Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC TÍCH HỢP

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC TÍCH HỢP

Tải bản đầy đủ - 0trang

ứng mong muốn làm cho chương trình thích ứng u cầu của xã hội, làm cho

chương trình trở lên có ý nghĩa.

Tại một số nước Phương Tây cũng đã xuất hiện những cơng trình nghiên

cứu nghiêm túc về quan điểm dạy học tích hợp. Nhà sư phạm Xavier Roegiers

người Pháp đã tổng hợp thành tài liệu “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để

phát triển các năng lực ở nhà trường” [28]. Trong cuốn sách này tác giả đã phân

tích những căn cứ để dẫn tới việc tích hợp dạy học, từ lý thuyết về các quá trình

học tập, lý thuyết về quá trình dạy học ( các trào lưu sư phạm), các phương pháp

xây dựng chương trình dạy học theo quan điểm tích hợp tới định nghĩa, mục tiêu

của khoa sư phạm tích hợp, ảnh hưởng của cách tiếp cận này tới việc xây dựng

chương trình giáo dục, tới thiết kế mơ hình giáo trình và việc đánh giá kết quả của

sinh viên…

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước

Các đề tài luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ về vận dụng quan điểm tích

hợp vào dạy học kỹ thuật, công nghệ cũng đã được nghiên cứu triển khai như :

“Cải tiến phương pháp nghề tiện trong các trường chuyên nghiệp và dạy nghề tại

thành phố Hồ Chí Minh” luận án Tiến sĩ (2005) của Nguyễn Trần Nghĩa, “Dạy học

cơng nghệ tiện CNC theo quan điểm tích hợp”-luận văn cao học (2002) của

Nguyễn Công Cát, “Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học nghề điện trong các

trường dạy nghề của tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu”-luận văn cao học (2003) của Nguyễn

Xuân Cường, “Nghiên cứu hoàn thiện nội dung chương trình mơn KTCN trong

chương trình đào tạo chuyên ngành Vật Lý – KTCN ở trường Cao đẳng sư phạm

theo quan điểm tích hợp”– luận văn cao học (2004) của Trần Thị Mai Hương. Các

luận án, luận văn này đã đề xuất vận dụng quan điểm tích hợp để xây dựng chương

trình đào tạo các nghề cụ thể nhằm giảm bớt những nội dung trùng lặp trong các

chương trình đào tạo để có thêm thời gian cho giảng dạy các kiến thức mới của



13



môn học, tăng thời gian cho thực hành nghề, giảm sự giảng dạy lặp lại kiến thức

sinh viên đã học để tránh gây nên sự nhàm chán của người học.

Tác giả Chu Thị Phương (1985), đã nghiên cứu vận dụng quan điểm tích hợp vào

dạy học tiếng Việt ở tiểu học [18]. Tác giả đã phân tích tí nh chấ tích hợp thể hiện

trong SGK và nêu giải pháp cho giáo viên vận dụng các phương pháp giáo dục tích

hợp để khai thác ý tưởng SGK. Có nhiều tác giả tiêu biểu quan tâm đến vấn đề này

như: Trần Bá Hoành, Nguyễn Thị Minh Phương, Cao Thị Thặng, Nguyễn Văn

Đường, Nguyễn Trọng Hoàng, Trương Dĩnh… các tác giả đã phân tích khái niệm,

bản chất của dạy học theo quan điểm tích hợp, các xu thế và giải pháp vận dụng

quan điểm tích hợp trong xây dựng chương trình các mơn học và vận dụng quan

điểm này vào dạy học các môn học cụ thể.

Việc nghiên cứu, vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học ở các trường

nghề đã có tác giả như Nguyễn Trần Nghĩa nghiên cứu ứng dụng vào dạy học nghề

tiện. Trong luận án tiến sĩ với đề tài “Cải tiến phương pháp dạy học nghề tiện trong

các trường chuyên nghiệp và dạy nghề tại thành phố Hồ Chí Minh” [13], tác giả đã

nghiên cứu, vận dụng nhiều phương pháp trong đó ông khai thác vận dụng quan

điểm tích hợp theo xu hướng tích hợp nội dung chương trình mơn học nghề tiện

nhằm tạo ra khoảng thời gian cần thiết để cập nhật kiến thức công nghệ mới (công

nghệ CNC) nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong dạy học nghề tiện, tránh

được sự lặp lại kiến thức, đáp ứng được nguồn nhân lực trong cơ chế thị trường.

Nguyễn Công Cát trong luận văn thạc sĩ của mình với đề tài “dạy học cơng nghệ

tiện CNC theo quan điểm tích hợp” tác giả cũng đi theo xu hướng tích hợp nội

dung nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa quỹ thời gian cố định với khối lượng kiến

thức ngày càn tăng nhanh góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tiện. Tác giả

Trịnh Xuân Bình với đề tài luận văn thạc sĩ “Xây dựng nội dung các bài dạy thực

hành PLC S7 – 300 theo định hướng tích hợp cho sinh viên chun ngành điện

Trường Cao đẳng nghề cơ khí nơng nghiệp” [1]. Tác giả Trần Thị Thơm (2010) với

14



đề tài luận văn thạc sĩ “Dạy học mô đun vi điều khiển ở Trường Cao đẳng nghề cơ

khí nơng nghiệp theo quan điểm tích hợp”[21], tác giả đã phân tích nội dung

chương trình hiện hành của mơ đun vi điều khiển và đưa ra lí do mơ đun vi điều

khiển nên xây dựng và giảng day dưới dạng tích hợp giữa lý thuyết với thực hành

để hiểu được lý thuyết hơn thông qua thực hành và qua thực hành để rèn luyện kỹ

năng nghề nghiệp và hiểu hơn các vấn đề trừu tượng của lý thuyết đồng thời đảm

bảo tính thống nhất giữa lý thuyết với thực hành, học được và làm được nội dung

mới học trong khoảng thời gian học. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2012) với đề

tài luận văn thạc sĩ “ Dạy học môn trang bị điện ở trường Cao đẳng nghềVĩnh Phúc

theo quan điểm tích hợp” [8] tác giả đã phân tích nội dung chương trình hiện hành

của môn trang bị điện xây dựng và giảng dạy dưới dạng tích hợp giữa lý thuyết với

thực hành để hiểu được lý thuyết hơn thơng qua thực hành…

Có thể nói nhiều cơng trình nghiên cứu phương pháp dạy học mơn cơng nghệ

ở trường phổ thơng và đã có những cơng trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp

dạy học ở các trường, các cơ sở đào tạo nghề nhằm nâng cao hiệu quả học tập, rèn

luyện cho học sinh sinh viên phương pháp học tập mô đun, tạo cho học sinh sinh

viên phương pháp học tập tích cực, tự lực góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

Các tác giả đã đề xuất vận dụng các phương pháp dạy học khác nhau vào các nội

dung khác nhau của chương trình mơ đun. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả,

chưa có đề tài nào nghiên cứu vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học mơ đun

PLC ở trường Cao đẳng nghề.Vì vậy, đề tài nghiên cứu này mang tính cấp thiết,

góp phần tăng năng lực nhận thức và rèn luyện kỹ năng cho sinh viên, qua đó nâng

cao chất lượng dạy học cho mơ đun PLC, góp phần tham gia vào chiến lược đổi

mới phương pháp dạy học của các trường dạy nghề.



15



1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1. Tích hợp

Tích hợp là một khái niệm rộng, được dùng trong nhiều lĩnh vực không chỉ

dùng trong lĩnh vực lí luận dạy học các mơ đun.

Tích hợp (Tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh với

nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận

riêng lẻ.

Theo từ điển tiếng Anh-Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary), từ

Integration có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một

tổng thể.Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với

nhau.Theo từ điển Bách khoa khoa học giáo dục Cộng Hòa Liên Bang Đức, nghĩa

chung của từ Integartion có hai khía cạnh:

-



Q trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng



-



lẻ.

Trạng thái mà cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ.



Theo từ điển tiếng Anh thông dụng” Integration” có nghĩa là sự kết hợp của nhiều

thành tố để tạo ra một thể thống nhất, trọn vẹn và hồn chỉnh.

Theo từ điển tiếng Việt tích hợp là “sự hợp nhất, sự hòa nhận, sự kết hợp” [26].

Theo từ điển giáo dục học thì tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên

cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong

cùng một kế hoạch giảng dạy”. Kế hoạch giảng dạy ở đây cần được hiểu trong một

phạm vi rộng, từ kết hoạch giảng dạy của một chương trình đến kế hoạch giảng

dạy của một môn học/ mô đun, kế hoạch giảng dạy của bài học [7, tr 383].Theo

Dương Tiến Sỹ [ 20, tr 27]: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống

các kiến thức



16



1.2.2.Dạy học

1.2.2.1.Khái niệm về quá trình dạy học

Dạy học là một quá trình xã hội bao gồm và gắn liền với hoạt động dạy và

hoạt động học. Trong đó học sinh tự giác tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều

khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của mình dưới sự điều khiển chỉ đạo, tổ

chức, hướng dẫn của giáo viên nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.

1.2.2.2. Đặc trưng của hoạt động dạy học

















Thể hiện vai trò của giáo viên

Là hoạt động có mục đích rõ ràng

Có nội dung, chương trình kế hoạch cụ thể

Diễn ra trong một môi trường nhất định (lớp học, xưởng thực hành…)

Sử dụng các phương tiện đa dạng (thiết bị, tài liệu…)

Đa dạng về hoạt động: Nhận thức, trí tuệ, vận động, thao tác…

Kết quả hoạt động dạy được đánh giá thông qua kết quả hoạt động học tập.



1.2.3. Dạy học theo quan điểm tích hợp

1.2.3.1. Bản chất của dạy học tích hợp

Kế thừa và phát triển những thành tựu mà các lý thuyết về quá trình học tập

và các trào lưu sư phạm của thế giới đã đạt được, sư phạm tích hợp đề cập tới ba

vấn đề lớn của nhà trường:

Vấn đề thứ nhất: Đó là cách thức học tập, học như thế nào? Sư phạm tích

hợp cho rằng học sinh cần học cách sử dụng kiến thức của mình vào những tình

huống có ý nghĩa, nghĩa là lĩnh hội các năng lực song song với lĩnh hội kiến thức

đơn thuần.Tình huống có ý nghĩa đối với học sinh là những tình huống gần gũi với

học sinh hoặc gần với tình huống mà học sinh sẽ gặp. Trong sách giáo khoa, các

tình huống có ý nghĩa biểu hiện bằng tranh ảnh, bằng lời hoặc bằng sự kết hợp của

hình ảnh, lời,các thí nghiệm, trò chơi.

Tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa phức hợp, rất gần với các tình huống

tự nhiên mà học sinh sẽ gặp, trong đó có cả thơng tin cốt yếu và thơng tin nhiễu và

có vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học từ trước.

17



Vấn đề thứ hai: Sư phạm tích hợp nhấn mạnh đồng thời việc phát triển các

mục tiêu học tập riêng lẻ, cần tích hợp trong q trình học tập này trong tình huống

có ý nghĩa đối với học sinh. Về các tình huống có vấn đề, đóng góp của sư phạm

tích hợp là nhấn mạnh tính liên mơn của tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn

đề là tình huống có ý nghĩa chứ khơng phải là cái cơ để học tập. Giáo viên có vai

trò tổ chức các hoạt động học tập trong các tình huống có ý nghĩa đó. Về phương

pháp dạy học phân hóa, sư phạm tích hợp chủ trương đa số q trình học tập là

những quá trình học tập thể, đồng thời vẫn tạo điều kiện để mỗi học sinh phát triển

theo nhịp độ của mình. Sư phạm tích hợp cũng chủ trương giao nhiệm vụ cho học

sinh thực hiện nhằm đào tạo các em thành những người cơng dân có trách nhiệm,

nhấn mạnh nhiều đến năng lực cần phát triển hơn là nhấn mạnh khâu tổ chức lớp.

Sư phạm tích hợp cố gắng giải quyết vấn đề: Làm thế nào để phát triển các năng

lực ở nhà trường.

Vấn đề thứ ba: Sư phạm tích hợp đưa ra bốn quan điểm về vai trò của mỗi

mơn học và tương tác giữa các mơn học.







Một là: Duy trì các mơn học riêng

Hai là: Quan điểm đa môn: Chủ trương đề xuất những đề tài có thể nghiên







cứu ở các mơn học khác nhau, các mơn học này vẫn duy trì riêng rẽ.

Ba là: Quan điểm liên môn: Chủ trương đề xuất những tình huống chỉ có







thể tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học.

Bốn là: Quan điểm xuyên môn: Chủ trương chủ yếu phát triển kĩ năng mà

học sinh có thể sử dụng trong tất cả các tình huống (tìm, xử lý, thơng báo

thơng tin…). Đó là các kĩ năng xuyên môn.

Như vậy, dạy học theo quan điểm tích hợp hình thành được kĩ năng chun



mơn: Giúp học sinh tiếp thu kiến thức đồng thời rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo trong

đào tạo nghề. Từ đó sẽ áp dụng được một cách triệt để lý thuyết vào thực hành,

giúp học sinh nắm vững kiến thức chuyên môn cũng như áp dụng lý thuyết vào

thực hành nghề của mình. Có thể nói, dạy học theo quan điểm tích hợp sẽ cho kết

18



quả khả quan giữa học và hành đối với đối tượng học sinh, sinh viên ở các trường,

cơ sở đào tạo nghề, đáp ứng được mục đích, yêu cầu của các nhà trường, cơ sở dạy

nghề cho đối tượng học nghề và thành thạo nghề.

1.2.3.2. Mục đích của dạy học tích hợp

Chương trình dạy nghề truyền thống phần lớn là theo quan điểm tiếp cận nội dung.

Chương trình dạy nghề được thiết kế thành các mơn học lý thuyết và môn thực

hành tách rời nhau. Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của loại chương trình này nó

có những hạn chế sau:

-



Q nặng về phân tích lý thuyết, ít định hướng thực tiễn và hành động

Thiếu và yếu trong phát triển kỹ năng quan hệ qua lại giữa các cá nhân (kỹ



-



năng giao tiếp);

Lý thuyết và thực hành tách rời nhau, ít có mối quan hệ

Khơng giúp người học làm việc tốt trong các nhóm

Nội dung trùng lặp, học có tính dự trữ

Khơng phù hợp với xu thế học tập suốt đời



Cùng với xu hướng cách tân về giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam, từ những năm

90 chương trình thiết kế theo quan điểm kết hợp môn học và mô đun kỹ năng hành

nghề. Các mô đun được xây dựng theo quan điểm hướng đến năng lực thực hiện.

Mô đun là một đơn vị học tập có tính trọn vẹn, tích hợp lý thuyết và thực hành mà

sau khi học xong người học có năng lực thực hiện được một nhiệm vụ nghề

nghiệp.

Mô đun đào tạo là một đơn vị học tập tích hợp tất cả các thành phần kiến thức liên

quan trong các môn lý thuyết với các kỹ năng để hình thành năng lực thực hiện.

Như vậy dạy học các mô đun thực chất là dạy học tích hợp nội dung để nhằm

hướng đến các mục đích sau:

-



Định hướng vấn đề cần giải quyết

Năng lực thực hiện công việc

Định hướng cuộc sống thật, hoạt động nghề nghiệp thật, giải quyết những vấn

đề liên quan đến cuộc sống và nghề nghiệp

19



-



Phát triển năng lực thực hiện ở học sinh

Giảm được sự trùng lặp kiến thức kỹ năng giữa các môn học



1.2.3.3. Đặc điểm của dạy học theo quan điểm tích hợp

Dạy học theo quan điểm tích hợp mang đầy đủ các đặc điểm của các phương pháp

dạy học cụ thể là:

-



Tính khoa học ứng dụng, thực tiễn

Tính đa chức năng, đa phương án (tính linh hoạt cao)

Tính tiêu chuẩn hóa

Tính tổng hợp và tích hợp

Tính cụ thể và trừu tượng

Tính kinh tế



1.2.3.4. Yêu cầu của dạy học kỹ thuật theo quan điểm tích hợp

Khi dạy học kỹ thuật theo quan điểm tích hợp phải đảm bảo các đặc điểm của dạy

học theo quan điểm tích hợp, cụ thể như sau:

-



Dạy học kỹ thuật phải đảm bảo tính khoa học ứng dụng và thực tiễn: Khoa

học và công nghệ ra đời do yêu cầu của thực tiễn. Yêu cầu phục vụ thực hiễn

càng cao thì khoa học càng phát triển. Kỹ thuật cơng nghệ chính là lĩnh vực



-



nghiên cứu các giải pháp đưa khoa học và phục vụ cuộc sống con người.

Dạy học kỹ thuật phải quan tâm tới tính đa chức năng, đa phương án của các

giải pháp kỹ thuật (tính linh hoạt cao). Khả năng thực hiện nhiều chức năng

của thiết bị, ví dụ như máy tiện CNC với chức năng tự động hóa cao, nhiều

loại dao cùng gá trên ổ chứa dao, máy có thể thực hiện được nhiều ngun



-



cơng trên cùng một lần gá.

Dạy học kỹ thuật phải chú ý tính tiêu chuẩn hóa: Giáo dục HSSV tuân thủ các

tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình thao tác thực hành và khả năng chuyển giao, sử



-



dụng vào bài thực hành sản xuất theo đúng quy trình.

Dạy học kỹ thuật phải khai tác được tính tổng hợp và tích hợp của kỹ thuật:

Vận dụng kiến thức chung của nhiều môn khoa học khác nhau kết hợp với các

kiến thức đó để giải quyết một vấn đề kỹ thuật.



20



-



Dạy học kỹ thuật phải chú ý tới tính cụ thể và trừu tượng của kiến thức: Trong

quá trình dạy học, xuất phát từ cái cụ thể hay trừu tượng mà có PPDH thích

hợp, để hình thành và phát triển tư duy HSSV bằng cách trực quan hóa, sử

dụng các phương tiện dạy học. Đặc điểm này rất cần thiết trong dạy mô đun



-



PLC.

Dạy học kỹ thuật phải dạy cả tính kinh tế: Là đặc điểm quan trọng bởi vì nó

đáp ứng u cầu cuộc sống. Muốn phát triển thì hàng hóa phải đảm bảo chất

lượng và hạ giá thành. Dạy học kỹ thuật theo quan điểm tích hợp đòi hỏi giáo

viên phải nghiên cứu kỹ nội dung của các mơ đun khác cần tích hợp vào mô

đun cần dạy hoặc giữa các nội dung của mơ đun tích hợp để có PPDH hợp lý.

Đây là một đặc điểm quan trọng của dạy học kỹ thuật theo quan điểm tích

hợp.

Trong dạy học theo quan điểm tích hợp, thực hiện phối hợp, lắp ghép nội

dung đào tạo, tiết kiệm thời gian đào tạo nhưng vẫn hình thành các kỹ năng một

cách vững chắc.Dạy học kỹ thuật theo quan điểm tích hợp đòi hỏi giáo viên

phải chuẩn bị kỹ các phương tiện nghe nhìn hoặc các phương tiện trực quan

khác phục vụ cho bài dạy. Đặc biệt nếu sử dụng tích hợp lý thuyết với thực

hành thì các thiết bị thực hành phải đầy đủ, tin cậy thì mới triển khai được bài

dạy.



1.3. CƠ SỞ LÝ LUẬN DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

1.3.1. Những nguyên tắc thực hiện dạy học kỹ thuật theo quan điểm tích hợp.

Khi thực hiện bài dạy kỹ thuật theo quan điểm tích hợp phải đảm bảo được một số

nguyên tắc sau:

-



Mỗi bài dạy phải là một chỉnh thể thống nhất, trọn vẹn và hoàn chỉnh về nội

dung thực hiện được các mục tiêu của mô đun bao gồm cả kiến thức và kỹ

năng cơ sở (đại cương).

21



-



Giáo viên chỉ đóng vài trò tổ chưc, cố vấn, hướng dẫn HSSV cách vận dụng



-



lý thuyết vào giải quyết các vấn đề cụ thể trong thực hành và trong cuộc sống.

Quan điểm tích hợp phải được xác định rõ ràng từ khi xây dựng mục tiêu đến

nội dung chương trình mơ đun và cấu trúc bài dạy, rồi đến PPDH và hình thức

tổ chức dạy học để thiết lập các tình huống dạy học nhằm giúp HSSV tạo khả

năng vừa củng cố, vừa vận dụng tổng hợp các kiến thức đã học ở các mô đun

vào từng bài hoặc mô đun cụ thể.

Dạy học theo quan điểm tích hợp phải thỏa mãn các nguyên tắc sư phạm của



-



q trình dạy học đó là:

• Kết hợp tính giáo dục với hình thành kiến thức, kỹ năng

và phát triển tư duy kỹ thuật cho SV;

• Kết hợp tính khoa học với tính vừa sức

• Kết hợp tính lý luận với tính thực tiễn;

• Kết hợp củng cố và phát triển năng lực;

• Kết hợp hoạt động của thầy với hoạt động của trò…

Dạy học tích hợp phải đảm bảo tiết kiệm được thời gian, tăng thời gian và liệu



-



quả thực hành nghề, nâng cao được chất lượng đào tạo nghề theo mục tiêu

đào tạo đã đề ra.

Cấu trúc của bài dạy tích hợp phải mềm dẻo, linh hoạt, tạo được sự liên thơng



-



giữa các loại hình đào tạo.

1.3.2. Dạy học nghề theo quan điểm tích hợp

1.3.2.1.Các điều kiện cơ bản để tiến hành tổ chức dạy nghề theo quan điểm tích

hợp.

a.



Về chương trình đào tạo

Mục tiêu quan trọng nhất của các chương trình đào tạo nghề là hình thành

các kỹ năng hành nghề (năng lực thực hiện) cho người học. Theo xu thế hiện

nay các chương trình dạy nghề đều được xây dựng trên cơ sở tổ hợp các năng

lực cần có của người lao động trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Phương

pháp được dùng phổ biến để xây dựng chương trình là phương pháp phân tích

nghề hoặc phân tích chức năng của từng nghề cụ thể. Theo các phương pháp

22



này thì các chương trình đào tạo nghề thường được kết cấu theo các mô đun học

tập. Mô đun theo định nghĩa của Luật dạy nghề là đơn vị học tập được tích hợp

giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách

hồn chỉnh nhằm giúp người học nghề có năng lực thực hành trọn vẹn một số

công việc của một nghề.Như vậy, theo định nghĩa này thì mục tiêu đào tạo trong

các mơ đun là hình thành các kỹ năng nghề. Điều này, cũng đồng nghĩa với việc

các nội dung giảng dạy trong mô đun phải được xây dựng theo hướng “tiếp cận

theo kỹ năng” hay nói cách khác là “theo năng lực thực hiện”. Trong lý luận

cũng như trong thực tiễn, để hình thành được năng lực thực hành (kỹ năng) hay

năng lực thực hiện thì người học cần phải được hướng dẫn theo một trình tự

hợp lý, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, kết hợp (tích hợp) được cả kiến

thức chun mơn và kỹ năng thực hành trong q trình học tập. Thơng thường

nó được thể hiện thơng qua một trình tự thực hiện hay một quy trình cơng nghệ

để hình thành kỹ năng cần có. Như vậy, điều kiện để dạy học nghề theo quan

điểm tích hợp là: Chương trình phải được cấu trúc theo các mô đun năng lực

thực hiện.

Trong thực thế, từ năm 2006 đến nay Bộ Lao động Thương binh – Xã hội đã

ban hành được hơn 200 bộ chương trình khung cho từng nghề, nhưng số

chương trình khung đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tổ chức dạy nghề theo quan

điểm tích hợp theo từng bước cơng việc còn chưa nhiều. Do vậy, các cơ sở dạy

nghề nói chung và trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Hàn Quốc thành phố Hà

Nội nói riêng khi triển khai tổ chức dạy học tích hợp cũng gặp nhiều khó khăn.

b.Về cơ sở vật chất

Bản chất của tổ chức dạy học tích hợp là tổ chức dạy học kết hợp giữa dạy lý

thuyết và dạy thực hành trong cùng một không gian (trong cùng một địa điểm tổ

chức và học) và trong cùng một thời gian (cùng tiến hành trong thời gian dạy

từng kỹ năng). Điều này, có nghĩa là khi dạy một kỹ năng nào đó phần kiến

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC TÍCH HỢP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×