Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.1: Sản lượng ngô thế giới từ 1992 - 2000

Bảng 2.1: Sản lượng ngô thế giới từ 1992 - 2000

Tải bản đầy đủ - 0trang

78,22 triệu tấn so với 78,02 triệu tấn năm 2002. Xuất khẩu ngô của Mỹ năm

2003 đạt 51 triệu tấn, Trung Quốc 8 triệu tấn, Brazin 5,5 triệu tấn, Achentina 9

triệu tấn (Trích dẫn theo Trần Văn Minh, 2004).

Sản lượng ngô trên thế giới tăng nhanh trong những năm qua một phần là

do tăng diện tích (chủ yếu ở các nước đang phát triển), phần lớn là do tăng năng

suất. Năm 2003 năng suất ngơ bình qn thế giới 3,41. Các nước có năng suất

ngơ cao năm 2003 là Jocdani trồng 460 ha đạt năng suất bình quân 23,26 tấn/ha;

Kowet trồng 40 ha đạt năng suất bình quân 20 tấn/ha; Chi Lê 12,27 tấn/ha;

Ixraen 12 tấn/ha; Niuzilan 10,53 tấn/ha; Bỉ 10,52 tấn/ha; Tây Ban Nha 9,11

tấn/ha; Mỹ 8,92 tấn/ha; Hi Lạp 8,83 tấn/ha; Iran 8,57 tấn/ha; Áo 8,38 tấn/ha

(FAOSTAT, 2003).

Sản lượng sản xuất ngơ ở trên thế giới trung bình hằng năm từ 696,2 đến

723,3 triệu tấn (năm 2005 - 2007). Trong đó nước Mỹ sản xuất 40,62% tổng sản

lượng ngô và 59,38% do các nước khác sản xuất. Nhu cầu tiêu thụ nội địa ngô

trên thế giới rất lớn, trung bình hằng năm từ 702,5 đến 768,8 triệu tấn. Trong đó

nước Mỹ tiêu thụ 33,52% tổng sản lượng ngơ tiêu thụ và các nước khác chiếm

66,48%. Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hằng năm từ 82,6 đến

86,7 triệu tấn. Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41% tổng sản lượng và các nước khác

chiếm 35,59% . Sản lượng ngô trên thế giới năm 2007 tăng gấp đôi so với năm

30 năm trước đây (sản lượng khoảng 349 triệu tấn vào năm 1977)

(Visimex.com, 2012).

2.1.2. Những nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây ngô

Ngô là cây lương thực phổ biến được trồng ở khắp nơi trên thế giới, đem

lại năng suất, chất lượng cao. Tuy nhiên, từ lúc gieo hạt cho đến khi thu hoạch,

cây ngô bị nhiều lồi sâu hại tấn cơng. Vì vậy những nghiên cứu về thành phần

sâu hại ngô lần lượt ra đời.

Theo Waterhouse (1997), sâu hại trên ngơ ở phía Nam và phía Tây Thái

Bình Dương có 7 lồi. Trong đó, một số loài gây hại chủ yếu là: sâu keo



12



(Spodoptera mauritia Boisduval ), rệp ngô (Rhopalosiphum maidis Ficht), sâu

cắn lá ngô (Mythimna separate Howarth), sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia

furnacalis Guenee). Trong đó sâu đục thân ngơ Châu Á (Ostrinia furnacalis

Guenee) là loài sâu phá hại nặng nhất.

Theo Li et al. (1997), thành phần sâu hại ngô ở Nam Trung Quốc khá

phong phú có tới 156 lồi cơn trùng và nhện hại ngơ đã được ghi nhận. Trong

đó, bộ Cánh thẳng (Orthoptera) có số lồi nhiều nhất là 37 lồi. Ở đây xuất hiện

12 lồi sâu hại ngơ chủ yếu.

Morris và Waterhouse (2001) đã phát hiện trên ngô ở Myanmar có 17 lồi

sâu hại. Trong đó sâu xanh đục bắp (Helicoverpa armigera Hubner ) và sâu

khoang (Spodoptera litura Fabricius) là 2 loài sâu hại chủ yếu.

Theo Wang Ren Lyli Ying và Waterhouse (1995) ở các tỉnh phía Nam

Trung Quốc xuất hiện 12 lồi sâu hại ngơ. Đó là sâu đục thân, sâu xám, rệp ngơ,

bọ xít đen, bọ xít gai, sâu khoang, sâu ba ba, bọ xít dài, sâu cắn lá nõn, bọ xít

xanh, châu chấu và sâu róm.

2.1.3. Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô trên thế giới

Trên thế giới, sâu đục thân ngơ có hai loại đó là: Sâu đục thân châu Âu

(Ostrinia nubilalis Hubner) và sâu đục thân châu Á (Ostrinia furnacalis

Guenee). Do điều kiện khí hậu, thời tiết khác nhau nên đặc điểm sinh học sinh

thái của chúng có nhiều điểm khác nhau.

Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô châu Âu (Ostrinia nubilalis

Hubner):

Theo Jonhn L. Capinera (2000), sâu đục thân ngô lần đầu tiên tìm thấy ở

Bắc Mỹ gần Boston, Massachusetts vào năm 1917. Đến nay sâu đục thân ngô đã

trải rộng đến tận phía tây vùng núi Rocky trong cả Canada và Mỹ và đến tận

phía nam vịnh Gulf Coast. Sâu đục thân ngô được bắt nguồn từ châu Âu và lan

rộng ra các vùng khác, ở châu Phi cũng thấy sự xuất hiện của chúng. Sâu đục

thân ngô là sâu hại phổ biến ở Bắc Mỹ và nhiều vùng châu Âu.

13



Phạm vi ký chủ của sâu đục thân ngơ rất rộng, nó tấn cơng nhiều cây của

họ hòa thảo, những cây mà có thân đủ lớn để cho sâu đục thân chui vào. Khi

khơng có ngơ trên ruộng, sâu đục thân ngơ có thể phá hoại cây yến mạch, cây

kê... (Jonhn L. Capinera, 2000).

Jonhn L. Capinera (2000) đã nhận xét thành phần thiên địch của sâu đục

thân ngô bao gồm cả các loài ký sinh và các loài bắt mồi. Những loài bắt mồi và

ký sinh ở pha trứng và sâu non tuổi nhỏ có hiệu quả cao hơn cả. Nhóm thiên

địch bắt mồi phổ biến là Orius insidious (Say) (Hemiptera: Anthocoridae),

Chrysoperla spp. (Neuroptera: Chrysopidae), các loại bọ rùa (Coleoptera:

Coccinellidae). Nhóm thiên địch này tiêu diệt được khoảng 10 đến 20% trứng và

sâu non của sâu đục thân ngơ. Đã tìm thấy 24 lồi ký sinh trên sâu đục thân ngơ.

Có 6 lồi đã được nghiên cứu thành cơng. Trong 6 lồi này có lồi ruồi ký sinh

sâu đục thân ngơ Lydella thompsoni Herting (Diptera: Tachinidae) là quan trọng

hơn cả. Nó tiêu diệt được trên 30% sâu đục thân ngô ở nhiều vùng. Nhưng sự ký

sinh của lồi này khơng ổn định chúng có thể biến mất ở nhiều vùng. Một số

lồi ký sinh khác là Eriborus terebrans Gravenhorst (Hymenoptera:

Ichneumonidae),



Simpiesis



viridula



(Hymenoptera:



Eulophidae)







Macrocentris grandii Goidanich (Hymenoptera: Braconidae).

Theo Zhenying et al. (2013), cho biết kể từ đầu những năm 1950, một

nghiên cứu toàn diện về việc sử dụng các loài ong ký sinh Trichogramma ký

sinh trứng đã được tiến hành để kiểm soát sâu đục thân ngô . Nghiên cứu và ứng

dụng của Trichogramma đã mở rộng ở Trung Quốc và nó đã được sử dụng rộng

rãi trong việc kiểm sốt sinh học thành cơng của nhiều lồi cơn trùng, đặc biệt là

sâu đục thân ngơ châu Á tại Bắc Trung Quốc.

Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia funacalis

Guenee):

Theo V. O. Khomencova, sự phát dục của trứng chỉ xảy ra ở 9 - 35 oC,

nhưng nhiệt độ thích hợp để trứng nở đều và ít ung nhất là 17,5 - 30 oC. Phản



14



ứng của sâu non với nhiệt độ thay đổi tùy theo tuổi. Sâu tuổi 1 - 4 phát dục bình

thường trong phạm vi tương đối rộng từ 10 - 32 oC. Đối với sâu tuổi 4 - 5 giới

hạn trên của nhiệt độ phát dục là 28 - 30 oC, ở nhiệt độ cao hơn tỷ lệ chết của sâu

tăng lên. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát dục của sâu là 23 - 28 oC. Đối với

nhộng, nhiệt độ cần thiết để phát dục bình thường là 15 - 32 oC (Trích dẫn theo

Bộ mơn cơn trùng, 2004).

Theo tài liệu của Kojanxnhicov (1937), khởi điểm phát dục của các giai

đoạn sâu như sau: trứng - 9,5°C; sâu non - 9,2°C; tiền nhộng - 20,5°C; nhộng 10°C và trưởng thành - 7°C. Khi tính tổng tích ơn hữu hiệu chung cho cả chu kỳ

phát dục, một số tác giả thường lấy nhiệt độ khởi điểm chung là 10°C. Để hoàn

thành một chu kỳ phát dục, sâu đục thân ngô yêu cầu nhiệt độ hàng ngày trong

thời gian phát triển phải lớn hơn nhiệt độ khởi điểm 10°C (Trích dẫn theo Bộ

mơn cơn trùng, 2004).

Sâu đục thân ngơ ưa ẩm, đòi hỏi ẩm độ khơng khí rất cao. Khi ẩm độ

khơng khí giảm xuống 55 - 60%, tỷ lệ sâu chết 100%. Khi ẩm độ từ 75 - 80% tỷ

lệ hóa nhộng < 5%. Khi ẩm độ đạt tới 100% tỷ lệ hóa nhộng tới 60% và sâu hóa

nhộng cao nhất khi được tiếp xúc với nước ẩm (L.A. Ladujenxkaia. 1935). Theo

K. V. Krinhixke (1932), độ ẩm còn ảnh hưởng đến thời gian sống và khả năng

sống của trưởng thành. Ngài nuổi trong điều kiện không đủ ẩm bị chết rất nhanh

không kịp đẻ trứng. Theo dõi trong tủ định ôn, ở nhiệt độ 22 - 35 oC, ẩm độ 40%,

từ ngày thứ 2 - 4 ngài đã bị chết, nếu ngài đã đẻ trứng thì số lượng trứng khơng

đáng kể. Theo I. I. Lukasa (1959), độ ẩm khơng khí 80% số lượng trứng đẻ của

ngài đã giảm đi còn 42% (Trích dẫn theo Bộ mơn cơn trùng, 2004).

M. Belen và G.P Evangeline (2006) cho biết hiệu quả sử dụng bọ đi

kìm Euborellia annulipes Lucas trong đấu tranh sinh học phòng trừ sâu đục thân

ngô châu Á Ostrinia funicalis Guenee, một lồi sâu hại phá hoại ngơ nặng nhất

ở Philippines, đã được đánh giá trong các thí nghiệm nhỏ và quy mơ lớn.



15



2.1.4. Những nghiên cứu về tính kháng thuốc của bộ cánh vảy

(Lepidoptera) và sâu đục thân ngô trên thế giới

Tính kháng thuốc là một sự thay đổi tính mẫn cảm đối với các hoạt chất

của thuốc có khả năng di truyền của một quần thể sâu hại, được thể hiện trong

sự vơ hiệu của chất đó với cơn trùng, mà đúng ra sẽ đạt được mức phòng trừ

mong đợi khi sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn cho loài sâu hại đó (IRAC,

2014).

Khi nghiên cứu tính kháng thuốc của sâu khoang Spodoptera litura

(Lepidoptera: Noctuidae) tại 5 huyện ở Hồ Nam - Trung Quốc từ năm 2010 đến

2012 với một số hoạt chất hóa học, Hong Tong et al. (2013) đã nhận xét rằng tỷ

lệ kháng của sâu khoang với nhóm organophosphates và nhóm pyrethroids xấp

xỉ nhau. Nhóm emamectin, indoxacarb, và chlorfenapyr có tỷ lệ kháng thấp hơn,

và cao nhất với thiodicarb hoặc methomyl. Một số hoạt chất khơng có ý nghĩa

trong việc phòng trừ sâu khoang như thiodicarb, methomyl, và deltamethrin. Từ

đó cho thấy tầm quan quan trong của việc nghiên cứu tính kháng của sâu khoang

để tìm được cách giải quyết phù hợp trong cơng tác phòng chống dịch hại.

Tiancai Lai và Jianya Su (2011) đã nghiên cứu tính kháng thuốc của sâu

xanh da láng Spodoptera exigua (Hubner) (Lepidoptera: Noctuidae) đối với hoạt

chất chlorantraniliprole qua 22 thế hệ và nhận xét rằng: cho sâu xanh da láng

tiếp xúc với hoạt chất chlorantraniliprole liên tục qua nhiều thế hệ sẽ hình thành

nguy cơ kháng thuốc đối với hoạt chất này. Chỉ số LC 50 tăng lên 12 lần qua 22

thế hệ cũng cho thấy tính kháng của S. exigua tăng lên rất nhiều.

Han WS et al. (2012) khi nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt chất

chlorantraniliprole đến sự phát triển của sâu tơ Plutella xylostella (Lepidoptera:

Plutellidae) bằng phương pháp nhúng lá đã cho thấy: chlorantraniliprole có mức

độ độc cao đối với ấu trùng của P. xylostella, và các giá trị LC50 sau 48h là 0,23

và 0,25 mg/L-1. Ảnh hưởng của chlorantraniliprole đối với những cá thể sống sót

sau thử thuốc là giảm khả năng hóa nhộng, giảm trọng lượng nhộng và giảm tỷ

lệ vũ hóa. Ngồi ra chlorantraniliprole còn làm giảm khả năng sinh sản và tỷ lệ

16



nở trứng, tỷ lệ sống của các sâu non. Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng

chlorantraniliprole có hiệu quả chống lại P. xylostella. Nồng độ gây chết của

chlorantraniliprole có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng quần thể của P.xylostella

bằng cách giảm sự tồn tại và sinh sản của chúng và bằng cách trì hỗn sự phát

triển của nó.

Biddinger D et al. (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tebufenozide đến

sự tồn tại, phát triển và sinh sản của Platynota idaeusalis (Walker) (Lepidoptera:

Tortricidae) bằng phương pháp trộn hoạt chất vào thức ăn, thực hiện đối với sâu

non tuổi 1 và tuổi 3 cho đến khi hóa nhộng. Tỷ lệ tử vong của ấu trùng là 27,4

và 44,7% ở 0,1 và 0,2 ppm đối với sâu non tuổi 1, là 21,9 và 57,8% ở 0,2 và 0,4

ppm đối với sâu non tuổi 3. Sâu non qua thử thuốc có tỷ lệ chết cao, trọng lượng

nhộng thấp hơn và trưởng thành bị biến dạng nhiều hơn đối với sâu không thử

thuốc. Những kết quả thu được đã cho thấy tebufenozide có tác động đáng kể

đến biến động số lượng quẩn thể của Platynota idaeusalis.

Bisong Yue et al. (2003) đã nghiên cứu hiệu lực của 2 hoạt chất

thiamethoxam (Cruiser) và imidacloprid (Gaucho) trong việc phòng trừ sâu đục

thân ngơ Ostrinia nubilalis (Hubner) và chỉ ra rằng: Ở nhiệt độ 22 - 26 oC, tất cả

sâu non tuổi 5 bị chết trong 2 hoặc 4 ngày thử thuốc với nồng độ 250 và 500

ppm thiamethoxam; trong khi đó tỷ lệ chết ở nồng độ 6,3 - 937,5 ppm trong 2

đến 4 ngày không quá 48%. Ở nhiệt độ 29 oC, tất cả sâu tuổi 5 chưa đến thời kỳ

tiền nhộng đều bị chết sau 3, 4 và 6 ngày thử thuốc ở nồng độ 400, 300, và 200

ppm thiamethoxam. Trong khi đó, tỷ lệ sống sót tăng ở nồng độ thấp hơn là 100,

50, 25 và 12,5 ppm. Ở 29oC, chỉ số LC50 giảm từ 85,9 xuống 7,2 ppm tương ứng

với thời gian thử thuốc từ 2 đến 6 ngày.

Song Yue-Qin et al. (2013) khi nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt chất

chlorantraniliprole đến tốc độ phát triển quần thể của sâu đục thân ngô châu Á

Ostrinia furnacalis (Guenee) bằng phương pháp trộn hoạt chất vào thức ăn nhân

tạo đã thu được kết quả như sau: Ở giá trị LC 10, LC40 và LC50 của hoạt chất

chlorantraniliprole trên sâu non sâu đục thân ngô châu Á tuổi 3 thu được giá trị

17



nồng độ pha thuốc tương ứng 0,038, 0,098 và 0,123 mg a.i./L. Những sâu non

tuổi 3 còn sống được ni tiếp bằng thức ăn sạch nhưng thời sâu non và nhộng

kéo dài hơn đáng kể, tuổi thọ và khả năng sinh sản của trưởng thành giảm so với

quần thể ban đầu. Tuy nhiên, cân nặng của nhộng, tỷ lệ trứng nở, tỷ lệ giới tính

khơng bị ảnh hưởng.

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.1. Tình hình sản xuất ngơ trong nước

Ngơ là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa ở Việt Nam. Những năm

gần đây nhờ có chính sách khuyến khích và nhiều tiến bộ kỹ thuật, cây ngơ đã

có những bước tiến về diện tích, năng suất và sản lượng. Từ năm 1985 - 1993

năng suất ngô nước ta nằm trong khoảng 1,47 - 1,77 tấn/ha, năng suất này còn

thấp hơn trung bình ở các nước đang phát triển (2,4 tấn/ha), nguyên nhân chính

do trồng các giống ngơ năng suất thấp (Trần Văn Minh, 2004).

Trong thời gian qua nước ta có những bước chuyển biến quan trọng trong

nghề trồng ngô là việc chuyển từ trồng các giống ngô địa phương, giống thụ

phấn tự do cải tiến sang trồng ngô lai. Đồng thời, các thí nghiệm khảo nghiệm

giống ngơ nhập nội cũng như chọn tạo các giống lai quy ước phát triển mạnh

mẽ. Năm 1991, nước ta đã trồng thử nghiệm giống ngô lai kép B.9681 của công

ty liên doanh Biossed Việt Nam, giống này cho năng suất cao ở các tỉnh phía

Bắc. Từ 1991 - 200, diện tích ngơ lai nước ta từ 500 ha (1991) chiếm 0,11% diện

tích ngơ cả nước lên 450.000 ha (2000) chiếm 63,0% diện tích ngơ cả nước. Do

áp dụng các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là việc sử dụng các giống ngô lai vào

sản xuất nên năng suất ngô ở nước ta đã tăng lên đáng kẻ. Năm 1991 khi chúng

ta bắt đầu sử dụng ngơ lai năng suất bình qn cả nước là 15,6 tạ/ha, đến năm

2003 năng suất bình quân cả nước đã đạt 32,2 tạ/ha. Đặc biệt nhiều tỉnh đã đạt

năng suất bình qn tồn tỉnh khá cao trong năm 2003 như: Đà Nẵng 60,0 tạ/ha,

An Giang 57,8 tạ/ha, Đồng Tháp 49,2 tạ/ha, Long An 45,0 tạ/ha, Hải Phòng 43,3



18



tạ/ha, Thái Bình 42,6 tạ/ha, Tây Ninh 42,5 tạ/ha, Quảng Ngãi 42,1 tạ/ha, Hà Tây

41,8 tạ/ha, Lạng Sơn 38,4 tạ/ha, Quảng Bình 37,1 tạ/ha (Trần Văn Minh, 2004).

Tình hình đưa ngơ lai vào nước ta trong những năm đầu rất khó khăn, do

nhiều địa phương chưa có dịp tiếp xúc và hiểu hết về giá trị kinh tế ngô lai.

Trong những năm gần đây nhà nước đã có những chính sách thích hợp đưa ngơ

lai vào sản xuất. Vì vậy diện tích ngơ lai nước ta tăng rất nhanh từ 100.000 ha

(20%) (1994) lên 450.000 ha (63%) (2000) (Trần Văn Minh, 2004).

Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng ngô của Việt

Nam năm 2014 đạt 5,19 triệu tấn, thấp hơn 105 nghìn tấn so với dự báo do sự

thay đổi thời tiết tại miền Bắc Việt Nam đã dẫn đến việc vùng thu hoạch ngơ bị

thu hẹp. Theo ước tính, trong năm 2015, vùng thu hoạch ngô sẽ tăng lên từ 1,2

triệu héc ta lên 1,25 triệu héc ta do chính sách mới của Chính phủ trong việc

tăng diện tích trồng ngơ từ việc chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả.

Năng suất ngơ trung bình dự kiến tăng nhẹ do việc sử dụng các giống ngô lại tạo

mới. Trong năm 2015, sản lượng ngơ tăng khoảng 300 nghìn tấn so với dự báo

trước đó của USDA (Cục xúc tiến thương mại, 2015).

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, diện tích thu hoạch ngơ năm

2016 của Việt Nam tăng lên 1,3 triệu héc ta do chính sách của Chính phủ và việc

cho phép phát triển các giống ngô lai tạo mới. Năm 2016, sản lượng ngô của

Việt Nam dự báo sẽ tăng lên hơn 350 nghìn tấn đạt 5,98 triệu tấn. Đây có thể sẽ

là sự thay đổi mang tính chất bước ngoặt của cây ngơ Việt Nam nhờ vào những

chính sách hồn tồn mới của Chính phủ (Cục xúc tiến thương mại, 2015).

2.2.2. Những nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên cây ngô ở

Việt Nam

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20 công tác nghiên cứu xác định thành

phần sâu hại ngô ở Việt Nam đã được tiến hành một cách quy mơ tại cả phía

Nam và phía Bắc. Kết quả điều tra cơ bản cơn trùng ở phía Bắc (1967 - 1968) đã

xác định có 63 lồi cơn trùng phá hoại trên cây ngơ. Ở phía Nam trong các năm

1977 - 1979 qua điều tra đánh giá cũng xác định có 60 lồi cơn trùng phá hoại

19



trên cây ngơ. Trong đó cũng đã xác định thành phần sâu hại chủ yếu và thứ yếu.

Các loài sâu hại chủ yếu nhứ: Sâu xám Agrotis ypsilon, sâu cắn lá ngô

(Leucania separata & Leucania loreyi), sâu đục thân ngô (Ostrinia furnacalis),

sâu đục bắp (Helicoverpa armigera) và rệp muội ngô (Rhopalosiphum maydis)

(Nguyễn Công Thuật, 1995).

Sâu xám: Phá hại ngô ở giai đoạn cây con. Sâu phát sinh và gây hại vào

các tháng nhiệt độ thấp (15 - 20 oC) trong vụ xuân ở các tỉnh phía Bắc. Nhiệt độ

cao trong các tháng mùa hè và mùa thu cũng như điều kiện khí hậu ở các tỉnh

phía Nam khơng thích hợp cho sâu xám phát sinh và gây hại.

Sâu cắn lá: Phá hại phổ biến ở các vùng trồng ngô trong cả nước nhưng

gây hại nặng chủ yếu ở các tỉnh Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ. Sâu phá hại

chủ yếu vào vụ ngô Đông, từ tháng 12 đến tháng 3, nặng nhất vào tháng 1 và

tháng 2. Ngồi gây hại trên ngơ sâu còn gây hại cả trên lúa.

Sâu đục bắp: Phá hại phổ biến ở tất cả các vùng trồng ngô trong cả nước.

Sâu hại chủ yếu trong vụ ngô Đông, xuân hè và hè thu. Vụ ngơ đơng ở các tỉnh

phía Bắc ít bị sâu phá hại.

Rệp muội ngơ: Phá hại phổ biến ở các vùng trồng ngô trên cả nước. Ngồi

chích hút nhựa cây rệp còn có khả năng truyền một số bệnh virus nguy hiểm.

Theo Phạm Văn Lầm (2002) đã ghi nhận được 121 lồi sâu hại ngơ, thuộc

7 bộ côn trùng và 1 bộ nhện nhỏ. Số lượng các loài sâu hại phổ biến dao động

từ 9 - 26 loài tùy thuộc vào địa điểm và nơi điều tra. Trong đó sâu đục thân ngơ,

sâu cắn lá ngơ, rệp ngô, sâu xanh đục bắp, sâu gai ngô đều được các tác giả cho

là quan trọng hơn cả. Cũng theo Phạm Văn Lầm (2013), ở Việt Nam đến năm

2013 đã ghi nhận được 153 lồi gây hại ngơ. Trong đó bộ cánh thẳng và cánh

nửa cứng cùng có 33 lồi gây hại, bộ cánh cứng có 31 lồi, bộ cánh vảy có 28

lồi, bộ cánh đều có 21 lồi, bộ cánh tơ và bộ cánh bằng có 3 lồi, nhện nhỏ có 1

lồi.



20



Theo Nguyễn Văn Viên và Nguyễn Quốc Kiến (2008), thành phần sâu hại

trên ngơ ngồi đồng ruộng tại xã Chiềng Pằn, Yên Châu, Sơn La khá phong phú

về bộ, họ, loài, với 14 loài được phát hiện.

Về thiên địch, những điều tra thành phần thiên địch trên các cây trồng ở

nước ta được tiến hành từ đầu thập niên 1970:

Theo Phạm Văn Lầm (1996), khi điều tra thành phần thiên địch của sâu

hại ngô đã thu thập được 72 lồi thiên địch của sâu hại ngơ. Chúng thuộc 36 họ

của côn trùng, nhện, nấm và virus. Các loài thiên địch thu thập được nhiều nhất

ở bộ cánh màng (22 loài hay 30,5 % tổng số loài đã thu thập) và bộ cánh cứng

(19 loài hay 26,3%). Bộ nhện lớn đã phát hiện được 13 loài (chiếm 18,1%). Bộ

cánh nửa có 9 lồi (chiếm 12,5%), các bộ khác mỗi bộ mới phát hiện được 1-4

loài. Trong số các lồi thiên địch của sâu hại ngơ đã thu thập được mới xác định

được tên của 63 loài (đạt 87,5 % số loài đã thu thập). Những loài thiên địch đã

xác định được tên gồm : 40 loài bắt mồi ăn thịt (chiếm 57,1%), 15 lồi kí sinh

trên các sâu hại ngơ (chiếm 21,4%), 4 lồi kí sinh bậc 2 (chiếm 5,7%), 2 lồi ký

sinh trên cơn trùng ăn rệp (chiếm 2,9%).

Theo kết quả điều tra của Khúc Duy Hà (2012) ở Gia Lâm – Hà Nội và

Hưng Yên thu được thành phần thiên địch thuộc 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn

băt mồi. Trong số 20 loài thiên địch thu thập được, bộ cánh cứng (Coleoptera)

có 7 lồi chiếm 35%, bộ bọ ngựa (Manteoptera) có 1 lồi chiếm 5%, bộ cánh da

(Dermatera) có 3 lồi chiếm 15%, bộ cánh nửa (Hemiptera) có 1 lồi chiếm 5%,

bộ chuồn chuồn (Odonata) có 2 lồi chiếm 10% và 1 bộ nhện lớn (Araneae) có 3

lồi chiếm 15%. Trong đó số lồi cơn trung thuộc bộ cánh cứng chiếm nhiều

nhất, tiếp theo là bộ cánh da và bộ nhện lớn băt mồi có 3 lồi và ít nhất là bộ bọ

ngựa và bộ cánh nửa chỉ có 1 lồi.



21



2.2.3. Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis

Guene) ở Việt Nam

2.2.3.1. Vị trí phân loại và phân bố

a, Vị trí phân loại

Sâu đục thân ngơ châu Á :

- Tên khoa học: Ostrinia furnacalis Guenee.

- Họ Ngài sáng (Pyralidae).

- Bộ Cánh vảy (Lepidoptera).

- Bộ phụ ngài (Heterocera).

b, Phân bố

Trong nước sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia furnacalis Guenee phân bố

rộng khắp ở các vùng trồng ngô, từ vùng núi phía Bắc đồng bằng, ven biển miền

Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. (Bộ môn côn

trùng, 2004).

2.2.3.2. Đặc điểm sinh học sinh thái sâu đục thân ngơ châu Á (Ostrinia

furnacalis Guene)

a, Tập tính sống

Trứng thường nở vào sáng sớm. Sâu non tuổi 1 mới nở từ trứng thường

bò quanh vị trí ổ trứng một thời gian ngắn, sau đó phân tán bằng cách nhả tơ

nhờ gió chuyển sang cây hoặc lá ngơ khác. Sâu non tuổi nhỏ chui xuống phía

dưới nõn lá đục vào lá nõn lấy thức ăn để lại vết đục là một đường đục chạy

ngang phiến lá. Sâu non thường ăn xác lột của nó , chừa lại mảnh cứng của đầu.

Sau khi ăn xong xác lột chúng bắt đầu ăn các mơ non của cây ngơ gần vị trí

chúng lột xác, sau đó di chuyển đến những nơi khác có thức ăn phù hợp. Sâu

non tuổi 2 bắt đầu đục vào thân cây ngô ở gần đốt thân hoặc trên cờ ngô.Sâu non

tuổi cuối thường đục một lỗ ở gần nơi gây hại hoặc dọn sạch đường đục cũ để

hóa nhộng (Lại Tiến Dũng và cs, 2015).



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.1: Sản lượng ngô thế giới từ 1992 - 2000

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×