Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.9: Liên quan giữa SMI và điều trị corticoid

Bảng 3.9: Liên quan giữa SMI và điều trị corticoid

Tải bản đầy đủ - 0trang

VN

U



CHƢƠNG 4 - BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu



ac

y,



4.1.1. Đặc điểm về tuổi



Viêm khớp dạng thấp thường gặp ở nữ giới, độ tuổi trung niên. Trong



Ph

ar

m



nghiên cứu của chúng tơi có 41 bệnh nhân VKDT với tuổi trung bình là

59,07±11,68 tuổi (giới hạn từ 34-84 tuổi), phần lớn BN ở lứa tuổi trên 50 tuổi:

nhóm tuổi 51-60 tuổi chiếm 36,6% (15/41), nhóm tuổi trên 60 tuổi chiếm 43,9%

(18/41) (bảng 3.1). Theo tổng kết của Avouac 2006 trên 8206 bệnh nhân VKDT



an



d



thấy tuổi trung bình là 55,5 tuổi [11]. Nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh (2011)

trên 105 BN nữ VKDT giai đoạn sớm có tuổi trung bình là 56,3±8,7 tuổi [15].



ne



Trong nghiên cứu của Jon T. Giles (2008) trên 30 bệnh nhân VKDT có tuổi



ici



trung bình là 59,9±8,4 tuổi [26]. Như vậy, tuổi trung bình trong nghiên cứu của



ed



chúng tôi tương tự với nghiên cứu của Jon T. Giles về thiếu cơ ở bệnh nhân nữ

VKDT và chênh lệch ít với các nghiên cứu khác.



M



So sánh tuổi trung bình giữa hai nhóm nghiên cứu, theo nghiên cứu của



of



Sevil Ceyhan Dogan khơng có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm về tuổi



ol



(p>0,05): tuổi trung bình nhóm VKDT là 47,7 ± 5,49 tuổi, nhóm chứng 47,7 ±



ho



0,49 tuổi [16]. Nghiên cứu của Jon T. Giles năm 2008 trên 189 bệnh nhân



Sc



VKDT có tuổi trung bình của nhóm bệnh là 59,9±8,4 tuổi và nhóm chứng là

60,7±8,8 tuổi, khơng có sự khác biệt [26]. Nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh



ht

@



(2011) có tuổi trung bình của nhóm bệnh và nhóm chứng lần lượt là 56,3±8,7 và

55,7±8,5 (p>0,05) [15]. Tượng tự với các nghiên cứu trên, trong nghiên cứu của

chúng tôi tuổi trung bình của nhóm bệnh và nhóm chứng lần lượt là 59,07 ±



rig



11,68 tuổi và 49,68 ± 3,88 tuổi (p>0,05) (bảng 3.5), hai nhóm có độ tuổi khơng



Co



py



chênh lệch nhau nhiều, thuận lợi cho việc so sánh các chỉ số nhân trắc, không bị

ảnh hưởng của tuổi tác.

28



VN

U



4.1.2. Thời gian mắc bệnh VKDT



ed



ici



ne



an



d



Ph

ar

m



ac

y,



Thời gian mắc bệnh được tính từ khi khởi phát các triệu chứng cho tới thời

điểm nghiên cứu. Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian mắc bệnh trung bình

là 6,93±7,05 năm (từ 1-28 năm), đa số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dưới 5

năm: 60,98% (hình 3.2). Thời gian mắc bệnh có sự biến thiên lớn, có những

bệnh nhân ở giai đoạn sớm, có những bệnh nhân ở giai đoạn muộn của bệnh.

Điều này cũng phù hợp với tính chất của bệnh: diễn biến mạn tính, tiến triển

từng đợt và nặng dần theo thời gian. Nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh (2011) có

thời gian mắc bệnh trung bình của 105 bệnh nhân VKDT là 21,6±9,7 tháng [15].

Trong nghiên cứu của Jon T. Giles năm 2008 trên 189 bệnh nhân VKDT có thời

gian mắc bệnh trung bình là 9 (5-17) năm [26]. Như vậy, thời gian mắc bệnh

trung bình ở nghiên cứu của chúng tơi cao hơn trong nghiên cứu của Đào Hùng

Hạnh (2011) về thành phần cơ thể của BN nữ VKDT giai đoạn sớm, nhưng lại

thấp hơn so với nghiên cứu của Jon T. Giles năm 2008, có sự khác nhau này là

do cách chọn bệnh nhân và đặc điểm về an sinh ở các nước đang phát triển còn

kém hơn các nước phát triển.



of



a. Yếu tố viêm CRP



M



4.1.3. Các chỉ số đánh giá mức độ hoạt động bệnh



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



ol



Yếu tố viêm phản ánh tình trạng đáp ứng viêm của cơ thể với các tác nhân

gây bệnh khác nhau. Yếu tố viêm cấp có mặt trong thang đo mức độ hoạt động

của bệnh (DAS28) cũng như các tiêu chuẩn theo dõi, đánh giá tình trạng cải

thiện của bệnh theo ACR, hiệu quả của các phác đồ điều trị trên từng BN [8,42].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, nồng độ CRP trung bình là 44,89 ± 50,66 mg/L,

phần lớn BN trong giai đoạn viêm cấp với tăng CRP chiếm đa số 92,68% (bảng

3.3). Nghiên cứu của Sevil Ceyhan Dogan năm 2015 trên 30 bệnh nhân VKDT

có nồng độ CRP trung bình là 9,87 ± 12,31 mg/L [16]. Nghiên cứu của Jon T.

Giles năm 2008 trên 189 bệnh nhân VKDT có mức CRP trung bình là 2,78

(1,13-7,69) mg/L [26]. Như vậy, kết quả nồng độ CRP rất khác nhau ở mỗi

nghiên cứu có thể do sự lựa chọn đối tượng nghiên cứu khác nhau, thời gian bị

29



VN

U



bệnh khác nhau hoặc liên quan đến kỹ thuật xét nghiệm khác nhau ở mỗi trung

tâm xét nghiệm.



ac

y,



b. Đánh giá mức độ hoạt động của bệnh theo thang điểm DAS28-ESR



ol



of



M



ed



ici



ne



an



d



Ph

ar

m



Đánh giá mức độ hoạt động của bệnh trong VKDT đã có lịch sử lâu đời,

hơn 50 năm [12]. Có rất nhiều thang điểm đã được xây dựng, sau khi phân tích

áp dụng các tiêu chuẩn loại trừ các biến số và sự góp ý của các chuyên gia hàng

đầu về khớp, có 6 bảng điểm được ACR khuyến nghị áp dụng trong thực hành

lâm sàng và nghiên cứu gồm: DAS28 (CRRP/ESR), SDAI, CDAI, PAS (patient

activity scale), PAS-II và RAPID3 (routine assessment of patient index data with

3 measures) [9]. Trong thực hành lâm sàng, có 3 thang đo hay được sử dụng là

DAS28, SDAI, CDAI [8]. Các thang đo này đánh giá được khá tốt mức độ hoạt

động của bệnh, và có độ nhạy tương đương nhau, nhưng thang đo DAS28 vẫn

được dùng phổ biến hơn cả [23]. Đánh giá được mức độ hoạt động bệnh trong

từng đợt giúp đo lường được mức độ tàn phá của bệnh, nguy cơ phá hủy khớp và

so sánh được giữa các lần khám, từ đó chỉnh phác đồ điều trị phù hợp với từng

đối tượng bệnh nhân, giảm thiểu mức độ tàn tật do bệnh gảy ra [9,12,42]. Bên

cạnh đó, bệnh nhân có thể hiểu hơn tình trạng bệnh của mình thơng qua các chỉ

số này được đánh giá và thông báo bởi người thầy thuốc, từ đó có ý thức hơn

trong việc tự theo dõi và điều trị theo lời khuyên của người thầy thuốc, làm cải

thiện tình trạng bệnh [8].



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



Trong nghiên cứu của chúng tơi, có mức DAS28-ESR trung bình là 5,86 ±

0,97 (từ 2,89-7,56), đa số bệnh nhân có mức độ hoạt động bệnh nặng (DAS28ESR > 5,1) chiếm tỉ lệ 82,9% (bảng 3.3). Theo nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh

và các cộng sự năm 2001 về thành phần cơ thể của BN nữ VKDT giai đoạn sớm,

có DAS28 trung bình là 4,1±1,3, đa số bệnh nhân VKDT (52,5%) ở giai đoạn

bệnh hoạt động vừa (DAS28 3,2-5,1), do nghiên cứu này tiến hành trên nhóm

bệnh nhân ngoại trú nên tình trạng của bệnh không nặng như BN nội trú [15].

Nghiên cứu của Jon T. Giles năm 2008 trên 189 bệnh nhân VKDT có DAS28

trung bình là 3,67 ± 1.07, chiếm đa số (54,1%) là các bệnh nhân có mức độ hoạt



30



VN

U



ac

y,



động bệnh vừa (DAS28 từ 3,2-5,1) [26]. Như vậy điểm DAS28 trên mỗi nghiên

cứu khác nhau là khác nhau, phù hợp với mục đích và cách lựa chọn bệnh nhân,

điểm DAS28 tương ứng với mức độ hoạt động bệnh trên lâm sàng biểu hiện ở số

khớp sưng đau và mức độ đau của từng bệnh nhân ở mỗi nghiên cứu khác nhau.



Ph

ar

m



4.1.4. Điều trị cơ bản trong VKDT



M



ed



ici



ne



an



d



VKDT là bệnh thấp viêm mạn tính tiến triển từng đợt, nặng dần theo thời

gian, vì vậy, mục đích của việc quản lý điều trị bệnh chính là phòng ngừa và

kiểm sốt tổn thương khớp, ngăn chặn tình trạng phá hủy các khớp và giảm đau

cho bệnh nhân [25]. Để đạt được mục đích này thì việc bắt đầu sớm điều trị bằng

thuốc chống thấp khớp DMARDs là rất quan trọng. vì các DMARDs kiểm sốt

và làm lui bệnh, do đó việc duy trì DMARDs liên tục, đúng liều là rất cần thiết

[25]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn bệnh nhân dùng điều trị liên tục

(46,34%), BN khơng điều trị thấp có tỉ lệ thấp nhất (9,76%) (hình 3.7). Theo

nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh và các cộng sự (2001) về thành phần cơ thể của

BN nữ VKDT giai đoạn sớm, tỉ lệ BN có sử dụng DMARDs là 89,5% [15], kết

quả này tương tự với nghiên cứu của chúng tơi (90,24% BN có sử dụng

DMARDs).



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



ol



of



Glucocorticoid là thuốc chống viêm steroid, sử dụng trong các đợt bệnh

tiến triển, làm thuyên giảm các triệu chứng cấp tính của bệnh. Tuy nhiên, thực tế

trong trường hợp bệnh tiến triển, sưng đau nhiều khớp, bệnh nhân thường tự mua

thuốc và tự tăng liều glucocorticoid để giảm đau hoặc thậm chí là tự mua thuốc

lá cây, thuốc bột về uống, gây hậu quả nghiêm trọng. Trong nghiên cứu của

chúng tơi thống kê được có 87,8% (36/41) số bệnh nhân dùng thuốc corticoid

trong đợt kiểm sốt bệnh và có 17/35 BN có nồng độ cortisol máu thấp (bảng

3.4). So sánh với nghiên cứu của Jon T. Giles năm 2008 trên 189 bệnh nhân

VKDT [26], có 43,9% BN sử dụng corticoid trong đợt kiểm sốt bệnh, thấy được

tình trạng kiểm soát sử dụng corticoid của các nước phát triển khá là tốt, có thể

liên quan tới quản lý thuốc chặt chẽ.



31



VN

U



4.1.5. Đặc điểm nhân trắc học của hai nhóm nghiên cứu



ne



an



d



Ph

ar

m



ac

y,



Về cân nặng, trong nghiên cứu của chúng tôi, cân nặng trung bình của

nhóm bệnh và nhóm chứng lần lượt là 50,81 ± 7,97 kg; 55,98 ± 6,3 kg (p>0,05)

(bảng 3.5), khơng có sự khác biệt nhiều, tương tự với nghiên cứu của Đào Hùng

Hạnh và các cộng sự năm 2001 về thành phần cơ thể của BN nữ VKDT giai

đoạn sớm, cân nặng trung bình của nhóm bệnh là 54,7 kg, nhóm chứng là 53,4

kg, khơng khác nhau nhiều [15]. Theo nghiên cứu của Sevil Ceyhan Dogan đưa

ra cân nặng trung bình của nhóm bệnh và nhóm chứng lần lượt là 71,07 ± 12,44

kg và 81,93 ± 11,93 kg (p=0,001) [16], thấy được sự chênh lệch về cân nặng có

ý nghĩa giữa hai nhóm. Nghiên cứu của chúng tơi có cân nặng trung bình thấp

hơn và khơng chênh lệch nhiều giữa hai nhóm như nghiên cứu nước ngồi vì có

sự khác biệt về đặc điểm ngoại hình giữa người châu Á và châu Âu.



ed



ici



Về chiều cao, khơng có sự khác biệt giữa nhóm bệnh và nhóm chứng

(p>0,05), chiều cao trung bình của nhóm bệnh là 1,53±0,054 m, của nhóm chứng

là 1,55±0,047 m (bảng 3.5).



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



ol



of



M



Chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình của nhóm bệnh là 21,6±3,12 và của

nhóm chứng là 23,16±2,26, khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm (p>0,05), phần

lớn bệnh nhân VKDT có BMI trung bình (bảng 3.5, 3.6). Tương tự với nghiên

cứu của Đào Hùng Hạnh năm 2001 có BMI trung bình của nhóm bệnh và nhóm

chứng lần lượt là 23,1 và 22,5 [15]. Thấp hơn so với các nghiên cứu nước ngoài:

nghiên cứu của Sevil Ceyhan Dogan năm 2015 có BMI trung bình của nhóm

bệnh là 28,79±5,2 và nhóm chứng là 32,62±4,45 [16]; nghiên cứu của Jon T.

Giles năm 2008 có BMI trung bình của 117 BN nữ VKDT của nhóm chứng và

nhóm bệnh là 28,3±5,6 và 26,2±4,8 [26]. Thể trạng cơ thể của người châu Á

luôn thấp bé hơn so với người châu Âu do vậy BMI trung bình của người châu Á

thấp hơn.



32



VN

U



4.2. Chỉ số khối cơ và các yếu tố liên quan của đối tƣợng nghiên cứu

4.2.1. Chỉ số khối cơ (SMI)



ed



ici



ne



an



d



Ph

ar

m



ac

y,



Cơ xương là một trong những mô dẻo dai nhất của cơ thể, chiếm khoảng

40% trọng lượng cơ thể, chứa 50-75% tổng số protein cơ thể, có chắc năng vận

động. Khối cơ xương phụ thuộc vào sự cân bằng giữa đồng hóa và dị hóa

protein, cả hai q trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng dinh

dưỡng, cân bằng nội tiết, hoạt động thể chất, chấn thương, bệnh tật,…Cơ xương

có vai trò quan trọng đối với cơ thể. Xét về mặt cơ học, giúp chuyển năng lượng

hóa học thành năng lượng cơ học để tạo ra sức mạnh và năng lượng, phát sinh

động tác và tạo ra chuyển động cho phép cơ thể tham gia vào các hoạt động xã

hội và làm việc. Ngồi ra, cơ xương còn đóng góp vào chuyển hóa năng lượng

cơ bản, lưu trữ các axit amin và carbonhydrat, sản sinh nhiệt để duy trì nhiệt độ

cơ thể, và tiêu thụ phần lớn năng lượng và oxy trong quá trình hoạt động thể chất

và tập thể dục, giảm khối lượng cơ làm cơ thể giảm khả năng đáp ứng với stress

và bệnh mạn tính [21].



ht

@



Sc



ho



ol



of



M



Tuổi tác ảnh hưởng không nhỏ tới sự thay đổi khối cơ xương ở người.

Theo nghiên cứu của Hughes và cộng sự cho rằng sau 50 tuổi, mất khối lượng cơ

hằng năm là 1%-2% [28]. Tình trạng lão hóa ảnh hưởng tới sản xuất hormone và

sự độ nhạy của nó, đặc biệt là liên quan đến hormone tăng trưởng (GH)/ yếu tố

tăng trưởng giống insulin-I (IGF-1), corticoid, androgen, estrogen, insulin.

Những hormone này có thể gây tác động đến chuyển hóa protein với chu trình là

đồng hóa và dị hóa. Giảm nồng độ GH/IGF-1 thường thấy ở người cao tuổi và

song hành với những thay đổi trong thành phần cơ thể, tức là tăng tỷ lệ mỡ nội

tạng và giảm khối lượng cơ nạc và mật độ khoáng của xương. Tăng mỡ nội tạng

và giảm khối lượng cơ nạc và mật độ khống của xương được nhìn thấy ở những

người có biểu hiện hội chứng Cushing [32].



Co



py



rig



Các cytokine gây viêm: yếu tố hoại tử u (TNF-α), interleukin (IL-6, IL-1),

và protein C-reactive (CRP) đã được chứng minh là nguyên nhân làm giảm khối

lượng cơ, chúng tham gia kích hoạt hoặc ngăn chăn các con đường truyền tín

33



VN

U



ac

y,



hiệu, ảnh hưởng đến sự tổng hợp và phân giải protein, gây ra tỉ lệ tổng hợp

protein giảm nhưng tỉ lệ phân giải protein tăng, cuối cùng gây mất khối cơ và

yếu cơ [14,46].



an



d



Ph

ar

m



Trong nghiên cứu của chúng tơi, chỉ số khối cơ trung bình ở nhóm bệnh

5,97 ± 0,79 thấp hơn nhiều so với nhóm chứng 9,52 ± 0,6 và có ý nghĩa thống kê

(p=0,043) (bảng 3.7). Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Sevil

Ceyhan Dogan năm 2015 đưa ra: SMI trung bình của nhóm bệnh (5,83 ± 0,8)

thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng (7,3 ± 1,64) (p<0,05) [16]. Theo nghiên

cứu của Meltem Alkan Melikoglu and Kazim Senel công bố năm 2014 [36], tỷ lệ

người có SMI thấp là cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân VKDT khi so sánh

với nhóm chứng (20% và 7%; p <0,05). Nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh (2011)

cho tỉ lệ sarcopenia (SMI5,75 với phương pháp DEXA) ở bệnh nhân VKDT



M



ed



ici



ne



cao hơn so với nhóm chứng (p=0,007). Vì tuổi trung bình của hai nhóm nghiên

cứu (nhóm bệnh và nhóm chứng) là tương tự nhau nên ảnh hưởng của tuổi tác

lên chỉ số khối cơ giữa hai nhóm là khơng chênh lệch nhiều. Do vậy, có sự chênh

lệch SMI ở đây có thể là do tác động của bệnh VKDT – bệnh lý viêm mạn tính,

gây nên.



of



4.2.2. Tƣơng quan giữa SMI và tuổi của bệnh nhân



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



ol



Khoảng 66% bệnh nhân VKDT có dấu hiệu mất khối tế bào (suy mòn

khớp dạng thấp), chủ yếu là khối cơ xương (sarcopenia dạng thấp) [43]. Người ta

tin rằng các cytokine viêm TNF-α và IL-1β có vai trò quan trọng trong sinh lý

bệnh bệnh VKDT. Ở bệnh nhân VKDT do TNF-α tăng, có thể gây ra và đẩy

nhanh sự tiến triển của thiếu cơ [14]. Ngoài ra, trong một nghiên cứu của Evans

và các cộng sự, tác giả cho rằng 50% khối lượng cơ sẽ bị mất trong độ tuổi từ

45-90 tuổi nếu khơng có biện pháp phòng ngừa [17]. Theo nghiên cứu của

Hughes và cộng sự cho rằng sau 50 tuổi, mất khối lượng cơ hằng năm là 1%-2%

[28]. Nghiên cứu của Đồn Cơng Minh và cộng sự (2012) về tình trạng thiếu cơ

ở những người > 50 tuổi đã chỉ ra rằng: tần suất thiếu cơ tăng theo độ tuổi [6].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trên, SMI có

34



VN

U



4.2.3. Tƣơng quan giữa SMI và BMI của bệnh nhân



ac

y,



tương quan với tuổi bệnh nhân, tuổi càng cao thì SMI càng giảm, phần lớn bệnh

nhân có SMI thấp ở nhóm tuổi từ 50 tuổi trở lên (hình 3.2).



M



ed



ici



ne



an



d



Ph

ar

m



Trong hầu hết các nghiên cứu, chỉ số khối cơ thể BMI, chỉ số đánh giá

trọng lượng cơ thể theo chiều cao, cân nặng được dùng làm đại diện để đánh giá

thể trạng cơ thể, tuy nhiên, có thể thấy các đối tượng có BMI tương đương nhau

nhưng có thành phần cơ thể khác nhau, vấn đề này đã được đặt nhiều nghi vấn

[22]. Do đó đã có nhiều nghiên cứu về thành phần cơ thể dựa trên phương pháp

DEXA để làm sáng tỏ điều này. Theo nghiên cứu của Sevil Ceyhan Dogan trên

30 bệnh nhân VKDT cho thấy hầu hết những bệnh nhân VKDT giảm SMI là

nhóm BMI bình thường hoặc thừa cân [16]. Trong nghiên cứu của Jon T. Giles

năm 2008 đánh giá thành phần cơ thể và thấy rằng tần số giảm SMI cao hơn

đáng kể ở nhóm bệnh so với nhóm chứng và giảm SMI thường gặp hơn ở nhóm

bệnh nhân VKDT có BMI bình thường [26]. Trong nghiên cứu của chúng tơi cho

thấy có sự tương quan giữa SMI và BMI của bệnh nhân, bệnh nhân có SMI thấp

phân bố chủ yếu ở nhóm BMI bình thường (hình 3.3), tương tự với kết quả hai

nghiên cứu trên.



of



4.2.4. Tƣơng quan giữa SMI và thời gian mắc bệnh VKDT



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



ol



Trong nghiên cứu của chúng tơi, bệnh nhân có SMI thấp phân bố chủ yếu

ở nhóm có thời gian mắc bệnh dưới 5 năm, tuy nhiên không thấy sự tương quan

giữa hai yếu tố này (hình 3.4). Điều này mẫu thuẫn với giả thuyết thời gian mắc

bệnh càng lớn thì mức độ viêm, tàn phá khớp càng lớn, kéo theo hậu quả giảm

chỉ số khối cơ càng nhiều, có lẽ do nghiên cứu của chúng tơi cỡ mẫu nhỏ, phần

lớn bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dưới 5 năm. Do vậy, nên có nghiên cứu với

cỡ mẫu đủ lớn để khảo sát sự tương quan giữa SMI và thời gian mắc bệnh chính

xác hơn.



35



VN

U



4.2.5. Tƣơng quan giữa SMI và các yếu tố đánh giá mức độ hoạt động của

bệnh



Ph

ar

m



ac

y,



Cytokine, đặc biệt là IL-6 và yếu tố hoại tử u (TNF-α) được cho là làm

tăng sự mất cơ [24]. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng bệnh viêm mãn tính

dẫn đến giảm khối cơ. Người ta tin rằng các cytokine viêm, TNF-α, IL-1β có vai

trò then chốt trong sinh lý bệnh của bệnh VKDT. TNF-α tăng lên ở bệnh nhân

VKDT nên người ta cho rằng đây là nguyên nhân gây ra và đẩy nhanh tốc độ

mất cơ ở bệnh nhân VKDT [16,38].



ho



ol



of



M



ed



ici



ne



an



d



Theo nghiên cứu của Sevil Ceyhan Dogan khơng có mối liên quan giữa

SMI thấp và DAS28 ở nhóm bệnh nhân VKDT, trong khi đó, thấy nồng độ CRP

cao ở những bệnh nhân VKDT SMI thấp (p=0,23) [16]. Nghiên cứu của Jon T.

Giles năm 2008 thấy khối lượng nạc giảm và khối lượng chất béo tăng cao liên

quan đến tăng RF, CRP, biến dạng khớp, nhưng không liên quan đến DAS28

[26]. Nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh và cộng sự (2001) đánh giá thành phần cơ

thể ở phụ nữ VKDT giai đoạn sớm, thấy rằng tần số SMI thấp cao hơn đáng kể ở

nhóm VKDT và thay đổi thành phần này có liên quan đến tăng chỉ số DAS28

[15]. Trong nghiên cứu của chúng tơi, SMI thấp có liên quan với CRP, nồng độ

CRP càng cao thì SMI càng giảm, SMI khơng liên quan với chỉ số (hình 3.5,

3.6). Kết quả này của chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu Dogan và Giles,

khác với kết quả của Đào Hùng Hạnh có thể do đối tượng nghiên cứu của Đào

Hùng Hạnh là bệnh nhân VKDT ở giai đoạn sớm.



Sc



4.2.6. Liên quan giữa SMI và điều trị VKDT



Co



py



rig



ht

@



Theo nghiên cứu của chúng tơi, khơng có sự khác biệt giữa điều trị

DMARDs và SMI thấp (p>0,05), nhưng tỉ lệ những BN được điều trị DMARDs

liên tục có xu hướng có tăng SMI (bảng 3.8). Kết quả này tương tự với: nghiên

cứu của Jon T. Giles (2008) [26] và nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh (2001) [15]

cho thấy điều trị DMARDs không liên quan đến tỉ lệ thành phần cơ thể bất

thường, nghiên cứu của Sevil Ceyhan Dogan [16] chỉ ra khơng có sự khác biệt

đáng kể giữa việc dùng thuốc và SMI thấp ở bệnh nhân VKDT (chỉ số khối cơ

36



VN

U



Ph

ar

m



ac

y,



thấp được thấy ở 11/24 (45,8%) đối tượng được điều trị DMARDs). Nghiên cứu

của Marcora và các cộng sự (2006) báo cáo rằng điều trị etanercept có liên quan

với tăng khối lượng nạc ở một nhóm bệnh nhân VKDT sớm [34]. Phát hiện thú

vị này nên được xác nhận trong một nghiên cứu lớn hơn và câu hỏi đặt ra là liệu

liệu pháp chống TNF có trực tiếp ảnh hưởng tới chuỗi chuyển hóa trên cơ hay

chỉ là tác dụng gián tiếp thơng qua việc giảm đau, giảm mức độ hoạt động của

bệnh VKDT, từ đó làm tăng chức năng và hoạt động thể chất của cơ thể.



Sc



ho



ol



of



M



ed



ici



ne



an



d



Corticoid gây rối loạn phân bố mỡ trong cơ thể, theo nghiên cứu của Silva

(2007) cho thấy BN điều trị corticoid gây giảm khối lượng nạc và tăng khối

lượng mỡ [41]. Tương tự với nghiên cứu của chúng tơi, BN điều trị corticoid có

tỉ lệ SMI thấp cao hơn nhóm khơng điều trị, chiếm 86,84% (33/38), SMI trung

bình là 5,83±0,56 và cho thấy điều trị corticoid có liên quan tới SMI thấp

(p<0,05) (bảng 3.9). Kết quả này lại khác hoàn toàn so với các nghiên cứu của

Jon T. Giles (2008) và nghiên cứu của Đào Hùng Hạnh (2001) cho rằng điều trị

corticoid và SMI thấp là khơng liên quan đến nhau [15,26]. Có sự khác biệt này

có lẽ do trong nghiên cứu của chúng tơi, sự ảnh hưởng của corticoid tới chuyển

hóa của bệnh nhân lớn, có 87,8% bệnh nhân có dùng corticoid, trong đó có 17/35

(48,6%) BN có mức cortisol máu thấp (cortisol máu trung bình là 48,88±38,22)

(bảng 3.4), do vậy thấy được sự liên quan giữa sử dụng corticoid và SMI thấp.

Cần có một nghiên cứu với số lượng bệnh nhân đủ lớn để khảo sát mối liên quan

giữa corticoid và giảm chỉ số khối cơ ở bệnh nhân VKDT, từ đó đưa ra những

khuyến cáo hữu ích cho các bác sĩ lâm sàng.



Co



py



rig



ht

@



Nghiên cứu của chúng tơi còn một số hạn chế, là một nghiên cứu mô tả cắt

ngang, cỡ mẫu nhỏ, chỉ số khối cơ theo công thức dựa trên chỉ số nhân trắc học,

vì vậy nên so sánh với phương pháp DEXA.



37



VN

U



KẾT LUẬN



ac

y,



Nghiên cứu đánh giá chỉ số khối cơ trên 41 bệnh nhân VKDT điều trị tại

Bệnh viện E từ 1/7/2017 đến 20/4/2018, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Chỉ số khối cơ



d



2. Một số yếu tố liên quan đến chỉ số khối cơ



Ph

ar

m



Chỉ số khối cơ (SMI) ở nhóm bệnh thấp hơn so với nhóm chứng (p<0,05):

SMI trung bình của nhóm bệnh là 5,97 ± 0,79, nhóm chứng: 9,52 ± 0,6. Phần lớn

bệnh nhân VKDT có chỉ số khối cơ thấp: 92,68% (38/41), trong khi ở nhóm

chứng khơng có đối tượng nào.



ne



an



Tuổi trung bình của bệnh nhân là 59,07±11,68 tuổi và có sự tương quan

nghịch với SMI, tuổi càng cao thì SMI càng thấp, đa số bệnh nhân từ 50 tuổi trở

lên có SMI thấp.



M



ed



ici



BMI trung bình của bệnh nhân là 21,6±3,12 kg/m2. Chỉ số khối cơ và BMI

của bệnh nhân có mối tương quan thuận với nhau, bệnh nhân có SMI thấp tập

trung chủ yếu ở nhóm có BMI bình thường.



ol



of



Bệnh nhân có CRP trung bình ở mức cao: 44,89±50,66, có 92,68% BN có

CRP cao. Có sự tương quan nghịch giữa SMI và CRP, nồng độ CRP càng cao thì

SMI càng giảm.



Sc



ho



Chỉ số khối cơ liên quan điều trị corticoid của bệnh nhân VKDT. Bệnh

nhân điều trị corticoid có tỉ lệ SMI thấp cao hơn nhóm khơng điều trị, chiếm

86,84% (33/38), SMI trung bình là 5,83±0,56 (p<0,05).



Co



py



rig



ht

@



Các yếu tố khác: thời gian mắc bệnh, DAS28, điều trị cơ bản có sự liên

quan khơng rõ ràng với SMI.



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.9: Liên quan giữa SMI và điều trị corticoid

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×