Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 4.1: Thành phần sâu hại trên cây ngô ở Đặng Xá - Gia Lâm và Giang Biên - Long Biên - Hà Nội năm 2016

Tên loài

Mức độ phổ biến

Bộ phận

TT

Họ

Tên Việt Nam

Tên khoa học

Đặng Xá Giang Biên

bị hại

I. BỘ CÁNH VẢY - LEPIDOPTERA

1

Sâu cắn lá nõn ngô

Mythimna separata Walker

Noctuidae

Lá, nõn

+

+

2

Sâu xanh

Helicoverpa armigera Hubner

Noctuidae

Lá, bắp

+

+

Lá non,

3

Sâu khoang

Spodoptera litura Fabricius

Noctuidae

+

+

bắp

4

Sâu róm nâu

Amsacta lactinea Cramer

Arctiidae

Lá, râu

+

+

Thân, bắp,

5

Sâu đục thân ngô châu Á

Ostrinia furnacalis Guenee

Pyralidae

+++

++

cờ

II. BỘ CÁNH NỬA - HEMIPTERA

6



Bọ xít dài



Leptocorisa acuta Thunberg



Coreidae







++



++



7



Bọ xít xanh



Nezara viridula Linnaeur



Pentatomidae







+



+



Acrididae







+



+



Acrididae

Acrididae

Acrididae











++

+

+



++

+

+



III. BỘ CÁNH THẲNG - ORTHOPTERA

Gastrimargus africanus

8

Châu chấu xe

orientalis Sjostedt

9

Châu chấu lúa

Oxya velox Fabricius

10

Cào cào lớn

Acrida cinerea Thunberg

11

Cào cào nhỏ

Atractomorpha chinensis

38



Bolivar

IV. BỘ CÁNH ĐỀU - HOMOPTERA

12



Rệp ngô



Rhopalosiphum maydis Fitch.



Aphididae



Các giai

đoạn sinh



+



+



++



+



trưởng

13



Rầy xanh đuôi đen



Nephotettix bipunctatus

Fabricius



Cicadellidae



Thân, lá



V. BỘ CÁNH CỨNG - COLEOPTERA

Hypomeces squamosus

14

Câu cấu xanh lớn

Curculionidae



+

+

Fabricius

Ghi chú: : “-” Khơng xuất hiện; “+” Rất ít xuất hiện (tần suất xuất hiện <25%); “ ++” Ít xuất hiện (tần suất xuất

hiện 25% - 50%); “+++” Xuất hiện trung bình (tần suất xuất hiện 51% -75%); “++++” Xuất hiện nhiều (tần suất xuất

hiện >75%).



39



Kết quả chúng tôi thu được ít hơn số lượng sâu hại của tác giả Lưu Thị

Hồng Hạnh (2012) thu thập được 23 loài sâu hại tại huyện Đông Anh, Hà Nội

trong vụ Xuân - Hè năm 2011. Tuy nhiên lồi sâu hại chính vẫn là sâu đục thân

ngô Ostrinia furnacalis Guenee.



TT

1

2

3

4

5



Bảng 4.2: Các bộ côn trùng trong quá trình điều tra

Tên Việt Nam

Tên khoa học

Số loài

Tỷ lệ %

Bộ cánh vảy

Lepidoptera

5

35,71

Bộ cánh nửa

Hemiptera

2

14,29

Bộ cánh thẳng

Orthoptera

4

28,57

Bộ cánh đều

Homoptera

2

14,29

Bộ cánh cứng

Coleoptera

1

7,14

Tổng

14

100



Hình 4.1: Tỷ lệ % các bộ cơn trùng sâu hại ngô ở Đặng Xá - Gia Lâm,

Giang Biên - Long Biên - Hà Nội vụ Xuân - Hè năm 2016

14 lồi sâu hại trên cây ngơ đã ghi nhận trong q trình điều tra thuộc 5 bộ

cơn trùng bao gồm: Bộ cánh vảy (Lepidoptera) có 5 lồi (chiếm 35,71%); bộ

cánh nửa (Hemiptera) và bộ cánh đều (Homoptera) có 2 lồi (chiếm 14,29%); bộ

cánh thẳng (Orthoptera) có 4 lồi (chiếm 28,57%); bộ cánh cứng (Coleoptera) có



40



1 lồi (chiếm 7,14%). Trong đó, số lồi sâu thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera)

chiếm nhiều nhất bao gồm 5 loài, tiếp theo là bộ cánh thẳng (Orthoptera) có 4

lồi và ít nhất là bộ cánh cứng (Coleoptera) có 1 lồi (bảng 4.2).

4.2. Diễn biến mật độ, tỷ lệ gây hại của sâu đục thân ngô châu Á tại Đặng

Xá - Gia Lâm, Giang Biên - Long Biên - Hà Nội vụ Xuân - Hè năm

2016

Cùng với việc điều tra thành phần sâu hại trên cây ngơ, chúng tơi còn tiến

hành điều tra diễn biến mật độ, tỷ lệ gây hại của sâu đục thân ngô châu Á

(Ostrinia furnacalis Guenee) trong vụ Xuân - Hè 2016 tại Đặng Xá - Gia Lâm

và Giang Biên - Long Biên - Hà Nội. Kết quả điều tra được ghi lại ở bảng 4.3.

Do vụ đông năm 2015 tại miền Bắc hầu hết rét đậm, rét hại cùng với thời

tiết hanh khô nên tỷ lệ gây hại trên ngô giảm. Ở vụ Xuân - Hè 2016, ngô được

trồng vào tháng 2 trên nền nhiệt độ thấp nên cây ngô sinh trưởng và phát triển

kém đồng thời sâu hại cũng xuât hiện rất ít. Sang tháng 3, nhiệt độ vẫn còn thấp

và tháng 4 nhiệt độ có cao hơn nhưng nhìn chung vẫn chưa thích hợp cho ngơ

sing trưởng, phát triển nên tỷ lệ gây hại của sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia

furnaclis Guenee ở vụ Xuân - Hè năm 2016 còn thấp, cao nhất là 14% ở giai

đoạn chín sáp (bảng 4.3).

Nguyên nhân nữa là do cuối vụ Đông - Xuân mật độ sâu bị giảm, nhộng

và sâu non còn tồn tại trong thân cây ngơ đã được người dân tại vùng điều tra

đốt đi hoặc làm thức ăn cho gia súc nên tỷ lệ gây hại trong vụ Xuân - Hè có

chiều hướng giảm so với vụ trước.



41



Hình 4.2: Đặc điểm gây hại trên bắp, thân, lá của sâu đục thân ngơ châu Á



Hình 4.3: Sâu đục thân ngô châu Á đang gây hại trên cờ ngô



42



Bảng 4.3: Tỷ lệ, mật độ gây hại của sâu đục thân ngô trong vụ Xuân - Hè

2016 (Đặng Xá - Gia Lâm, Giang Biên - Long Biên - Hà Nội)

Đặng Xá

Giang Biên

Giai đoạn



Mật độ



Tỷ lệ hại



Mật độ



Tỷ lệ hại



(%)

0

0

2

4

6

9

9



(con/cây)

0

0

0

0.04

0.04

0.08

0.07



(%)

0

0

0

4

4

7

7



10



0.1



10



13



0.12



11.5



14



0.14



13.33



(con/cây)

Mọc mầm – 3 lá

0

3 – 5 lá

0

5 – 7 lá

0.02

7 – 9 lá

0.04

9 – 11 lá

0.08

Loa kèn

0.09

Trỗ cờ phun râu

0.11

Tung phấn phun

0.1

râu

Thâm râu chín

0.145

sữa

Chín sáp

0.16

Ghi chú: Giống ngơ nếp HN88



Chúng tôi tiến hành điều tra tỷ lệ, mật độ gây hại của sâu đục thân ngô

châu Á tại 2 vùng thuộc Gia Lâm, Long Biên và thu được kết quả như sau: Từ

giai đoạn 3 lá đến chín sáp, tỷ lệ và mật độ sâu tăng dần ở cả hai vùng điều tra.

Chứng tỏ sâu đục thân ngô chấu Á hoạt động mạnh nhất khi cây ngơ có bắp.

Trong vụ Xuân - Hè năm 2016, tại vùng trồng ngô ở Đặng Xá ở giai đoạn

3 - 5 lá thì chưa thấy sâu đục thân ngô xuất hiện. Sâu đục thân xuất hiện vào giai

đoạn 5 - 7 lá với mật độ rải rác và tỷ lệ hại là 2%. Sau đó tỷ lệ hại tăng dần là

4% ở giai đoạn 7 - 9 lá. Tỷ lệ hại cao nhất trong vụ Xuân - Hè năm 2016 là 14%

ở giai đoạn chín sáp với mật độ là 0,16 con/cây.

Trong vụ Xuân - Hè năm 2016, tại vùng trồng ngô ở Giang Biên vào giai

đoạn từ 3 đến 7 lá thì chưa thấy sâu đục thân ngô xuất hiện. Sâu đục thân xuất

43



hiện vào giai đoạn 7 - 9 lá với mật độ 0,04 con/cây và tỷ lệ hại là 4%. Sau đó tỷ

lệ hại tăng dần là 7% ở giai đoạn loa kèn. Tỷ lệ hại cao nhất trong vụ Xuân - Hè

năm 2016 là 13,33% ở giai đoạn chín sáp với mật độ là 0,14 con/cây.



Tiến hành điều tra trong vụ Xuân - Hè năm 2016 tại Đặng Xá - Gia Lâm

và Giang Biên - Long Biên - Hà Nội, theo như hình 4.4 chúng tơi thấy rằng

trong cùng một thời gian, cùng một giống ngô, ở 2 địa điểm khác nhau tỷ lệ gây

hại của sâu đục thân khác nhau nhưng khác nhau không rõ rệt. Tỷ lệ gây hại của

sâu đục thân ngô châu Á ở Giang Biên nhỏ hơn tỷ lệ gây hại ở Đặng Xá. Sâu

đục thân ở Đặng Xá xuất hiện sớm hơn (ở giai đoạn 3 - 5 lá). Ở 2 giai đoạn 7 - 9

lá và giai đoạn tung phấn phun râu, tỷ lệ gây hại của sâu đục thân ngô ở Đặng

Xá và Giang Biên là như nhau.

Sở dĩ có sự khác nhau không rõ rệt do 2 địa điểm cùng thuộc thành phố

Hà Nội, chịu ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết gần giống nhau nên sự sinh trưởng

và phát triển của sâu đục thân ngô cũng không khác nhau nhiều. Còn về sự

chênh lệch tỷ lệ gây hại của sâu đục thân ngô là do chế độ tưới tiêu, chăm sóc,

44



bón phân và phun thuốc trừ sâu của 2 vùng khác nhau nên ảnh hưởng nhất định

tới tỷ lệ sâu của 2 vùng đó.

Kết quả điều tra vụ Xuân - Hè năm 2016 cho thấy địa điểm khác nhau

cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự gây hại của sâu đục thân ngô châu Á. Tuy

nhiên, nếu 2 địa điểm gần nhau thì sự chênh lệch tỷ lệ là rất ít.

4.3. Đặc điểm hình thái và sinh học của lồi sâu đục thân ngô châu Á

(Ostrinia furnacalis Guenee)

4.3.1. Đặc điểm hình thái của sâu đục thân ngơ châu Á (Ostrinia furnacalis

Guenee)

Sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia furnacalis thuộc họ ngài sáng

(Pyralidae), bộ cánh vảy (Lepidoptera). Sâu đục thân ngô châu Á là lồi cơn

trùng biến thái hồn tồn: trải qua đầy đủ 4 giai đoạn: trứng, sâu non, nhộng và

trưởng thành.

Trứng của sâu đục thân ngô châu Á được đẻ thành ổ, các quả trứng xếp

thành dạng hình vảy cá. trứng có hình tròn, có những quả hình bầu dục. Lúc mới

đẻ, trứng có màu trắng trong sau đó chuyển dần sang màu trắng đục, trước khi

nở một ngày xuất hiện một chấm đen nhìn rất rõ (đó chính là đầu sâu non).

Chiều dài trung bình của trứng sâu đục thân ngô châu Á là 0,56 ± 0,1 mm (bảng

4.4).

Sâu non của sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia furnacalis có 5 tuổi:

Sâu non tuổi 1: có màu trắng trong đến trắng đục với hình dạng thn dài,

mảnh đầu đen bóng. Cơ thể sâu non tuổi 1 có chiều dài trung bình là 1,96 ± 0,34

mm và chiều rộng tương ứng là 0,34 ± 0,03 mm (bảng 4.4)

Sâu non tuổi 2: sâu non tuổi 1 khi lột xác để lên tuổi. Khi mới lột xác

mảnh đầu có màu trắng sau đó chuyển dần sang màu nâu đỏ và cuối cùng là màu

nâu đen. Sâu non tuổi 2 hoạt động linh hoạt hơn sâu non tuổi 1. Cơ thể sâu có



45



màu trắng đục đến trắng vàng, ở tuổi này thì các vân ngang và các chấm đen

trên lưng bắt đầu nổi rõ. Cơ thể sâu non có chiều dài và chiều rộng trung bình là

5,36 ± 0,69 và 0,76 ± 0,03 (bảng 4.4).

Sâu non tuổi 3: mảnh đầu có xu hướng nhọn về phía trước bắt đầu xuất

hiện các u lơng ở bề mặt lơng. Cơ thể có màu trắng đục đến trắng vàng. Chiều

dài trung bình của cơ thể là 9,19 ± 0,52 mm và chiều rộng trung bình là 1,56 ±

0,27 mm (bảng 4.4)

Sâu non tuổi 4: có màu trắng vàng hoặc phớt hồng, xuất hiện những vạch

nâu mờ chạy dọc lưng từ đầu cho đến phần cuối bụng, các u lông trên cơ thể đã

nổi rõ. Cơ thể sâu non tuổi 4 có chiều dài và chiều rộng trung bình tương ứng là

17,53 ± 0,85 mm và 2,14 ± 0,19 mm (bảng 4.4).

Sâu non tuổi 5: cơ thể cũng có màu trắng vàng hoặc phớt hồng, vạch nâu

trên lưng đã nổi rõ hơn. Kích thước của cơ thể ở tuổi này là chiều dài trung bình

23,42 ± 1,79 mm và chiều rộng trung bình là 2,55 ± 0,41 mm (bảng 4.4). Khi đã

đẫy sức thì sâu non hoạt động chậm chạp, bỏ ăn để bắt đầu hóa nhộng.

Nhộng: khi bắt đầu hóa nhộng sâu non tuổi 5 ngừng ăn và quanh sâu non

lúc này xuất hiện một màng tơ mỏng. Nhộng mới xuất hiện có màu nâu sáng

chuyển dần sang màu nâu sẫm và trước khi hóa trưởng thành thì màu của nhộng

là nâu đen. Nhộng cái lớn hơn nhộng đực về chiều dài và chiều rộng. Chiều dài

và chiều rộng trung bình của nhộng cái là 17,35 ± 0,84 mm và 3,69 ± 0,16 mm,

trong khi đó chiều dài và chiều rộng trung bình của nhộng đực là 13,05 ± 0,88

mm và 2,86 ± 0,33 mm (bảng 4.4).

Trưởng thành: Trưởng thành cái có chiều dài thân trung bình là 15,4 ±

1,46 mm và sải cánh trung bình là 27,83 ± 1,34 mm (bảng 4.4). Cánh trước của

trưởng thành cái màu vàng tươi hoặc có màu vàng nhạt, cánh sau các đường vân

màu nhạt hơn cánh trước. Phần bụng có 6 đốt. Trưởng thành đực nhỏ hơn trưởng

thành cái với chiều dài thân trung bình là 14,32 ± 0,93 mm và sải cánh rộng

46



trung bình là 22,33 ± 2,14 mm (bảng 4.4). Màu sắc trên cánh của trưởng thành

đực thẫm hơn trưởng thành cái, từ màu nâu đến nâu vàng. Các đường vân trên

cánh cũng tương tự ở trưởng thành cái nhưng có phần đậm hơn. Phần bụng thon

và phân rõ 6 đốt bụng.

Kích thước của sâu đục thân ngơ châu Á Ostrinia furnacalis Guenee được

trình bày ở bảng 4.4:



Bảng 4.4: Kích thước các giai đoạn phát triển của sâu đục thân ngơ châu Á

Pha phát

Kích thước từng pha phát triển (mm)

Chỉ tiêu

Min

Max

Trung bình ± ∆

triển

Trứng

Chiều dài

0,38

0.78

0,56 ± 0,1

Chiều dài

1,2

2,5

1,96 ± 0,34

Tuổi 1

Chiều rộng

0,3

0,4

0,34 ± 0,03

Chiều dài

3,5

6,2

5,36 ± 0,69

Tuổi 2

Chiều rộng

0,69

0,81

0,76 ± 0,03

Chiều dài

8

10,3

9,19 ± 0,52

Tuổi 3

Chiều rộng

1,2

2,1

1,56 ± 0,27

47



Chiều dài

16

18,8

Chiều rộng

1,9

2,5

Chiều dài

20

26,1

Tuổi 5

Chiều rộng

2

3,4

Chiều dài

11

14,4

Nhộng đực

Chiều rộng

2,2

3,5

Nhộng cái

Chiều dài

16

19

Chiều rộng

3,4

4

Trưởng

Chiều dài thân

13

17

Sải cánh

18

25

thành đực

Trưởng

Chiều dài thân

13,5

18,5

Sải cánh

24

30

thành cái

Ghi chú: ∆ là độ lệch chuẩn; thức ăn là ngô bao tử

Tuổi 4



48



17,53 ± 0,85

2,14 ± 0,19

23,42 ± 1,79

2,55 ± 0,41

13,05 ± 0,88

2,86 ± 0,33

17,35 ± 0,84

3,69 ± 0,16

14,32 ± 0,93

22,33 ± 2,14

15,4 ± 1,46

27,83 ± 1,34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×