Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1: Cơ chế bệnh sinh trong VKDT [35].

Hình 1.1: Cơ chế bệnh sinh trong VKDT [35].

Tải bản đầy đủ - 0trang

VN

U



Ph

ar

m



ac

y,



điểm toàn phát, các khớp hay gặp là khớp cổ tay (80-100%), các khớp bàn ngón

(70-85%), khớp ngón gần (70-75%), khớp khuỷu (20-50%), khớp gối (55-75%),

khớp cổ chân (40-75%), khớp vai (2,4 – 60%) [4]. Khớp vai, khớp háng là các

khớp ít gặp và thường xuất hiện khi bệnh đã diễn biến nhiều năm. Sưng đau các

khớp kiểu viêm, diễn biến kéo dài trên 6 tuần và nhiều đợt tái phát là các chỉ

điểm tin cậy của bệnh VKDT.



an



d



Trong trường hợp bệnh khơng được kiểm sốt, bệnh nhân sẽ có nhiều đợt

tiển triển liên tiếp sau một thời gian tiến triển mạn tính, các khớp nhanh chóng bị

biến dạng với hình dáng gợi ý: bàn tay gió thổi, cổ tay hình lưng lạc đà, ngón tay

hình cổ cò, ngón tay của người thợ thùa khuyết, ngón gần hình thoi, gan bàn

chân tròn,… [4,5,19].



ne



Tồn thân bệnh nhân VKDT thường bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Gầy sút,

thiếu máu, chán ăn là những dấu hiệu phù hợp với diễn biễn mạn tính của bệnh.



M



ed



ici



Các triệu chứng ngoài khớp như hạt dưới da (rất đặc hiệu trong VKDT

nhưng ít gặp tại Việt Nam); viêm gân, yếu cơ, viêm dây chằng và phần mềm

cạnh khớp cũng có thể gặp [4,5].



of



Một số trường hợp hiếm có tổn thương nội tạng như màng tim, màng phổi,

não thường xuất hiện trong các đợt tiến triển [4].



ol



1.1.5. Triệu chứng cận lâm sàng



Sc



ho



Điển hình là hội chứng viêm sinh học với các yếu tố phản ánh đáp ứng

viêm cấp trong bilan viêm gồm hội chứng thiếu máu, tốc độ máu lắng (ESR)

thường dương tính và tăng các protein viêm (fibrinogen, fibrin, γ globulin, CRP).



ht

@



Các xét nghiệm miễn dịch gồm yếu tố dạng thấp RF và anti CCP thường

dương tính.



Co



py



rig



Xét nghiệm dịch khớp thường biểu viêm cấp với tăng bạch cầu đa nhân

khơng thối hố, ngồi ra giảm lượng mucin (test mucin dương tính), có tế bào

hình nho.

Sinh thiết màng hoạt dịch: chẩn đốn xác định thể một khớp.

5



VN

U



1.1.6. Hình ảnh tổn thƣơng qua chẩn đốn hình ảnh



Ph

ar

m



Xquang quy ƣớc:



ac

y,



Nội soi khớp cho hình ảnh điển hình là sự tăng sinh hình lơng MHD với

nhiều mạch máu ngoằn ngo. Sinh thiết làm giải phẫu bệnh sẽ giúp ích chẩn

đốn [4,5].



Steinbrocker chia tổn thương X-quang thành 4 giai đoạn [7]:

 Giai đoạn I: X-quang chưa thay đổi, hình ảnh tổn thương mất chất khống.

 Giai đoạn II: Khe khớp hẹp nhẹ, có hình bào mòn xương, hốc xương.



d



 Giai đoạn III: Khe khớp hẹp, nham nhở, dính khớp một phần.



an



 Giai đoạn IV: Dính khớp, biến dạng khớp trầm trọng.



ici



ne



Cộng hƣởng từ tại khớp tổn thƣơng: phát hiện thấy hiện tượng phù

xương do hiện tượng viêm MHD gây xung huyết từng phần của xương và sự

xâm nhập của dịch rỉ viêm [4].



M



ed



Siêu âm khớp tổn thƣơng: phát hiện tình trạng viêm MHD, đặc biệt là

trong đợt tiến triển và hình ảnh bào mòn xương [4].



of



1.1.7. Đánh giá mức độ hoạt động bệnh



rig



ht

@



Sc



ho



ol



Viêm khớp dạng thấp là bệnh gây ảnh hưởng tới cấu trúc và chức năng của

khớp làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Những hậu quả này có thể

ngăn ngừa một phần dựa vào phương pháp chẩn đoán sớm và điều trị phù hợp, vì

vậy đòi hỏi có chiến lược đánh giá độ hoạt động của bệnh và đáp ứng điều trị.

Do đó, vào những năm 90, dựa trên các đánh giá lâm sàng và kết quả xét

nghiệm, nhiều thang đo mức độ hoạt động của bệnh VKDT ra đời. Các thang đo

DAS28, SDAI, CDAI đánh giá được khá tốt mức độ hoạt động của bệnh, và có

độ nhạy tương đương nhau [23].

Cơng thức DAS28-ESR:



Co



py



DAS28=[0,56×√số khớp đau+0,28×√số khớp sưng+0,7×ln(ESR-1h)]×1,08+0,16

Đánh giá độ hoạt động bệnh theo thang điểm DAS28:

6



VN

U



 DAS28<2,6: bệnh không hoạt động.

 2,6DAS28<3,2: bệnh hoạt động nhẹ.



ac

y,



 3,2DAS285,1: bệnh hoạt động trung bình.

 DAS28>5,1 : bệnh hoạt động mạnh [47].



Ph

ar

m



1.1.8. Chẩn đoán xác định



Chẩn đoán xác định VKDT dựa vào tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học

Hoa Kỳ (ACR) 1987.



an



d



Hiện nay tiêu chuẩn này vẫn đang được áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới

và Việt Nam đối với thể biểu hiện nhiều khớp có thời gian diễn biến viêm khớp

trên 6 tuần.

 Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ.



ed



ici



ne



 Viêm tối thiểu ba nhóm khớp: sưng phần mềm hay tràn dịch tối thiểu 3

trong số 14 nhóm khớp sau (kể cả hai bên): khớp ngón gần bàn tay, khớp

bàn ngón, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn

ngón chân.



of



M



 Viêm các khớp ở bàn tay: sưng tối thiểu một nhóm trong số các khớp cổ

tay, khớp ngón gần, khớp bàn ngón tay.

 Viêm khớp đối xứng.



ol



 Hạt dưới da.



ho



 Yếu tố dạng thấp trong huyết thanh dương tính.



ht

@



Sc



 Dấu hiệu X-quang điển hình của VKDT: chụp khớp tại bàn tay, cổ tay

hoặc khớp tổn thương: hình bào mòn, hình hốc, hình khuyết đầu xương,

hẹp khe khớp, mất chất khoáng đầu xương.

Chẩn đốn xác định: khi có 4 tiêu chuẩn. Triệu chứng viêm khớp(tiêu



rig



chuẩn 1-4) cần có thời gian diễn biến 6 tuần và được xác định bởi thầy thuốc.



Co



py



Tiêu chuẩn ACR 1987 có độ nhạy 91%-94% và độ đặc hiệu 89% ở giai đoạn tiến

triển của bệnh [4,10].



7



VN

U



1.1.9. Điều trị



ac

y,



Mục đích: kiểm sốt q trình viêm khớp, phòng ngừa hủy khớp, bảo vệ

chức năng khớp, giảm thiểu tối đa các triệu chứng, nâng cao chất lượng sống.



Ph

ar

m



Các phương pháp điều trị gồm sử dụng thuốc, vật lý trị liệu, phục hồi chức

năng, quản lý bệnh nhân, giáo dục, tư vấn.



ici



ne



an



d



Nguyên tắc điều trị thuốc: kết hợp nhiều nhóm thuốc: thuốc điều trị triệu

chứng (thuốc chống viêm, thuốc giảm đau), và thuốc DMARD’s ngay từ giai

đoạn đầu của bệnh. Các thuốc điều trị có thể phải duy trì nhiều năm, thậm chí

phải dùng thuốc suốt đời trên nguyên tắc số nhóm thuốc và liều thuốc tối thiểu

có hiệu quả. Riêng corticoid thường chỉ sử dụng trong những đợt tiến triển. Với

nhóm thuốc DMARD’s, phác đồ thường dùng, có hiệu quả, ít tác dụng khơng

mong muốn, đơn giản, chi phí thấp nhất ở nước ta là methotrexate phối hợp với

thuốc chống sốt rét tổng hợp trong năm năm đầu và sau đó là methotrexate đơn

độc [2,4,5].



ed



1.2. Tổng quan về khối cơ xƣơng



M



1.2.1. Đại cƣơng



ht

@



Sc



ho



ol



of



Cơ xương là một trong những mô dẻo dai nhất của cơ thể và có khả năng

vận động. Ở người, cơ xương chiếm khoảng 40% trọng lượng cơ thể, chứa 5075% tổng số protein cơ thể. Cơ có thành phần chính là nước (75%), protein

(20%), và các chất khác bao gồm muối vơ cơ, chất khống, chất béo và

carbonhydrat (5%). Nói chung, khối cơ xương phụ thuộc vào sự cân bằng giữa

đồng hóa và dị hóa protein, cả hai quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như

tình trạng dinh dưỡng, cân bằng nội tiết, hoạt động thể chất, chấn thương, bệnh

tật,…[21].



Co



py



rig



Cơ xương có vai trò đáng kể đối với cơ thể. Xét về mặt cơ học, chức năng

chính của cơ xương là chuyển năng lượng hóa học thành năng lượng cơ học để

tạo ra sức mạnh và năng lượng, phát sinh động tác và tạo ra chuyển động cho

phép cơ thể tham gia vào các hoạt động xã hội và làm việc. Xét về khía cạnh trao

8



VN

U



1.2.2. Ảnh hƣởng của tuổi tới khối cơ xƣơng



Ph

ar

m



ac

y,



đổi chất, cơ xương còn đóng góp vào chuyển hóa năng lượng cơ bản, lưu trữ các

axit amin và carbonhydrat, sản sinh nhiệt để duy trì nhiệt độ cơ thể, và tiêu thụ

phần lớn năng lượng và oxy trong quá trình hoạt động thể chất và tập thể dục

[21]. Một vai trò đặc biệt nữa của cơ xương là nguồn chứa các axit amin cần

thiết để tổng hợp protein đặc hiệu cho các mô khác như da, não, tim [48]. Thêm

nữa, nguồn amino acid giải phóng từ cơ góp phần duy trì đường máu trong điều

kiện đói dài ngày. Bên cạnh đó, giảm khối lượng cơ làm cơ thể giảm khả năng

đáp ứng với stress và bệnh mạn tính [21].



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



ol



of



M



ed



ici



ne



an



d



Một trong những điểm nổi bật nhất của sự lão hóa là tình trạng yếu và teo

cơ. Thuật ngữ sarcopenia đã được Rosenberg sử dụng lần đầu tiên với mất khối

cơ theo tuổi [40]. Gần đây, nhóm nghiên cứu ở châu Âu về sarcopenia ở người

cao tuổi đã mở rộng định nghĩa và đề xuất các tiêu chuẩn chẩn đoán bao gồm

giảm khối cơ, tức SMI thấp (SMI được xác định dựa trên DEXA, phương pháp

đo hấp phụ năng lượng tia X kép, hoặc dựa trên các chỉ số nhân trắc học để tính

theo cơng thức sẵn có) và biểu hiện yếu cơ và/ hoặc giảm hiệu suất cơ (tốc độ di

chuyển chậm) [14]. Tỉ lệ sarcopenia trong dân số già được báo cáo trong khoảng

4-27% tùy thuốc vào từng nghiên cứu, giới tính và quốc gia [20]. Khối lượng và

sức mạnh cơ bị mất ở nam nhiều hơn nữ, ở chi dưới nhiều hơn chi trên [20,49].

Cần lưu ý rằng không phải tất cả mọi người đều mất dần khối cơ xương và sức

mạnh của nó tăng theo tuổi, một vài cá nhân vẫn giữ được sức mạnh cơ sau 10

năm theo dõi, điều này có thể liên quan tới việc luyện tập sức mạnh cơ hằng

ngày [29]. Ở mức độ từng sợi cơ riêng lẻ, sarcopenia có thể kết hợp với giảm số

lượng các tế bào liên kết, đặc biệt là các sợi liên kết với các sợi cơ nhóm II (loại

co rút nhanh), nhóm sợi cơ bị mất nhanh theo tuổi [45]. Lão hóa cơ cũng được

đặc trưng bởi sự thay đổi của các thành phần khác trong tế bào cơ, ví dụ sự mất

dần bào quan trong thế bào theo tuổi như mất ty thể, tuổi cao làm giảm chức

năng của ty thể từ đó ảnh hưởng tới mức độ hoạt động thể chất, và điều này có

thể được cải thiện một phần nhờ tập thể dục thường xuyên [13].



9



VN

U



an



d



Ph

ar

m



ac

y,



Mất neuron là q trình tiến triển khơng hồi phục tăng lên theo sự lão hóa

của cơ thể. Sự thối hóa thần kinh theo tuổi này có ảnh hưởng khơng nhỏ tới

khối cơ. Lão hóa ảnh hưởng lên hệ thần kinh ở nhiều mức độ bao gồm vùng vận

động chính ở vỏ não, tủy sống, các neuron ngoại biên, và các mối nối thần kinh

cơ. Trong tủy sống, có sự suy giảm số lượng các neuron vận động alpha và có

thể mất nhiều hơn những neurons hoạt động cơ nhanh. Nhiều báo cáo đã ghi

nhận tình trạng mất những sợi thần kinh ngoại biên liên quan đến tuổi cao và sự

thay đổi về bao myelin. Cuối cùng, những thay đổi được thấy ở mối nối thần

kinh cơ, với sự giảm số lượng nhưng tăng về kích thước vùng tận cùng và giảm

số lượng túi synap. Những điều trên, cùng với sự thay đổi hình thái cơ trong

bệnh lý thần kinh mạn tính, là yếu tố quan trọng làm giảm số lượng sợi cơ và

khối cơ [14].



ici



ne



1.2.3. Thay đổi nồng độ và độ nhạy hormone do lão hóa ảnh hƣởng tới khối

cơ xƣơng



ht

@



Sc



ho



ol



of



M



ed



Sự duy trì giá trị SMI (chỉ số khối cơ xương) ở mức tối ưu yêu cầu tỷ lệ

cân bằng giữa đồng hóa và dị hóa. Theo thời gian, sự mất cân bằng có thể dẫn

đến tình trạng mất cơ nghiêm trọng. Tình trạng lão hóa liên quan với những thay

đổi của sản xuất hormone và sự nhạy cảm đặc biệt là liên quan đến hormone tăng

trưởng (GH)/ yếu tố tăng trưởng giống insulin-I (IGF-1), corticoid, androgen,

estrogen, insulin. Những hormone này có thể gây tác động đến sự đồng hóa và dị

hóa để chuyển hóa protein cơ một cách tối ưu. Giảm nồng độ GH/IGF-1 thường

thấy ở người cao tuổi và song hành với những thay đổi trong thành phần cơ thể,

tức là tăng tỷ lệ mỡ nội tạng và giảm khối lượng cơ nạc và mật độ khoáng của

xương. Tăng mỡ nội tạng và giảm khối lượng cơ nạc và mật độ khống của

xương được nhìn thấy ở những người có biểu hiện hội chứng Cushing [32].

1.2.4. Thay đổi các yếu tố viêm do lão hóa ảnh hƣởng tới khối cơ xƣơng



Co



py



rig



Ở người cao tuổi thấy được tăng mức độ lưu hành của yếu tố hoại tử u

alpha (TNF-α), interleukin (IL-6, IL-1), và protein C-reactive (CRP). Mà các

cytokine gây viêm này đã được chứng minh là nguyên nhân làm giảm khối lượng

10



VN

U



ac

y,



cơ, chúng tham gia kích hoạt hoặc ngăn chăn các con đường truyền tín hiệu, ảnh

hưởng đến sự tổng hợp và phân giải protein. Như vậy, ảnh hưởng của q trình

lão hóa làm mất cân bằng hai q trình này: tỉ lệ tổng hợp protein giảm nhưng tỉ

lệ phân giải protein tăng, cuối cùng gây mất khối cơ và yếu cơ [46].



Ph

ar

m



1.2.5. Viêm khớp dạng thấp và khối cơ xƣơng



ici



ne



an



d



Khoảng 66% bệnh nhân VKDT có dấu hiệu mất khối tế bào (suy mòn

khớp dạng thấp), chủ yếu là khối cơ xương (sarcopenia dạng thấp) [43]. Người ta

tin rằng các cytokine viêm TNF-α và IL-1β có vai trò quan trọng trong sinh lý

bệnh bệnh VKDT. Do TNF-α tăng lên ở bệnh nhân VKDT nên bệnh VKDT có

thể gây ra và đẩy nhanh sự tiến triển của thiếu cơ [14]. Ở bệnh nhân VKDT,

giảm hoạt động thể chất, tăng nồng độ TNF-α và IL-1β, tăng tiêu hao năng lượng

trong thời gian nghỉ ngơi, nồng độ protein phản ứng C (CRP) cao, bất động thứ

cấp trong các đợt viêm tiến triển, kèm đau nhiều, cứng khớp, biến dạng khớp làm

tăng nguy cơ của thiếu cơ [24].



ho



ol



of



M



ed



Lối sống ít vận động là nguy cơ chủ yếu làm bệnh nhân VKDT tăng nguy

cơ mất cơ và yếu cơ, khoảng một nửa số bệnh nhân VKDT khơng tập thể dục, dù

là ít nhất 1 lần trong tuần. Ngoài ra, các yếu tố khác cũng làm thúc đẩy mất cơ và

gây tàn phế ở bệnh nhân VKDT bao gồm ăn uống không đầy đủ protein, điều trị

glucocorticoid, kèm theo tăng các cytokine gây viêm trong máu dẫn đến giảm

tổng hợp protein và tăng thối hóa protein của cơ thể [27].



ht

@



Sc



Các tác hại của thiếu cơ bao gồm giảm sức mạnh cơ bắp, suy nhược thần

kinh cơ, và rối loạn cân bằng do ít vận động [24]. Giảm khối cơ xương và yếu cơ

phát sinh từ tương quan tác động của các rối loạn, giảm hoạt động thể chất, giảm

kích thích tố, tăng chất trung gian viêm và thay đổi của protein xảy ra trong quá

trình lão hóa [39].



rig



1.2.6. Cách đo chỉ số khối cơ (SMI)



Co



py



Cơ xương chiếm phần lớn của khối lượng cơ thể người, tham gia vào

nhiều quá trình sinh học, do vậy, định lượng được từng thành phần của cơ xương



11



VN

U



an



d



Ph

ar

m



ac

y,



cung cấp những hiểu biết mới và quan trọng. Hiện nay các phương pháp ước

lượng cơ xương gồm: chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, đo hấp thụ tia X

năng lượng kép (DXA) cho kết quả phân tích thành phần cơ thể chính xác, chi

tiết [31]. Tuy nhiên, nhược điểm của các phương pháp này là tốn kém, bị phơi

nhiễm với bức xạ. Nghiên cứu của Lee và các cộng sự (2000) đã đưa ra cơng

thức tính chỉ số khối cơ của toàn bộ cơ thể dựa vào cân nặng và chiều cao của

đối tượng [33]. Phương pháp này đơn giản, chi phí thấp, khơng xâm lấn, thực

hiện được trên quần thể lớn, được chứng minh là hữu ích trong đánh giá lâm

sàng và nghiên cứu thực địa về khối lượng cơ xương ở người trưởng thành

khơng béo phì [33]. Phương trình dự đốn khối cơ xương đặc trưng cho cả giới

tính, tuổi tác và chủng tộc cụ thể:



ne



SMM = 0,244×BW + 7,8×Ht + 6,6×sex – 0,098×age + race-3,3 (SEE = 2,8kg).



ici



Trong đó: BW: cân nặng (kg), Ht: chiều cao (m), sex=0 (nữ), race = -1,2 đối với

người Đơng Nam Á.



ed



Từ đó, tính được chỉ số khối cơ SMI tồn cơ thể theo cơng thức:



M



SMI = SMM/Ht2. Ở nữ, chẩn đốn giảm khối cơ khi SMI  6,75 [37].



ol



1.3.1. Trên thế giới



of



1.3. Các nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



Nghiên cứu của Sevil Ceyhan Dogan và cộng sự về tỷ lệ sarcopenia ở bệnh

nhân nữ VKDT công bố năm 2015 tiến hành trên hai nhóm: nhóm mắc VKDT

và nhóm chứng [16]. Kết quả cho thấy chỉ số cơ (SMI) ở những bệnh nhân

VKDT (5,83 ± 0,807) thấp hơn so với nhóm chứng (7,30 ± 1,640). Sarcopenia (ở

nữ có SMI ≤ 5,75 kg/m2 được đánh giá bằng phương pháp DEXA) là phổ biến

hơn trong nhóm VKDT và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,004).

Sarcopenia là phổ biến hơn ở những bệnh nhân VKDT có BMI bình thường hoặc

thừa cân so với những người bị béo phì. Khơng có mối liên hệ giữa sarcopenia

và DAS28 trong nhóm VKDT (p = 0,530), trong khi nồng độ CRP cao hơn đáng

kể ở những bệnh nhân có SMI thấp (p = 0,230). Khơng có mối liên hệ giữa việc

12



VN

U



sử dụng thuốc và sarcopenia trong nhóm VKDT.



Ph

ar

m



ac

y,



Nghiên cứu của Jon T. Giles và các cộng sự về sự bất thường của thành

phần cơ thể ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cơng bố năm 2008 cho kết quả:

nhóm bệnh nhân VKDT có tỉ lệ sarcopenia cao hơn so với nhóm chứng, những

đối tượng có BMI bình thường có tỉ lệ bất thường về thành phần cơ thể cao hơn

so với các nhóm BMI khác. Các đặc điểm khác: tỉ lệ biến dạng khớp, CRP, RF,

điều trị cơ bản góp phần làm tăng sự bất thường của thành phần cơ thể [26].



M



ed



ici



ne



an



d



Năm 2013 M. Castañeda Ureña và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về thiếu

cơ ở mgười bệnh VKDT và lupus ban đỏ hệ thống trên đối tượng là những bệnh

nhân bị mắc bệnh khớp, loại trừ những người có bệnh mạn tính về tim, thận, gan

và cả những bệnh nhân đang điều trị ức chế khử HMG-CoA [44]. Nghiên cứu

này đã chỉ ra rằng: tuổi trung bình của nhóm bệnh là 40±13,4 tuổi và nhóm

chứng là 39±18 tuổi, có 94% là nữ. Tần số của BN thiếu cơ trong nhóm bệnh

nhân có bệnh tự miễn (26%) cao hơn so với nhóm kiểm sốt (20%), p = 0,000.

Khơng có sự khác biệt trong các trường hợp thiếu cơ kèm béo phì ở cả hai nhóm.

Tác giả cho rằng bệnh nhân mắc bệnh lý tự miễn có tỷ lệ thiếu cơ cao hơn so với

nhóm khơng mắc bệnh.



Sc



ho



ol



of



Theo nghiên cứu của Meltem Alkan Melikoglu and Kazim Senel công bố

năm 2014 [36]. Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh là 48,29±8,34 tuổi và nhóm

chứng là 46,21±6,9 tuổi. Tỷ lệ SMI thấp là cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân

VKDT khi so sánh với nhóm chứng (20% và 7%; p <0,05). Khơng có mối liên

hệ giữa SMI và các yếu tố nguy cơ: tuổi, thời gian mắc bệnh, cứng khớp buổi

sáng, đau, DAS28 và các xét nghiệm khác.



ht

@



1.3.2. Tại Việt Nam



Co



py



rig



Nghiên cứu của Đồn Cơng Minh và cộng sự (2012) về tình trạng thiếu cơ

ở những người trên 50 tuổi đã chỉ ra rằng: tần suất thiếu cơ tăng theo độ tuổi,

nam chiếm tỉ lệ cao hơn nữ: 11% ở nam và 10 % nữ [6].

Năm 2001, Đào Hùng Hạnh và các cộng sự tiến hành nghiên cứu về thành



13



VN

U



phần cơ thể của BN nữ VKDT giai đoạn sớm, cho thấy tỉ lệ sarcopenia ở nhóm

bệnh nhân VKDT cao hơn so với nhóm chứng (p=0,007) [15].



Co



py



rig



ht

@



Sc



ho



ol



of



M



ed



ici



ne



an



d



Ph

ar

m



ac

y,



.



14



VN

U



CHƢƠNG 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu



ac

y,



2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu



Ph

ar

m



 Nhóm bệnh: gồm 41 BN nữ chẩn đốn xác định là VKDT điều trị nội trú

và ngoại trú tại bệnh viện E.

 Nhóm chứng: gồm 41 đối tượng nữ bình thường.

2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn



d



 Bệnh nhân nữ được chẩn đốn xác định là VKDT theo tiêu chuẩn ACR

1987 có thời gian mắc bệnh ít nhất 1 năm.



ne



an



 Bệnh nhân nội trú có mã hồ sơ bệnh án, bệnh nhân ngoại trú có địa chỉ

liên lạc.



ici



 Bệnh nhân khơng có nhiễm trùng tại cơ quan khác ảnh hưởng đến kết quả

xét nghiệm.



ed



 Nhóm chứng gồm các đối tượng đi khám sức khỏe, không mắc bệnh.



M



 Các đối tượng tham gia nghiên cứu có BMI < 30 và đồng ý tham gia

nghiên cứu.



of



2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ



ol



Các đối tượng nghiên cứu không đáp ứng những tiêu chuẩn trên.



ho



2.1.4. Thời gian nghiên cứu



Sc



Nghiên cứu được tiến hành từ 1/7/2017 đến 20/4/2018.



ht

@



2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu



Giai đoạn 2: Thiết kế nghiên cứu bệnh chứng.



Co



py



rig



Giai đoạn 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1: Cơ chế bệnh sinh trong VKDT [35].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×