Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân chia từ loại tính từ và khả năng kết hợp.

Phân chia từ loại tính từ và khả năng kết hợp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Cao đẳng Hải Dương

Đề tài nghiên cứu khoa học

Ngoài ra trong câu, tính từ có thể đảm nhiệm chức năng cú pháp của nhiều thành

phần khác.

VD: + Làm định ngữ : Đó là phim mới .

+ Làm bổ ngữ : Anh nói nhanh như gió.

+ Làm trạng ngữ : Xưa có một người nơng dân nghèo.

+ Làm chủ ngữ : Hiếu thảo là đức tính tốt của những người con.

Căn cứ vào ý nghĩa khái quát của các tiểu phạm trù, có thể phân biệt 2 loại tính

từ. Các tính từ biểu hiện các đặc điểm về chất. Những đặc điểm này khơng thể

“lượng hố" được, mà chỉ có thể được sắc thái hố. Đó là các nhóm tính từ :

+ Chỉ mầu sắc : xanh, đỏ, tím, vàng, đen, trắng, ...

+ Chí kích thước, hình dáng : to, nhỏ, lớn, bé, ...

+ Chỉ mùi vị : cay, đắng, ngọt, bùi, mặn, chát chua, thơm, thối, hắc, ...

+ Chỉ tính chất vật lí : cứng, mềm, dẻo, giòn, rắn, căng, chùng, nhão, nát, …

+ Chỉ phẩm chất của sự vật : tốt, xấu, hay ,dở, xinh, đẹp, tồi, .....

+ Chỉ đặc điểm tâm lí : hiền, ác, dữ , lành, điềm đạm, nóng nảy, cục, phúc hậu

+ Chỉ đặc điểm sinh lí : khoẻ, yếu, mạnh, cường tráng, tráng kiện, ốm yếu ,...

+ Chỉ đặc điểm trí tuệ : ngu, đần, dốt ,thông minh, lanh lợi. khôn khéo, mưu trí,

xảo trá, gian dối, . . .



5



5



Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọ



Trường Cao đẳng Hải Dương

Đề tài nghiên cứu khoa học

+ Chỉ cách thức hoạt động : nhanh, chậm ,vững, thạo, bền, chắc, rề rà, chậm

chạp ….

Các tính từ chỉ đặc điểm về lượng. Những đặc điểm này có thể "lượng hố"

(nhờ một thành tố phụ có số từ chính xác đi sau : dày 400 trang).

VD: cao, thấp, nông, sâu, rộng, hẹp, ngắn, dài, nặng, nhẹ, mỏng, dày, xa, gần,...

Căn cứ vào nét nghĩa mức độ và khả năng thể hiện ý nghĩa mức độ nhờ các

thành tố phụ, có thể phân biệt hai nhóm tính từ : Các tính từ chỉ đặc điểm, tính chất

có các thang độ khác nhau. Tuỳ theo thang độ của các đặc điểm tính chất mà các

tính từ đó có thể kết hợp với các thành tố phụ khác nhau : khá, ít, rất, lắm, vô cùng,

cực, cực kỳ, tuyệt, …

VD: rất đẹp; khá hay; vơ cùng dũng cảm; cực kì thơng minh.

Có thể thể hiện mức độ nhờ sự kết hợp với các thành tố phụ khác.

VD: đẹp như tiên, cao như núi; sâu đến ngực, cao đến lưng trời; sâu thăm thẳm, cao

vời vợi.

Các tính từ chỉ đặc điểm khơng phân biệt theo các thang độ khác nhau. Các

tính từ này không kết hợp với các thành tố phụ chỉ mức độ. Có hai loại :

+ Các tính từ chỉ tính chất được phân hoá thành hai cực rõ rệt, giữa hai cực đó

khơng có các thang độ chuyển tiếp.

VD: đực/cái, trống/mái, riêng/chung, cơng/tư, âm lịch/dương lịch.

+ Các tính từ được cấu tạo theo phương thức ghép, trong đó các hình vị đi sau

vừa sắc thái hố ý nghĩa cho hình vị đi trước, vừa chỉ mức độ cao nhất của đặc

điểm tính chất mà hình vị đi trước biểu hiện.

6



6



Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọ



Trường Cao đẳng Hải Dương

Đề tài nghiên cứu khoa học

VD: xanh lè, đen kịt, cao ngất, thơm phức , đỏ au, trắng xoá, bạc phếch, trọc lốc,

xanh um, vàng xuộm, tím ngắt, nhỏ xíu, ...

Ý nghĩa ngữ pháp của từ có những mức độ khác nhau. Trong ý nghĩa ngữ pháp

chung của một từ loại có các nhóm ý nghĩa bộ phận mà ý nghĩa khái quát ở mức độ

thấp hơn, chẳng hạn ý nghĩa chỉ đặc điểm của sự vật hiện tượng thường được xem

là ý nghĩa khái qt chung của tính từ. Có hai loại tính từ chính: Tính từ chỉ đặc

điểm tương đối (có thể kết hợp với từ chỉ mức độ); Tính từ chỉ đặc điểm tuyệt đối

( không thể kết hợp với từ chỉ mức độ). Các ý nghĩa khái quát là một căn cứ để

phân chia một từ loại thành các tiểu loại.

Từ vựng tiếng Việt khơng có sự biến đổi hình thái để biểu hiện ý nghĩa ngữ

pháp. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào ý nghĩa ngữ pháp thì chưa đủ để phân định từ loại

của từ. Do đặc điểm là một ngôn ngữ đơn lập nên trong tiếng Việt, tiêu chuẩn về

hình thức ngữ pháp được xem xét ở hai góc độ là khả năng kết hợp và chức vụ cú

pháp của từ.



* Khả năng kết hợp

Mỗi một lớp từ có những khả năng kết hợp khác nhau. Khả năng kết hợp của từ

không tách rời ý nghĩa ngữ pháp của nó. Khả năng kết hợp hay còn gọi là thế phân

bố của từ được xem xét ở góc độ khả năng kết hợp với yếu tố đứng ngay trước hoặc

đứng ngay sau đó.

Thực chất của khả năng kết hợp này của từ là khảo sát sự phân bố các lớp từ

trong một đơn vị cấu trúc (lớn hơn từ) có sẵn ở tiếng Việt, có khn hình riêng cho

mỗi loại (ngữ tính từ, …). Ngữ là một đơn vị cú pháp (ít nhất có từ hai từ trở lên).

Các yếu tố trong cấu trúc ngữ, hình thành quan hệ ngữ pháp chính - phụ, có thành

7



7



Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọ



Trường Cao đẳng Hải Dương

Đề tài nghiên cứu khoa học

tố là thực từ ở vị trí trung tâm và kèm theo các thành tố phụ ở vị trí đứng trước

hoặc sau thành tố trung tâm.

Gần gũi với động từ, tính từ cũng có khả năng kết hợp với các phụ từ .Tuy

nhiên, thường tính từ rất ít kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh, ngược lại phần

lớn các tính từ dễ dàng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ. Nói' cách khác tính từ có

thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của một cụm từ chính phụ mà các thành tố

phụ là các phụ từ, trong đó khá tiêu biểu là các phụ từ chỉ mức độ.

Sự phân bố vị trí cho mỗi lớp từ (trên trục hệ hình) trong cấu trúc ngữ là có tính

quy tắc khách quan hệ thống chứ khơng phải là ngẫu nhiên tùy tiện, có thể dựa vào

vị trí được phân bố của các lớp từ mà ta xem xét khả năng kết hợp của lớp từ này

với lớp từ khác để thấy được đặc điểm ngữ pháp của mỗi lớp từ .

-



Dựa vào sự chi phối của lớp từ ở trung tâm để nhận biết từ loại của lớp từ

làm thành tố phụ.



-



Dựa vào khả năng kết hợp của các lớp từ làm thành tố phụ để xác định từ

loại lớp từ ở trung tâm.



-



Dựa vào đặc điểm của lớp thành tố phụ này để nhận ra đặc điểm từ loại của

các lớp thành tố phụ khác .



Khi xem xét khả năng kết hợp giữa các lớp từ trong cấu trúc ngữ, cần quan tâm

đầy đủ đến các dạng thức, các trường hợp có thế xảy ra, xem khả năng kết hợp đó

là bắt buộc hay khơng bắt buộc, các lớp từ có khác nhau về nhu cầu kết hợp hay

không, xem khả năng kết hợp đó là trực tiếp hay gián tiếp, ở vị trí trước hay sau từ

trung tâm, sự kết hợp đó có dẫn đến sự biến đổi nghĩa, thay đổi chức vụ cú pháp

của từ hay khơng …

* Ví dụ 1 : rất xanh lè, hơi trắng phau, khá đỏ .



8



8



Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọ



Trường Cao đẳng Hải Dương

Đề tài nghiên cứu khoa học

Các kết hợp này không được chấp nhận trong tiếng Việt vì các tính từ xanh lè,

trắng phau, đỏ au... là những tính từ chỉ mức độ tuyệt đối, do đó khơng thể kết hợp

với các phụ từ chỉ mức độ.

* Ví dụ 2: rất xanh, hơi trắng, khá đỏ .

Các kết hợp này được chấp nhận trong tiếng Việt.

Có lớp từ vừa có tác dụng vạch ra thế đối lập giữa các phạm trù từ loại, vừa có

khả năng làm căn cứ để chia một từ loại thành các kiều loại, ngược lại, có lớp từ chỉ

có tác dụng ở một bình diện cấu trúc. Chính vì vậy đặc trưng về khả năng kết hợp

của các lớp từ là dấu hiệu chủ yếu về ngữ pháp, có tác dụng quyết định trong việc

phân định, quy loại các lớp từ Tiếng Việt về mặt từ loại nói chung và tính từ nói

riêng.

3. Khả năng đảm nhiệm cương vị thành tố trong cụm từ:

Khả năng kết hợp của từ còn được nhìn nhận dưới góc độ khả năng làm thành

tố chính hay phụ trong cụm từ. Các từ loại như tính từ, động từ ... đều có khả năng

ngữ pháp khác nhau khi xuất hiện trong cụm từ. Chẳng hạn động từ làm thành tố

phụ trong cụm tính từ; tính từ làm thành tố chính trong cụm tính từ, làm thành tố

phụ trong cụm danh từ; hoặc các phụ ngữ ở phần trước có thể biểu thị quan hệ thời

gian; sự tiếp diễn tương tự, mức độ của đặc điểm, tính chất; khẳng định hay phủ

định; … Các phụ ngữ ở phần sau có thể biểu thị vị trí; sự so sánh; mức độ, phạm vi

hay nguyên nhân của đặc điểm, tính chất; …

Ngồi ra trong Tiếng Việt có lớp từ tượng thanh, tức những từ mà âm thanh của

nó mơ phỏng các âm thanh của tự nhiên. Các từ láy tượng thanh được các nhà

nghiên cứu tiếng Việt quan niệm khác nhau : hoặc là động từ, hoặc là tính từ. Nếu

căn cứ vào cơng dụng ý nghĩa của chúng (chúng thường miêu tả tính chất của một

hoạt động, một q trình : chim hót líu lo, nước chảy róc rách) và chức năng

9



9



Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọ



Trường Cao đẳng Hải Dương

Đề tài nghiên cứu khoa học

thường làm thành tố phụ cho động từ (như phần lớn các tính từ) thì có thể quan

niệm các từ láy tượng thanh là tính từ. Nhưng xét về nét nghĩa mức độ, thì các từ

láy tượng thanh này, rõ ràng không hàm chứa nét nghĩa mức độ. Chúng không kết

hợp với các thành tố phụ chỉ mức độ.

*Ví dụ :

* chăm chỉ học tập (Đg làm thành tố phụ trong CTT)

Đg

* đẹp vơ cùng (T làm thành tố chính trong CTT)

T

* rất chăm chỉ học hành (T làm thành tố phụ trong cụm TT)

T

II. HỆ THỐNG TÍNH TỪ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU

HỌC.

1. Tìm hiểu về tính từ trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học:

Trong chương trình và sách Tiếng Việt Tiểu học hiện hành, tính từ được đưa

vào nội dung dạy học ngữ pháp cho học sinh. Chương trình và sách giáo khoa sắp

xếp các bài học về từ loại tính từ ngay từ lớp 2 dưới hình thức của kiểu bài lý

thuyết (là các khái niệm, cách phân loại ... học câu, đoạn, thực hành, vận dụng). Ở

các lớp 2, lớp 3 các kiến thức về từ loại tính từ nói riêng và ngữ pháp nói chung

được dạy học thông qua các bài tập thực hành. Đến lớp 4, lớp 5 kiểu bài lý thuyết

mới xuất hiện nhưng ít hơn so với thực hành. Các dạng bài tập được phân loại để

giúp học sinh dễ dàng trong việc làm bài tập. Bài tập về từ loại tính từ trong

chương trình Tiểu học có các dạng bài tập như: bài tập nhận diện, bài tập phân loại,

bài tập vận dụng.

2. Khảo sát

10



10



Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân chia từ loại tính từ và khả năng kết hợp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×