Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I: MỞ ĐẦU

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

1994) thì giai đoạn 1990-1992 tồn thế giới trồng 129.804 ngàn ha ngơ với năng

suất bình qn là 3,8 tấn/ha và cho tổng sản lượng gần 500 triệu tấn.

Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là

cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng

về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác. Cây ngô không chỉ cung cấp lương

thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có

điều kiện kinh tế khó khăn. Sản xuất ngô cả nước qua các năm không ngừng

tăng về diện tích, năng suất, sản lượng: năm 2001 tổng diện tích ngô là 730.000

ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm 2010, diện tích ngơ cả nước

1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn. Tuy vậy, cho

đến nay sản xuất ngô ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa

đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm nước ta vẫn phải nhập

khẩu từ trên dới 1 triệu tấn ngô hạt (Cục Trồng trọt, 2011).

Ngô được đưa vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm. Mặc dù là cây

lương thực thứ hai sau lúa, song do truyền thống lúa nước, cây ngô không được

chú trọng nên chưa phát huy được tiềm năng của nó ở Việt Nam. Những năm

gần đây nhờ có những chính sách khuyến khích và nhiều tiến bộ kỹ thuật, cây

ngơ đã có những bước tiến về diện tích, năng suất và sản lượng (Ngơ Hữu Tình

và cs, 1997).

Trong những năm gần đây, để triển khai mạnh mẽ đề án tái cơ cấu ngành

lúa gạo, nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững, Bộ NN&PTNT đang tiến

hành cắt giảm diện tích trồng lúa để chuyển sang trồng một số cây hằng năm

khác, đặc biệt là cây ngơ. Ngồi việc thay đổi cơ cấu cây trồng, Bộ NN&PTNT

còn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thay giống cũ, đưa

giống Ngô lai mới có tiềm năng năng xuất cao, chịu thâm canh tốt.

Tuy nhiên, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh các

giống ngô lai kém hơn so với giống cũ của địa phương đã trải qua q trình chọn

lọc tự nhiên. Trong khi đó, nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đây là điều



8



kiện thuận lợi của một số loài sâu bệnh gây hại nặng cho cây Ngơ nói riêng và

cho ngành nơng nghiệp nước ta nói chung.

Một trong những lồi sâu gây hại quan trọng cho cây ngô là sâu đục thân

ngô châu Á Ostrinia furnacalis Guenee (Lepidoptera: Pyralidae). Sâu đục thân

ngơ có thể gây hại cho các bộ phận trên cây ngô phụ thuộc vào tuổi sâu non: Ở

tuổi nhỏ, chúng cắn lá, đục vào cuống cờ và râu ngô, tuổi lớn đục trong thân và

đục trong bắp. Do đặc điểm của chúng là sống kín trong thân, việc phòng trừ

lồi sâu này thường gặp khó khăn hơn các lồi sâu hại khác. Đã có rất nhiều

nghiên cứu trong và ngồi nước về thành phần, sinh học, … của sâu đục thân

ngô. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tính kháng của lồi sâu này với một số

hoạt chất hóa học vẫn chưa được chú ý nhiều. Cho nên, xuất phát từ yêu cầu

thực tiễn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Thành phần sâu hại ngô, diễn biến mật độ sâu đục thân ngô Châu Á

(Ostrinia furnacalis Guenee) và mức độ mẫn cảm đối với một số hoạt chất

BVTV tại Hà Nội 2016”.

1.2. Mục đích và yêu cầu

1.2.1. Mục đích

Nghiên cứu thành phần sâu hại ngô; điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ hại

của sâu đục thân ngô; nghiên cứu đặc điểm sinh học của sâu đục thân ngô; đánh

giá mức độ mẫn cảm đối với một số hoạt chất BVTV của quần thể sâu đục thân

ngô ở Hà Nội; Từ đó đề xuất những biện pháp thích hợp để phòng trừ, tiêu diệt

lồi sâu nguy hiểm này.

1.2.2. u cầu

- Điều tra xác định thành phần sâu hại ngô vụ Xuân - Hè tại Đặng Xá Gia Lâm và Giang Biên - Long Biên - Hà Nội.



9



- Điều tra diễn biến mật độ của sâu đục thân ngô Ostrinia furnacalis

Guenee và tỷ lệ hại trên ngô vụ Xuân - Hè tại Đặng Xá - Gia Lâm và Giang

Biên - Long Biên - Hà Nội.

- Mơ tả hình thái, đo đếm kích thước các pha phát triển của sâu đục thân

ngơ Ostrinia furnacalis Guenee.

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục thân ngô Ostrinia

furnacalis Guenee.

- Đánh giá mức độ mẫn cảm đối với một số hoạt chất BVTV của quần thể

sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia fularcalis Guenee ở Hà Nội.



10



PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tình hình nghiên cứu ngồi nước

2.1.1. Tình hình sản xuất ngơ trên thế giới

Ngơ có nguồn gốc từ Mexico, trải qua 7000 năm tiến hóa và phát triển,

thơng qua q trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo, cây ngơ đã có sự đa dạng di

truyền rất rộng và khả năng thích nghi của nó có lẽ khơng có cây trồng nào sánh

kịp. Vì vậy, ngơ được xem là một loại ngũ cốc quan trọng trên thế giới, đứng thứ

ba sau lúa mì và lúa gạo (Ngơ Hữu Tình và cs,1997).

Sản lượng ngô trên thế giới năm 2003 đạt 637,444 triệu tấn, tăng so với

năm 2002 (603,189 triệu tấn). Trong đó sản lượng ngơ của Mỹ đạt 256,9 triệu

tấn (chiếm 42,1% sản lượng toàn thế giới), Trung Quốc đạt 114,175 triệu tấn,

EU 30,7 triệu tấn, Brazin 47,89 triệu tấn, Mexico 19,625 triệu tấn, Achentina

15,040 triệu tấn, Ấn Độ 14,8 triệu tấn (Trích dẫn theo Trần Văn Minh, 2004).

Bảng 2.1: Sản lượng ngô thế giới từ 1992 - 2000

Năm

Sản lượng (triệu tấn)

1992

538,575

1993

475,494

1994

559,579

1995

513,078

1996

592,179

1997

576,153

1998

605,944

1999

604,406

2000

614,729

(CIMMYT, 2000)

Tổng mức tiêu dùng ngô trên thế giới năm 2003 đạt 646,258 triệu tấn,

tăng so với 628,937 triệu tấn của năm 2002 và đều cao hơn mức sản lượng.

Nhập khẩu ngô năm 2003 một số nước trên thế giới như sau: Nhật Bản 16,5

triệu tấn, Ai Cập 4,7 triệu tấn, Hàn Quốc 9,5 triệu tấn, Mexico 6,3 triệu tấn, Đài

Loan 4,8 triệu tấn, EU 4,5 triệu tấn. Xuất khẩu ngô trên thế giới năm 2003 đạt



11



78,22 triệu tấn so với 78,02 triệu tấn năm 2002. Xuất khẩu ngô của Mỹ năm

2003 đạt 51 triệu tấn, Trung Quốc 8 triệu tấn, Brazin 5,5 triệu tấn, Achentina 9

triệu tấn (Trích dẫn theo Trần Văn Minh, 2004).

Sản lượng ngô trên thế giới tăng nhanh trong những năm qua một phần là

do tăng diện tích (chủ yếu ở các nước đang phát triển), phần lớn là do tăng năng

suất. Năm 2003 năng suất ngơ bình qn thế giới 3,41. Các nước có năng suất

ngô cao năm 2003 là Jocdani trồng 460 ha đạt năng suất bình quân 23,26 tấn/ha;

Kowet trồng 40 ha đạt năng suất bình quân 20 tấn/ha; Chi Lê 12,27 tấn/ha;

Ixraen 12 tấn/ha; Niuzilan 10,53 tấn/ha; Bỉ 10,52 tấn/ha; Tây Ban Nha 9,11

tấn/ha; Mỹ 8,92 tấn/ha; Hi Lạp 8,83 tấn/ha; Iran 8,57 tấn/ha; Áo 8,38 tấn/ha

(FAOSTAT, 2003).

Sản lượng sản xuất ngô ở trên thế giới trung bình hằng năm từ 696,2 đến

723,3 triệu tấn (năm 2005 - 2007). Trong đó nước Mỹ sản xuất 40,62% tổng sản

lượng ngô và 59,38% do các nước khác sản xuất. Nhu cầu tiêu thụ nội địa ngơ

trên thế giới rất lớn, trung bình hằng năm từ 702,5 đến 768,8 triệu tấn. Trong đó

nước Mỹ tiêu thụ 33,52% tổng sản lượng ngô tiêu thụ và các nước khác chiếm

66,48%. Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hằng năm từ 82,6 đến

86,7 triệu tấn. Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41% tổng sản lượng và các nước khác

chiếm 35,59% . Sản lượng ngô trên thế giới năm 2007 tăng gấp đôi so với năm

30 năm trước đây (sản lượng khoảng 349 triệu tấn vào năm 1977)

(Visimex.com, 2012).

2.1.2. Những nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây ngô

Ngô là cây lương thực phổ biến được trồng ở khắp nơi trên thế giới, đem

lại năng suất, chất lượng cao. Tuy nhiên, từ lúc gieo hạt cho đến khi thu hoạch,

cây ngơ bị nhiều lồi sâu hại tấn cơng. Vì vậy những nghiên cứu về thành phần

sâu hại ngô lần lượt ra đời.

Theo Waterhouse (1997), sâu hại trên ngơ ở phía Nam và phía Tây Thái

Bình Dương có 7 lồi. Trong đó, một số lồi gây hại chủ yếu là: sâu keo



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×