Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2013 theo giá so sánh 1994 ước đạt 12.110 tỷ đồng, tăng 8,56% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,9%, đóng góp 0,85 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của tỉnh; nhóm ngành công nghi

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2013 theo giá so sánh 1994 ước đạt 12.110 tỷ đồng, tăng 8,56% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,9%, đóng góp 0,85 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của tỉnh; nhóm ngành công nghi

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.019 ha đã làm cho sản lượng lúa cả 3 vụ giảm hơn 45 ngàn tấn. Bên cạnh đó, hoạt động ni

trồng thủy sản cũng gặp khơng ít khó khăn.

Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng ước đạt 3.983 tỷ đồng, tăng 9,46% so với cùng kỳ,

riêng giá trị tăng thêm (VA) ngành cơng nghiệp tăng 8,17%. Nhìn chung sản xuất công nghiệp trên

địa bàn tỉnh trong năm đã duy trì được mức tăng trưởng tích cực. Trong đó, giá trị tăng thêm (VA)

ngành cơng nghiệp khai khống tăng 6,89%, ngành công nghiệp chế biến tăng 9,21%, riêng ngành

sản xuất và phân phối điện chỉ tăng 2,96% vì thiếu hụt nguồn nước.

Nhóm các ngành còn lại ước đạt 4.765 tỷ đồng, tăng 12,15% so với cùng kỳ. Trong đó,

ngành thương nghiệp tăng 10,23%, ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,18%, ngành vận tải

kho bãi tăng 10,48%, ngành hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 2,54%...



Cơ cấu kinh tế (%)

Năm 2012 Năm 2013

TỔNG SỐ

Chia ra: - Nông, lâm, thủy sản

- Công nghiệp - Xây

dựng

- Các ngành còn lại



Tăng (+)

giảm (-)



100,0



100,0



-



33,6



29,6



- 4,0



26,9



31,1



+ 4,2



39,5



39,3



- 0,2



- Kim ngạch xuất khẩu:

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 ước đạt 620 triệu USD, tăng 8,0% so với cùng kỳ. Trong

đó, kinh tế Nhà nước chiếm 10,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng trưởng -10%; kinh

tế tư nhân chiếm 84,3%, tăng trưởng 11,7%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 4,8%, tăng

trưởng -4,3% so với cùng kỳ.



16



Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu có giá trị cao đều đạt tăng trưởng khá. Trong đó, nhóm các

sản phẩm bằng gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất 32,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng

8,9%; nhóm hàng nơng sản khác chiếm 16,1%, tăng trưởng 15,3%; dăm gỗ chiếm 10,8%, tăng

trưởng 18,8%; hàng thủy sản chiếm 9,5%, tăng trưởng 13,0%; hàng dệt may chiếm 7,1%, tăng

trưởng 25,7%…

Tuy nhiên, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm như thuốc tây giảm 51,8%; khống

sản giảm 24,2%; gạo giảm 20%...

- Tình hình xuất khẩu gỗ của tỉnh:

Khai thác gỗ và lâm sản khác đạt 196 tỷ đồng, tăng 8,3%; thu nhặt các sản phẩm từ rừng và dịch

vụ lâm nghiệp 42 tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ.

Sản lượng khai thác gỗ ước năm 2013 ước đạt 447.546 m3, tăng 11,1% so với cùng kỳ. Trong đó,

khai thác gỗ rừng tự nhiên ước đạt 4.000 m3, giảm 41,1%; khai thác gỗ rừng trồng 443.546 m3, tăng

12,0% so với cùng kỳ.

- Phân tích nguyên nhân tăng giảm trong năm của ngành:

Từ đầu năm 2013, ngành Lâm nghiệp đã tiến hành khảo sát và thiết kế nội dung về kỹ thuật lâm

sinh, bố trí vùng trồng, khốn quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, chuẩn bị

vật tư, cây giống cho cơng tác trồng và chăm sóc rừng.

Sản phẩm tăng khá do chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ ổn định.

- Lợi thế và thách thức:

Lợi thế:

+ Diện tích đất rừng đang được củng cố và bảo vệ.

+ Chuẩn bị vật tư, cây giống cho cơng tác trồng và chăm sóc rừng.

Khó khăn:

+ Chi phí đầu vào tăng cao như điện, nước, xăng dầu, dịch vụ vận chuyển...

+ Nguồn nguyên liệu đầu vào khan hiếm, nhiều doanh nghiệp phải nhập khẩu từ nước ngồi.

+ Thị trường tiêu thụ khơng ổn định.

+ Doanh nghiệp quá phụ thuộc vào thị trường Mỹ và Châu Âu, hiện tại sức mua giảm so với

nhiều năm trước.



Năm 2014

17



 Tình hình kinh tế và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bình Định.

Tình hình kinh tế:

Trên lĩnh vực nơng nghiệp, nơng dân tập trung chăm sóc các loại cây trồng vụ Mùa. Chăn

nuôi đang dần hồi phục và phát triển.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 6,49% so với cùng kỳ và tăng 6,11% so với

tháng trước; tính chung 10 tháng tăng 7,01%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 giảm 0,4% so với tháng

trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 11,6%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,02% so với tháng trước; bình quân 10 tháng đầu

năm 2014 tăng 4,82% so với cùng kỳ.

- Kim ngạch xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 ước đạt 48 triệu USD, tăng 7,9% so với tháng trước và tăng 2,3%

so với cùng kỳ.

Tính chung 10 tháng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 493 triệu USD, so với cùng kỳ

4,3%. Trong đó, kinh tế Nhà nước ước đạt 44 triệu USD, chiếm 8,8% tổng kim ngạch

khẩu, bằng 76,9% so với cùng kỳ; kinh tế tư nhân ước đạt 419 triệu USD, chiếm 85,0%,

trưởng 7,0% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi ước đạt 30 triệu USD, chiếm 6,2%,

trưởng 25,2% so với cùng kỳ.



tăng

xuất

tăng

tăng



Nhóm hàng cơng nghiệp ước đạt 95 triệu USD, chiếm 19,4% tổng kim ngạch xuất khẩu,

tăng trưởng 68,9% so cùng kỳ. Trong đó, ngành may mặc tăng 50,6%; ngược lại mặt hàng giày

dép da các loại giảm 35,6%, cao su giảm 41,6% so cùng kỳ.

Hàng thủy hải sản: Ước đạt 54 triệu USD, chiếm 10,9% tổng giá trị xuất khẩu, tăng trưởng

15,7% so với cùng kỳ. Trong đó, tơm đông lạnh tăng 1,2%, cá đông lạnh tăng 20%. Thị trường

xuất khẩu chủ yếu là Pháp và Tây Ban Nha, chiếm lần lượt 12,2% và 9,5%.

Hàng khoáng sản: Ước đạt 36 triệu USD, chiếm 7,3% tổng giá trị xuất khẩu, giảm 39,3%.

Trong đó, hàng Ilmenite ước đạt 16 triệu USD, giảm 64,9% so cùng kỳ.

Hàng lâm sản: Ước đạt 212 triệu USD, chiếm 43,1% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, tăng

10,6% so với cùng kỳ. Nhóm này xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm bằng gỗ ước đạt 155 triệu

USD, tăng 16,8%, dăm gỗ ước đạt 57 triệu USD, giảm 3,3% so với cùng kỳ.

Hàng nông sản: Ước đạt 96 triệu USD, chiếm 19,3% tổng giá trị xuất khẩu, so cùng kỳ giảm

19,1%. Mặt hàng này trong những năm qua tăng trưởng không ổn định và phụ thuộc lớn vào

nhu cầu nhập khẩu của các nước. Một số mặt hàng như: Sắn lát giảm 17,2%; gạo các loại ước

đạt 20 triệu USD, giảm 30,4%.

18



Biểu đồ t ỷ t rọng xuất khẩu của Bình Định năm 20 14

19.40%



19.30%



10.90%



7.30%

43.10%



Cơng nghiệp



Thủy hải sản



Khống sản



Lâm sản



Nơng sản



- Tình hình xuất khẩu gỗ của tỉnh:

Ước tính sản lượng gỗ rừng trồng khai thác 10 tháng đầu năm 2014 đạt 453.201 m 3, tăng 16,3%

(+63.543 m3) so với cùng kỳ.

Ước sản lượng củi khai thác 10 tháng đầu năm 2014 đạt 454.215 ster, tăng 6,8% (+29.059 ster)

do lượng gỗ rừng trồng khai thác tăng khá so với cùng kỳ.

- Phân tích nguyên nhân tăng giảm trong năm của ngành:

Sản lượng khai thác đã tăng trong năm nay do mức độ đẩy nhanh xuất khẩu gỗ ra các thị trường

khác. Một số khu vực trồng cây lâm sản, rừng sản xuất đã được đưa vào sử dụng kinh tế.

- Lợi thế và thách thức:

Lợi thế:

+ Thị trường đang được mở rộng.

+ Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng.

+ Nhiều đơn vị cung cấp cây trồng để tái sinh rừng được hỗ trợ bởi chính phủ.

+ Chủ động cơ cấu lại hoạt động sản xuất, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Khó khăn:

+ Trong 10 tháng đầu năm 2014 thời tiết trong tỉnh nắng nóng kéo dài.

+ Tình hình chặt phá rừng làm nương rẫy vẫn xảy ra ở một số địa phương trong tỉnh gây hư

hại và thất thoát rừng.

+ Thị trường xuất khẩu giảm nhu cầu.

19



Năm 2015

 Tình hình kinh tế và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bình Định.

Tình hình kinh tế:

Tổng sản phẩm trong (GDP) năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, trong đó quý I

tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,87%; quý IV tăng 7,01%. Mức tăng trưởng năm nay

cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2014 cho thấy nền kinh tế

phục hồi rõ nét. Trong mức tăng 6,68% của tồn nền kinh tế, khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản

tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm 2014, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung;

khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước, đóng

góp 3,2 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm.

- Kim ngạch xuất khẩu:

Tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) năm 2015 của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định

thực hiện 108,6 triệu USD, giảm 11,5% so với năm 2014 và đạt 24,7% kế hoạch năm.

KNXK tháng 4 năm 2015 ước thực hiện 38,7 triệu USD, luỹ kế 4 tháng đầu năm 2015 ước thực hiện

117,3 triệu USD, đạt 29,3% kế hoạch năm và giảm 22% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó cơ cấu

các nhóm hàng xuất khẩu trong 4 tháng gồm: nhóm hàng nông sản ước thực hiện 14,3 triệu USD,

đạt 36,2% kế hoạch năm (giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2014), nhóm hàng lâm sản 70,3 triệu

USD, đạt 34,5% kế hoạch năm (giảm 25%), nhóm hàng thuỷ hải sản 11,2 triệu USD, đạt 21,7% kế

hoạch năm (tăng 27,6%), nhóm hàng khoáng sản và vật liệu xây dựng 4,5 triệu USD, đạt 12% kế



20



hoạch năm (giảm 50%), nhóm hàng cơng nghiệp tiêu dùng đạt 7 triệu USD.



Triệu USD



Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng của tỉnh Bình Định năm 2015

80

70

60

50

40

30

20

10

0

ng





sả



n

m





sả



n



Th



y



i

hả



sả



n



g

án

o

Kh



sả



n







tl

vậ



i



ệu





yd





ng



ng





ng



hi



ệp



tiê



u







ng



Nhóm ngành

Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng của tỉnh Bình Định năm 2015



- Tình hình xuất khẩu gỗ của tỉnh:

Hoa Kỳ là thị trường đạt kim ngạch cao nhất 2,6 tỷ USD, chiếm 38,2% tổng kim ngạch, tăng

18,22%. Đứng thứ hai là thị trường Nhật Bản, tăng 9,50% đạt trên 1 tỷ USD. Tuy có vị trí thuận lợi

trong việc giao thương hàng hóa nhưng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Trung Quốc chỉ đứng thứ

ba trong bảng xếp hạng, đạt 982,6 triệu USD, tăng 12,72% so với năm 2014.

Nhìn chung, năm 2015, xuất khẩu gỗ và sản phẩm sang các thị trường đều có tốc độ tăng trưởng

dương, số thị trường này chiếm 56,7%, trong đó xuất sang thị trường Thái Lan tăng trưởng mạnh

vượt trội, tăng 49,3%, kế đến là thị trường Mehico tăng 36,79%, Saudi Arabia tăng 34,42%.

- Phân tích nguyên nhân tăng giảm trong năm của ngành:

Trong năm 2015, do thị trường Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, Bình Định quyết định từ năm

2015 sẽ chuyển sang chế biến sâu mặt hàng dăm gỗ, thay vì xuất thơ như hiện nay. Chính vì vậy đã

ảnh hưởng khơng nhỏ tới kim ngạch xuất khẩu của ngành. Một số doanh nghiệp đã bắt đầu thay đổi

công nghệ cho phù hợp. Điều này khiến cho một lượng lớn gỗ ở địa phương bị tồn đọng.

- Lợi thế và thách thức:

Lợi thế:

+ Các doanh nghiệp đang đầu tư công nghệ mới, sản phẩm và mẫu mã mới.

+ Nguồn cung nguyên liệu đang được mở rộng.

Thách thức:

+ Giá trị ngoại tệ đang bị ảnh hưởng bởi các biến động chính trị và kinh tế trên thế giới.

21



+ Các doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ xuất khẩu trong tỉnh thường xuyên bị phía Trung Quốc

ép giá.

+ Lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc gây ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu và đời

sống bà con nông dân.



Năm 2016

 Tình hình kinh tế và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bình Định.

Tình hình kinh tế:

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2016 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 44.523,2 tỷ đồng,

tăng trưởng 7,53% so với cùng kỳ, vượt 0,03% so với kế hoạch (kế hoạch tăng trưởng GRDP năm

2016 là 7,5%). Trong đó, khu vực nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,12%; khu vực công nghiệp xây dựng tăng 9,17%, riêng công nghiệp tăng 8,6%; khu vực dịch vụ tăng 8,52%; thuế sản phẩm trừ

trợ cấp sản phẩm tăng 6,18%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 10.189,9 tỷ đồng, tăng 4,12% so với cùng kỳ.

Trong đó, ngành nơng nghiệp đạt 6.631,2 tỷ đồng, tăng 3,74%; ngành lâm nghiệp đạt 523,4 tỷ

đồng, tăng 6,75%; ngành thủy sản đạt 3.035,3 tỷ đồng, tăng 4,51%.

Tác động vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp chủ yếu là hoạt động trồng trọt và chăn

nuôi. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi (theo giá so sánh 2010) có mức tăng so cùng

kỳ lần lượt 1,8% và 5,8%.

Theo kết quả ước tính, mặc dù sản lượng một số loại cây trồng có diện tích lớn của tỉnh trong năm

2016 giảm so cùng kỳ như lúa (-2,8%), ngơ (-1,1%), sắn (-2,1%), mía (-28,4%), nhưng bù lại các

loại cây có giá trị cao có sản lượng tăng khá như lạc (+13,4%), vừng (+18,5%), rau các loại

(+7,4%) đã tác động tích cực đến giá trị sản xuất ngành trồng trọt.

Kim ngạch xuất khẩu:

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2016 ước tính đạt 730,5 triệu USD, tăng 4% so với cùng kỳ.

Trong đó, kinh tế Nhà nước đạt 31,7 triệu USD, chiếm 4,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm

17,7%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 635 triệu USD, chiếm 86,9%, tăng trưởng 5,1%; kinh tế có vốn

đầu tư nước ngoài đạt 63,8 triệu USD, chiếm 8,7%, tăng trưởng 7,7% so với cùng kỳ.

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu, có 6 nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu chiếm 91,3% kim ngạch

xuất khẩu của tỉnh, gồm: hàng thuỷ sản; sắn và các sản phẩm từ sắn; quặng và khoáng sản khác; gỗ; sản

phẩm gỗ và hàng dệt, may. Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 236,9 triệu USD, tăng 1,3%; hàng dệt,

may đạt 115,1 triệu USD, tăng 32,9%; hàng thuỷ sản đạt 71,1 triệu USD, tăng 5,8%; quặng và khoáng

sản khác đạt 43 triệu USD, tăng 24,9%. Trong khi đó, gỗ đạt 124,2 triệu USD, giảm 6,5%; sắn và các

22



sản



phẩm



từ



sắn



đạt



77



triệu



USD,



giảm



15,1%.



Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bình Định năm 2016

250



Triệu USD



200

150

100

50

0



Gỗ



Hàng dệt may



Quặng và khống sản



Thủy sản



Nhóm hàng

Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bình Định năm 2016



- Tình hình xuất khẩu gỗ của tỉnh:

Dù rất nỗ lực nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành CBG-LS tỉnh năm 2016 cũng chỉ

đạt khoảng 361,2 triệu USD, giảm 2,2% so với năm 2015; tỉ lệ giá trị kim ngạch xuất khẩu so với

tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh giảm từ 60% xuống còn 49,5%.

- Phân tích ngun nhân tăng giảm trong năm của ngành:

Ngành gỗ năm nay có mức tăng nhẹ do chính sách giảm lượng xuất khẩu dăm gỗ. Thị trường xuất

khẩu gỗ gặp nhiều hạn chế ở Trung Quốc. Ngồi ra, trong năm nay, diện tích rừng bị giảm do khai thác

quá nhiều dẫn đến sản lượng nội địa giảm mạnh.

- Lợi thế và thách thức:

Lợi thế:

+ Đẩy mạnh chuyển đổi sản xuất đồ gỗ ngoài trời sang đồ gỗ trong nhà.

+ Gia tăng đầu tư công nghệ chế biến mới, vật liệu mới; đổi mới sáng tạo mẫu mã thiết kế.

+ Ứng dụng công nghệ thơng tin vào quy trình sản xuất.

+ Liên kết với các hội ngành hàng, phối hợp triển khai thực hiện các dự án trong ngành gỗ

trên cả nước.

Thách thức:

+ Tình hình kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn.

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2013 theo giá so sánh 1994 ước đạt 12.110 tỷ đồng, tăng 8,56% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,9%, đóng góp 0,85 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của tỉnh; nhóm ngành công nghi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×