. Cơng tác TTHT khơng chỉ đóng vai trò cung cấp thơng tin về chính sách, pháp

luật thuế mà còn đóng vai trò tuyên truyền về bản chất tốt đẹp của tiền thuế, giáo dục

cộng đồng về ý thức trách nhiệm đối với Ngân sách Nhà nước. Qua đó thúc đẩy cộng

đồng lên án, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật thuế, đảm bảo sự công bằng cho mọi

NNT.

b. Tác động của công tác TTHT đối với cơ quan thuế

Một là, cơng tác TTHT trong cơ quan thuế góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động

quản lý thuế của toàn ngành Thuế. Để có thể thực hiện tốt cơng tác TTHT đáp ứng yêu

cầu của NNT, đòi hỏi tất cả các khâu, các bộ phận trong cơ quan thuế phải thống nhất,

đồng bộ. Bộ phận pháp chế – chính sách cần xây dựng được những chính sách, quy

định, thủ tục về thuế rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu, dễ áp dụng. Bộ phận thanh tra,

cưỡng chế thu nợ cần có các biện pháp, kế hoạch hiệu quả trong việc kiểm tra, truy

thu, xử lý các trường hợp dây dưa, nợ đọng tiền thuế, trốn thuế. Bộ phận xử lý thông

tin cần xây dựng được hệ thống các cơ sở dữ liệu đồng bộ, tập trung, hiện đại, đảm bảo

cung cấp thông tin chính xác, kịp thời.

13



Hai là, thực hiện tốt cơng tác TTHT góp phần cải thiện hình ảnh của cơ quan

thuế. Nếu cơ quan thuế khi đặt nhiệm vụ chỉ tập trung vào số thu với các chức năng

quản lý, cưỡng chế thu nợ, kiểm tra, thanh tra để tận thu tiền thuế thì khoảng cách giữa

cơ quan thuế và NNT ngày càng nới rộng. Khi đó, hình ảnh về cơ quan thuế chỉ còn

được biết đến như là một kẻ có quyền, thậm chí lộng quyền trong con mắt của NNT.

Tuy nhiên, việc chủ động cung cấp các dịch vụ TTHT cho NNT, cơ quan thuế sẽ đóng

vai trò là người bạn đồng hành, người trợ giúp cho NNT hiểu về bản chất tốt đẹp của

tiền thuế, hiểu về chính sách thuế và biết làm thế nào để thực hiện nghĩa vụ Nhà nước.

Qua đó, nâng cao vai trò, vị thế và cải thiện hình ảnh của cơ quan thuế trong con mắt

NNT và cả cộng đồng.

Ba là, công tác TTHT NNT là một trong những phương pháp, công cụ quan trọng

nhất để đạt tới mục đích là sự tuân thủ tự nguyện cao nhất của NNT. Một trong các biện

pháp quản lý thuế hiện đại là căn cứ theo mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của

NNT để đánh giá, phân chia NNT ra 4 nhóm sau: (1) Nhóm NNT có ý thức tự giác tuân

thủ, (2) nhóm NNT có ý thức tuân thủ nhưng chưa thực hiện đầy đủ các quy định, (3)

nhóm NNT chưa có ý thức tuân thủ pháp luật thuế, (4) nhóm NNT cố tình khơng tn

thủ. Cơng tác TTHT góp phần đều chỉnh, nâng cao số lượng nhóm người nộp thuế (1)

và (2), kéo giảm số người nộp thuế thuộc nhóm (3) và (4).

1.2.3. Các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT

Trên thế giới hiện nay hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ NNT được thực hiện dưới

nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Tuỳ theo phương thức tiếp cận với NNT có thể

phân chia cơng tác TTHT trong cơ quan thuế thành 2 hình thức, đó là: hình thức TTHT

gián tiếp và hình thức TTHT trực tiếp.

1.2.3.1. Các hình thức TTHT gián tiếp

- Tuyên truyền thông qua các phương tiện thơng tin đại chúng như đài phát

thanh, truyền hình, báo, tạp chí, các gameshow với chủ đề về thuế,… để đưa hình ảnh

của cơ quan thuế tiếp xúc rộng rãi với cơng chúng. Nhiều quốc gia quảng bá các hình

ảnh, khẩu hiệu truyên truyền trên các pano, áp phích được đặt ở các khu trung tâm,

đường giao thông lớn. Phát hành rộng rãi các ấn phẩm tuyên truyền, các tài liệu, sách

hướng dẫn về thuế cũng là một trong những hình thức tun truyền được áp dụng rộng

rãi. Thơng thường các ấn phẩm tuyên truyền này được biên soạn và in ấn dưới dạng tờ

rơi quảng cáo với những nội dung đơn giản, gần gũi với NNT.

14



- Cung cấp thông tin qua mạng internet. Để sử dụng dịch vụ hỗ trợ này thi NNT

cần đăng lý sử dụng với cơ quan thuế để được cấp tên truy cập và mật khẩu sau đó sẽ

phải tự chịu trách nhiệm trong việc giữ gìn tài khoản thơng tin của mình. Qua hình

thức hỗ trợ này, những vướng mắc của NNT liên quan đến tình hình thu nhập, tình

hình kê khai, thanh tốn nợ… có liên quan đến bí quyết kinh doanh sẽ được cơ quan

thuế đảm bảo bí mật. Ngồi ra NNT có thể tra cứu các thơng tin hiểu biết chung về

chính sách, thủ tục, các sắc thuế thơng qua trang web của ngành Thuế, qua các diễn

đàn trên mạng về thuế.

- Sử dụng hệ thống hộp thư điện thoại trả lời tự động: là hệ thống điện thoại

trong đó đã được cài đặt những thông tin cơ bản về các sắc thuế, giải đáp các vấn đề

mà NNT thường mắc phải để khi NNT cần có thể tìm hiểu qua kênh này.

- Hướng dẫn, giải đáp cho NNT bằng văn bản: NNT gửi cho cơ quan thuế cơng

văn, trong đó nêu ra những vấn đề thắc mắc yêu cầu cơ quan thuế giải đáp. Sau khi

tiếp nhận công văn của NNT, cơ quan thuế xem xét kỹ các vấn đề mà NNT thắc mắc

sau đó trả lời NNT bằng cơng văn.

- Hỗ trợ người nộp thuế qua việc triển khai ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế: Đây là

phần mềm hỗ trợ cho người nộp thuế trong việc tính tốn và kiểm tra số liệu trên các

chỉ tiêu của tờ khai thuế. Phần mềm này được xây dựng để có có thể tích hợp với các

chương trình kế tốn máy trong việc sử dụng dữ liệu kế toán để đưa vào các tờ khai.

Bên cạnh đó, khi tờ khai được in bằng ứng dụng này sẽ là tờ khai có mã vạch chứa các

thông tin về dữ liệu trong tờ khai, từ đó cơ quan thuế có thể sử dụng thiết bị để đọc mã

vạch và nhập dữ liệu trên tờ khai vào dữ liệu của ngành Thuế một cách nhanh chóng.

- Phát hành tài liệu hướng dẫn kê khai thuế: Tổng cục Thuế tổ chức biên soạn và

in ấn các bộ tài liệu hướng dẫn người nộp thuế kê khai chi tiết và đầy đủ đối với từng

sắc thuế. Đây là bộ tài liệu thực sự hữu ích cho người nộp thuế trong việc tìm hiểu và

thực hiện đúng các quy định của pháp luật thuế.

Cùng với sự phát triển của khoa học cơng nghệ, các hình thức thơng tin liên lạc

ngày càng phát triển thì các hình thức hỗ trợ NNT sẽ ngày càng đa dạng và thuận tiện

hơn cho NNT. Tuy nhiên, để có thể thực hiện tốt các hình thức này ngồi u cầu cao

về trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác này để hỗ trợ một cách hiệu quả nhất

cho NNT thì cũng yêu cầu về hệ thống trang thiết bị, các ứng dụng hiện đại để có thể

trợ giúp cho cán bộ làm tốt cơng tác này.

15



1.2.3.2. Các hình thức TTHT trực tiếp

- Tổ chức tiếp và trả lời NNT tại trụ sở của cơ quan thuế. Hình thức này đòi hỏi cán

bộ tiếp và trả lời NNT không những phải nắm chắc về chun mơn mà còn phải có thái độ

phục vụ nhiệt tình, niềm nở. Có như thế NNT mới thấy thoải mái và có cảm tình hơn với

cán bộ thuế, đồng thời cũng có ý thức hơn trong nghĩa vụ thuế của mình. Theo hình thức

hỗ trợ này, tất cả những vướng mắc về cơ chế chính sách, thủ tục đăng ký, kê khai, khiếu

nại, tố cáo,… sẽ được giải đáp (trừ những trường hợp quá phức tạp thì NNT sẽ được hẹn

trả lời vào hơm sau hoặc được cơ quan thuế gởi trả lời bằng văn bản).

- Cán bộ thuế trực tiếp trả lời điện thoại: bằng việc cung cấp những số điện thoại

tư vấn cho NNT, khi có những vướng mắc về thuế NNT gọi tới những số đó, tại cơ

quan thuế sẽ có cán bộ thuế trực. Cán bộ thuế nghe những vướng mắc của NNT sau đó

trả lời ngay cho NNT nếu có thể và nằm trong phạm vi cho phép của họ.

- Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại giữa cơ quan thuế với NNT. Hình

thức này được khá nhiều các nước trên thế giới áp dụng, tuỳ từng đối tượng khác nhau

để tổ chức các buổi hội thảo phù hợp với những loại hình đối tượng đó nhằm nâng cao

chất lượng của các buổi hội thảo, hội nghị. Thông qua các buổi hội thảo, hội nghị đối

thoại không những NNT hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với Nhà

nước, hiểu rõ hơn về việc áp dụng chính sách thuế đối với doanh nghiệp mình. Cũng

qua những hội nghị đối thoại này, cơ quan thuế có thể nắm bắt được nhu cầu của từng

đối tượng khác nhau để có hình thức hỗ trợ phù hợp.

- Tổ chức tập huấn cho NNT về chính sách thuế, các văn bản pháp luật thuế, đặc

biệt là các văn bản, chính sách mới. Việc tập huấn cho NNT có thể kết hợp cùng với

các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại. Thông thường, các cơ quan thuế chủ động tổ

chức các buổi hội thảo, tập huấn khi có chính sách thuế mới để NNT hiểu các thay đổi

về quy định và thủ tục khi thực hiện nghĩa vụ thuế. Với các doanh nghiệp mới thành

lập, cơ quan thuế tổ chức riêng các buổi tập huấn giới thiệu về chính sách thuế, các

quy định về sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ cho đối tượng này.



16



1.3. QUI TRÌNH TUYÊN TRUYỀN HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ

Ngày 20/4/2015 Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Quyết định số

745/QĐ-TCT Về việc ban hành Quy trình tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. Đây là

cơ sở để cơ quan thuế các cấp thực hiện công tác TTHT người nộp thuế.

1.3.1. Căn cứ pháp lý và hiệu lực thi hành

Căn cứ Luật Quản lý thuế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý

thuế, các Luật thuế, Pháp Lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành;

Căn cứ Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/09/2009 của Thủ tướng Chính

Phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế

trực thuộc Bộ Tài chính và các văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ quyền

hạn của các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế;

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế cho Quyết định số 601/QĐTCT ngày 11/5/2012 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.

1.3.2. Mục đích, phạm vi và nguyên tắc thực hiện

1.3.2.1. Mục đích

- Thống nhất, chuẩn hóa về ngun tắc, nội dung, trình tự thực hiện cơng tác

tun truyền, hỗ trợ người nộp thuế để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cơ

quan thuế và hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện quyền và nghĩa vụ về thuế.

- Đảm bảo phân định rõ để thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ trong công tác

tuyên truyền, hỗ trợ NNT tại cơ quan thuế các cấp.

1.3.2.2. Phạm vi

Quy định về trình tự, thủ tục, các bước thực hiện công tác TTHT NNT

1.3.2.3. Người thực hiện

- Lãnh đạo cơ quan thuế, lãnh đạo các đơn vị thuộc cơ quan thuế các cấp.

- Công chức thuế công tác tại bộ phận Tuyên truyền Hỗ trợ (TTHT) của cơ quan

thuế các cấp.

- Công chức thuế công tác tại các bộ phận chun mơn, nghiệp vụ khác có liên

quan tại cơ quan thuế các cấp.

1.3.2.4. Nguyên tắc thực hiện

- Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền,

phạm vi, trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp; tuân thủ sự chỉ đạo thống nhất theo

chương trình, kế hoạch cơng tác của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế;

17



- Đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về cung cấp thông tin hướng

dẫn, hỗ trợ về thuế cho NNT.

- Đảm bảo tính công khai, minh bạch trong công tác TTHT người nộp thuế tại cơ

quan thuế các cấp.

- Đảm bảo sự phối hợp công tác, trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế các cấp,

giữa các bộ phận trong cơ quan thuế theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được

quy định.

- Nội dung tuyên truyền, hỗ trợ NNT phải theo đúng quy định tại các văn bản

quy phạm pháp luật về thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện chung, thống nhất

trên toàn quốc, thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.

1.3.3. Nội dung Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế

Nội dung Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế được thực hiện như sau:

1.3.3.1. Lập kế hoạch

a. Yêu cầu lập kế hoạch

- Kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ NNT phải theo đúng các mục tiêu quản lý thuế,

phù hợp các chương trình, kế hoạch cơng tác chung của toàn ngành thuế.

- Kế hoạch được lập định kỳ hàng năm, đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả, phù hợp

với điều kiện cụ thể tại cơ quan thuế các cấp và tình hình thực tế tại địa phương.

b. Căn cứ lập kế hoạch

Bộ phận Tuyên truyền và hỗ trợ NNT lập kế hoạch tuyên truyền hỗ trợ trên cơ sở

các căn cứ sau:

- Chương trình cơng tác, nhiệm vụ và biện pháp quản lý thu Ngân sách Nhà nước

của Bộ Tài chính, của ngành Thuế;

- Chương trình cơng tác, nhiệm vụ và biện pháp quản lý thu Ngân sách Nhà nước

của địa phương;

- Chỉ đạo của cấp Ủy, chính quyền địa phương;

- Các quy định về chính sách, thủ tục hành chính thuế, quy trình quản lý thuế mới

ban hành;

- Chương trình sửa đổi, bổ sung các chính sách thuế, thủ tục về thuế; Chương

trình cải cách hành chính thuế; Chương trình cải cách và hiện đại hóa cơng tác quản lý

thuế;

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×