Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trên mô bệnh học cần phân biệt phạm vi tổn thương của ống tiêu hóa để loại trừ bệnh Crohn: VLĐTTCM chỉ tổn thương ở đại tràng và tổn thương không đến lớp cơ còn trong bệnh Crohn toàn bộ ống tiêu hóa đến hậu môn và tổn thương đến lớp cơ niêm. Thực hiện

Trên mô bệnh học cần phân biệt phạm vi tổn thương của ống tiêu hóa để loại trừ bệnh Crohn: VLĐTTCM chỉ tổn thương ở đại tràng và tổn thương không đến lớp cơ còn trong bệnh Crohn toàn bộ ống tiêu hóa đến hậu môn và tổn thương đến lớp cơ niêm. Thực hiện

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



Đặc điểm



VLĐTTCM

Chỉ khu trú ở đại tràng,



Crohn

Có thể xảy ra ở bất kỳ



Vị trí tổn



chủ yếu ở đại tràng



phần nào của đường tiêu



thương



xuống và một phần đại



hóa từ miệng tới hậu



tràng ngang.

Tổn thương chỉ dừng lại



môn.

Tổn thương có thể sâu



ở lớp niêm mạc và dưới



tới lớp cơ thậm chí toàn



niêm mạc, không tổn



bộ chiều dày của thành



thương đến lớp cơ.



ruột gây thủng ruột hoặc



Nội soi

Tính chất

tổn thương



Cấu trúc



tạo thành các lô dò.

Không đều, chia nhánh, Không đều, chia nhánh,

khe tuyến lan tỏa

khe tuyến khu trú

Tương bào, lympho bào Tương bào, lympho bào







nằm ở vùng đáy khe không nằm ở vùng đáy



bệnh



tuyến



học



Viêm mạn



khe tuyến



Viêm xuyên niêm mạc Viêm xuyên niêm mạc

lan tỏa không vượt qua lan tỏa vượt qua cơ niêm

cơ niêm



1.3. Cơ chế bệnh sinh bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu

Bệnh VLĐTTCM là bệnh có tính chất tự miễn, mặc dù nguyên nhân

bệnh chưa rõ, nhưng người ta thấy rõ sự tác động của phản ứng viêm có liên

quan đến các cytokin gây tổn thương niêm mạc đại tràng và biểu hiện bệnh là

kết quả của sự tác động qua lại giữa các yếu tố gen, môi trường và quá trình hoạt

hóa liên tục của hệ miễn dịch niêm mạc ruột. Nhiều tác giả cho rằng, niêm

mạc của bệnh nhân Crohn bị chi phối bởi tế bào (TB) lympho CD4 với

phenotyp Th1 mà sản phẩm đặc trưng là Interferon và IL-2. Ngược lại, niêm

mạc của bệnh nhân VLĐTT CM được chi phối bởi TB lympho CD4 với

phenotyp Th2 mà sản phẩm đặc trưng là yếu tố tăng trưởng  (TGF-) và

IL-5, nhưng không có IL-4 .



24



1.3.1. Bản chất của cytokin

Có nhiều loại tế bào khác nhau tham gia vào đáp ứng miễn dịch, chủ

yếu là các tế bào dạng lympho, các tế bào viêm và các tế bào tạo máu khác.

Những tương tác phức tạp xảy ra giữa các tế bào này với nhau được thực hiện

thông qua một nhóm các protein được gọi chung là các cytokin.

Các cytokin gắn vào các thụ thể đặc hiệu dành cho chúng trên màng

các tế bào đích làm khởi động các con đường dẫn truyền tín hiệu vào bên

trong tế bào và cuối cùng dẫn đến thay đổi biểu hiện gen của tế bào đích. Tế

bào nào sẽ là tế bào đích của cytokin được thể hiện bởi sự có mặt của các thụ

thể đặc hiệu dành cho cytokin trên bề mặt tế bào ấy. Thường thì ái lực giữa

cytokine và thụ thể dành cho cytokin là rất cao với hệ số phân tách (dissociation

constant) dao động từ 10-10 đến 10-12 M. Chính vì có ái lực cao mà cytokin có tác

động sinh học ngay cả ở các nồng độ rất thấp tới mức picomole.

Bản chất cytokin là protein hay glycoprotein do nhiều tế bào tiết ra, có

khả năng điều hòa và khuyếch đại phản ứng miễn dịch, phản ứng viêm và tăng

cường khả năng tạo máu, chúng có vai trò quan trọng trong đề kháng của cơ

thể chống nhiễm trùng và ung thư. Tuy nhiên, ở mức độ bất thường thì cytokin

gây bệnh lý. Các cytokin có 2 đặc điểm chung như sau:

Được sản xuất một lượng rất nhỏ nhưng tác dụng rất lớn và được sản

xuất từ các tế bào đã được kích thích (hoạt hóa).



Hình 1.1. Sơ đồ sản xuất một số cytokin



25



Các cytokin sau khi được sản xuất tác dụng hiệp đồng với nhau như IL-1

với TNF-α tác động lên nhiều loại tế bào (lympho T và B, đại thực bào, tế bào

tủy xương,...). IL-6 phối hợp với TNF và IL-1 kích thích phát triển tủy xương,

phối hợp với IL-2 phát triển hệ miễn dịch dịch thể và tăng tạo kháng thể.

1.3.2. Nguồn gốc của cytokin

Cytokin được xác định là những protein giống hormon, có trọng lượng

phân tử thấp, được sản xuất chủ yếu bởi lympho bào hoạt hóa và đại thực bào.

Ngoài ra còn được sản xuất bởi một số tế bào khác như tế bào thần kinh, biểu

bì, nguyên bào xơ, biểu mô tuyến,….

Các cytokin được sản xuất từ tế bào lympho hoạt hóa thì được gọi là

lymphokin và từ đại thực bào thì được gọi là monokin. Hoạt động của các

cytokin có thể phân thành các loại sau đây: Một số cytokin hoạt động theo

kiểu tự tiết (autocrine) có nghĩa là chúng sẽ bám lên chính tế bào đã tiết ra

chúng; Một số khác thể hiện hoạt động theo kiểu cận tiết (paracrine) có nghĩa

là chúng bám vào các tế bào lân cận. Và một số trường hợp các cytokin thể

hiện hoạt động kiểu nội tiết (endocrine), có nghĩa chúng bám vào các tế bào ở

xa nơi chế tiết. Các cytokin điều hồ cường đợ và thời gian của đáp ứng miễn

dịch bằng cách kích thích hoặc ức chế sự tăng sinh của các tế bào khác nhau

hoặc bằng cách điều hoà sự tiết các kháng thể hoặc các cytokin khác.

1.3.3. Vai trò của một số cytokin

Cytokin chủ yếu là tham gia vào sự điều hoà phát triển của các tế bào

miễn dịch, đồng thời có một số cytokin có tác động trực tiếp lên ngay bản

thân tế bào đã tiết ra chúng. Một số trong chúng có ý nghĩa trong sinh lý bệnh

của một số bệnh.

Cytokin có thể tác dụng theo các kiểu đa dụng (pleiotropy), có nghĩa là

các cytokin gây ra các hoạt tính sinh học khác nhau trên các tế bào đích khác

nhau; đồng dụng (redundancy), có nghĩa là các cytokin khác nhau có thể gây ra

những chức năng tương tự và điều này làm cho khó có thể qui một hoạt tính sinh

học biết trước cho một loại cytokin nào đó; hiệp đồng (synergy), có nghĩa là khi

hai cytokin cùng tác động thì gây ra hiệu quả lớn hơn tổng tác động của từng



26



cytokin khi tác động riêng lẻ; hoặc đối kháng (antogonism), tức là một cytokin

này có tác dụng ức chế một cytokin khác.

Hoạt động của một cytokin trên một tế bào đích tương ứng nhìn chung

sẽ điều hoà sự xuất hiện của các thụ thể dành cho cytokin và xuất hiện các

cytokin mới, những cytokin mới này sẽ tác động trên các tế bào khác tạo nên

một phản ứng dây chuyền. Bằng cách đó, đáp ứng đặc hiệu của một lympho

bào với một kháng nguyên sẽ ảnh hưởng đến hoạt tính của hàng loạt tế bào

cần thiết cho việc sinh ra một đáp ứng miễn dịch hữu hiệu. Ví dụ, các cytokin

do các tế bào Th hoạt hoá tiết ra sẽ ảnh hưởng đến hoạt tính của các tế bào B,

tế bào Tc, tế bào diệt tự nhiên (NK), đại thực bào, bạch cầu hạt, các tế bào gốc

tạo máu và như vậy có thể hoạt hố tồn bợ hệ thống các tế bào miễn dịch.

Cytokin đóng vai trò quan trọng đối với quá trình đáp ứng miễn dịch

của cơ thể, biểu hiện thông qua số lượng và chức năng của các cytokin tham gia

điều hòa tương tác các tế bào miễn dịch. Gần đây, với sự phát triển của miễn

dịch, người ta đã nghiên cứu về cytokin trong bệnh VLĐTTCM. Các kết quả

nghiên cứu cho thấy tăng nồng độ một số cytokin so với người khỏe mạnh và

liên quan tới mức độ bệnh như TNF-α, IL-6 và IL-8, ... .

* Yếu tố hoại tử u alpha (Tumor Necrosis Factor Alpha - TNF- α)

TNF- được cô lập bởi Carswell vào năm 1975 trong quá trình xác

định các yếu tố hoại tử khối u, TNF- có tác dụng làm huỷ tế bào u. Trên lâm

sàng và thực nghiệm thấy, TNF- còn gây sốt, gây tổn thương tế bào và làm

suy kiệt cơ thể (những triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân ung thư).

TNF- được sản xuất chủ yếu từ đại thực bào và bạch cầu đơn nhân.

Ngoài ra, còn do các tế bào khác như tế bào NK (natural killer cell), tế bào u

hắc tố, một vài tế bào ung thư. Sau khi được sản xuất, nó đi vào máu rồi đến

các mô và cơ quan khác. Đây là chất chủ lực phát động phản ứng viêm, bằng

cách tương tác “dương” với các cytokin khác như IL-1, IL-6, yếu tố hoạt hóa

tiểu cầu (PAF), do vậy nó có vai trò then chốt trong đáp ứng viêm. Đặc biệt

nó có vai trò quan trọng trong điều hòa phản ứng miễn dịch viêm tại chô.

Hầu hết các cơ quan của cơ thể bị ảnh hưởng bởi TNF-α do nó có cả 2

tính chất: tính kích thích tăng trưởng và tính ức chế quá trình tăng trưởng.



27



Mặt khác, TNF- có khả năng tự điều tiết, ở nồng độ thấp TNF-α thúc đẩy

quá trính sửa chữa hoặc thay thế các mô bị thương và lão hóa bằng cách kích

thích tăng trưởng nguyên bào sợi.

TNF- có tác dụng gây độc trực tiếp đối với tế bào u mà không có tác

dụng đối với các tế bào bình thường. TNF- đóng một vai trò quan trọng

trong sự phát triển của một đáp ứng viêm đặc hiệu có tác dụng “thanh lọc”

các tác nhân gây bệnh khác nhau xâm nhập vào cơ thể. Cùng với IL-1, TNF-

hoạt động trên rất nhiều loại tế bào khác nhau bao gồm các tế bào T, tế bào B,

bạch cầu đa nhân trung tính, các nguyên bào sợi, tế bào nội mô, và các tế bào

tuỷ xương làm cho các tế bào này chế tiết nhiều yếu tố khác nhau cần thiết

cho sự phát triển của một đáp ứng viêm đặc hiệu. Tuy nhiên, việc sản xuất

TNF- là một con dao hai lưỡi, nó có thể dẫn tới những phản ứng có hại, đôi

khi có thể gây tử vong.

TNF-α là một cytokin tiền viêm có vai trò quan trọng trong việc duy trì

và tăng quá trình viêm niêm mạc ở bệnh VLĐTTCM do có tác dụng như một

protein hòa tan hoặc xuyên qua màng bằng cách truyền tín hiệu thay đổi từ

hoạt hố tế bào, tăng sinh đến gây đợc và tham gia vào quá trình chết theo

chương trình của tế bào qua hai thụ thể TNF(TNFR1 và TNFR2) . Khởi đầu

trong viêm cấp, các yếu tố gây viêm trực tiếp hoạt hóa các đại thực bào làm

chúng tiết ra các cytokin: TNF-α, IL-1, IL-6. Ba cytokin này hoạt động hiệp

đồng với nhau tạo ra rất nhiều thay đởi tồn thân và tại chô. Đặc biệt trong

biến đổi tại chô, TNF-α và IL-1 làm tăng bộc lộ các phân tử kết dính, kích

thích tế bào nội mô sản xuất IL-8 (là một cytokin hoạt động rất mạnh) có tác

dụng tập trung các bạch cầu đa nhân trung tính về ổ viêm tăng bám dính vào

tế bào nội mô sản xuất ra một yếu tố kích thích tạo clon bạch cầu làm tăng số

lượng chung của bạch cầu.

* Interleukin - 1 (IL-1) , ,

IL-1 được sản xuất chủ yếu bởi các đại thực bào, bạch cầu đơn nhân

được kích thích. Đây là một chất điều hòa chính quan trọng trong phản ứng

viêm và miễn dịch. IL-1 ảnh hưởng đến một loạt các chức năng sinh học vì nó

tác dụng như một pyrogen nội sinh và làm tổn thương tế bào gan và tổng hợp



28



protein ở giai đoạn cấp tính. Đồng thời kích hoạt tế bào lympho T, tăng tổng

hợp kháng thể bởi tế bào B, làm tổn thương bài tiết bạch cầu hạt từ tủy xương,

tăng cường sản xuất collagen nguyên bào sợi và làm thay đổi sản xuất

prostaglandin. Do đó IL-1 đóng một vai trò chính trong đáp ứng viêm.

Các cytokin của họ IL-1 đóng vai trò chính trong một số bệnh viêm tự

miễn, bao gồm IBD. IL-1 có hai dạng cấu trúc: IL-1α và IL-1 β. Đối với cả

IL-1αβ, đặc tính quan trọng và liên quan nhất là sự khởi đầu của

cyclooxygenase loại 2, synthase oxit nitric gây ra và phospholipase A2, được

tạo ra bởi các loại tế bào khác nhau. Chất đối kháng thụ thể nội sinh IL-1 (IL1Ra), một chất đối kháng xảy ra tự nhiên của IL-1, điều chỉnh cân bằng miễn

dịch bình thường trong ruột. Sự gia tăng tỷ số IL-1 / IL-1Ra tương ứng với

hoạt động của viêm đại tràng, trong khi tỷ lệ IL-1 / IL-1Ra vẫn không đổi

trong phần không bị ảnh hưởng (phần niêm mạc lành) của đại tràng và trong

các kiểm sốt viêm khơng phải do IBD. Nguồn gốc chính của IL-1 trong IBD

là hệ thống monocyte / macrophage vì nó có thể kích hoạt enzym chuyển đổi

IL-1, do đó hoạt tính IL-1β được giải phóng vào niêm mạc đại tràng .

IL-1 tác động tại chô bằng cách giải phóng prostaglandin, thromboxan,

yếu tố kích hoạt tiểu cầu từ các tế bào viêm và tác dụng như mợt hormone

t̀n hồn gây ra sốt và sản xuất các chất phản ứng giai đoạn cấp tính bởi gan.

Hệ thống IL-1 có thể được điều chỉnh quá mức bởi đối kháng thụ thể IL1(IL-1RA). Người ta thấy nồng độ IL-1RA huyết thanh tăng cao ở bệnh nhân

IBD, điều này đã chỉ ra IL- 1RA tăng là do cơ thể đáp ứng để ức chế quá trình

viêm và nồng độ IL-1 tăng trong bệnh IBD là kết quả của sự kích thích của các

đại thực bào trong đại tràng có thể kích hoạt men chuyển IL-1 .

IL-1 có tác dụng điều hòa miễn dịch, tạo huyết, gây tổn thương tế bào

gan, tổng hợp protein ở giai đoạn cấp tính, giảm nồng độ sắt và kẽm trong huyết

thanh. Đồng thời kích hoạt tế bào lympho T, tăng tổng hợp kháng thể bởi tế bào

lympho B, làm tổn thương bài tiết bạch cầu hạt từ tủy xương, tăng cường sản

xuất collagen nguyên bào sợi và làm thay đổi sản xuất prostaglandin.

Năm 2011, Silvio Danese và cs nhận thấy các tế bào biểu mô kích hoạt

IL-1β kích hoạt bạch cầu đa nhân trung tính. Giảm biểu hiện thụ thể γ, kích

hoạt tăng sinh peroxisome bởi tế bào biểu mô đại tràng, bất thường chất nhầy,



29



bất thường tế bào T điều tiết (Treg) . Điều này có thể đóng góp cho tự miễn

dịch chọn lọc và các biến cố qua trung gian miễn dịch trong bệnh sinh ở bệnh

VLĐTTCM.

* Interleukin - 6 (IL-6)

IL-6 được tổng hợp bởi nhiều loại tế bào khác nhau, nhưng chủ yếu từ

bạch cầu đơn nhân và đại thực bào khi các tế bào này bị kích hoạt bởi các

kích thích như TNF-, IL-1, virus và các độc tố của vi khuẩn… IL-6 có chức

năng biệt hoá tế bào B, kích thích tiết IgG, làm tăng trưởng các u tương bào,

hoạt hóa tế bào T, cùng kích thích tăng sinh tế bào tuyến ức, kích thích tế bào

gan sản xuất các protein trong pha cấp. IL-6 là một cytokin đa hướng

(pleiotropic) với rất nhiều tác dụng sinh học. IL-6 được sản xuất bởi các bạch

cầu và một số loại tế bào khác, chủ yếu là từ các thực bào đơn nhân, các tế

bào nội mạc mạch máu, các nguyên bào sợi và một số loại tế bào khác trong

đáp ứng với vi sinh vật và các cytokin khác, chủ yếu là IL-1 và TNF-. Ngoài

ra, IL-6 còn được tổng hợp bởi các tế bào T. Chức năng chính của IL-6 là điều

hòa quá trình viêm và có ảnh hưởng tới hệ miễn dịch. Tác dụng thích ứng

miễn dịch đặc biệt được thực hiện sau khi hoạt hóa tế bào lympho B và T, nó

tạo ra bước cuối cùng của việc phát triển tế bào lympho B ngoại vi trong tế

bào huyết tương và đóng một vai trò quan trọng đối với việc sản xuất protein

giai đoạn cấp tính trong tế bào gan .

IL-6 và CRP được biết là có tương quan với hội chứng kháng insulin và

rối loạn chức năng nội mô. Trong chấn thương, nhiễm trùng hoặc stress khác,

IL-6 nồng độ tăng cao và thấy có liên quan đến các bệnh sinh một số bệnh

mãn tính như bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch, IBD và béo phì.

Vai trò của IL-6 trong mạch máu rất phức tạp. Người ta thấy, IL-6 được

phát hiện có liên quan đến sự phát triển của xơ vữa. Nhưng vai trò cụ thể của

IL-6 trên sự phát bệnh và tiến triển trong VLĐTTCM chưa thực sự sáng tỏ.

IL-6 trong huyết thanh được tìm thấy có tương quan đáng kể với mức

độ nghiêm trọng của viêm đại tràng, tương tự mức độ IL-6 huyết thanh tăng

lên đáng kể ở bệnh IBD và IL-6 tương quan dương tính (tương quan thuận)

với tình trạng hoạt đợng của bệnh. Ngồi ra tăng nồng đợ các phức hợp Sil-6R



30



và IL-6/Sil-6R trong huyết thanh cho thấy cơ chế chuyển tín hiệu IL-6 hoạt

động thông qua gp130 (protein màng) trong bệnh IBD .

* Interleukin-8 (IL- 8)

IL-8 được sản xuất từ tế bào đơn nhân, đại thực bào, tế bào nội mạc,

được kích thích bởi lipopolysaccharid, nguyên bào xơ, các tế bào màng.

IL-8 là một chemokin tiêu biểu. Người ta chia chemokin thành hai nhóm

chính là, nhóm với các chuôi CXC (như IL-8) chủ yếu tương tác với bạch cầu

trung tính, nhóm với chuôi CC (MCP-1: Monocyte chemoattractant protein- 1)

có vai trò chính là điều biến các tế bào đơn nhân. Chemokin làm tăng ái lực của

các integrin trên tế bào bạch cầu với các ligand (nối kết) trên thành mạch trong

quá trình xuyên mạch của bạch cầu, điều hòa sự trùng hợp và khử trùng hợp của

actin trong bạch cầu để vận động và di cư. Các chemokin cũng điều hòa sự di

chuyển của các tế bào lympho T, lympho B, tế bào đuôi gai qua các hạch bạch

huyết và lách. Khi được sản xuất với khối lượng lớn, các chemokin có thể gây

tổn thương các tổ chức khỏe mạnh như được thấy trong viêm khớp dạng thấp,

hen, ARDS và sốc nhiễm trùng. Các chemokin có thể được sản xuất bởi nhiều

loại tế bào như các bạch cầu, tế bào nội mô mạch máu, tế bào biểu mô và các

nguyên bào sợi sau kích thích của các cytokin như TNF-.

IL-8 là một cytokin hoạt động rất mạnh có nồng độ cao trong máu và

dịch viêm ở bệnh nhân VLĐTTCM. IL-8 là yếu tố khuyếch đại phản ứng

viêm và có vai trò trong viêm mạn bởi sự xâm nhiễm lymphocyt, monocyt,

đồng thời nó làm mất hạt của bạch cầu ái toan và ái kiềm. Ali Keshavarzian

cho rằng: việc xâm nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính và bài tiết của chúng

sinh ra các loại oxy phản ứng gây độc cho niêm mạc đại tràng liên quan với

tổn thương mô. Sự di chuyển bạch cầu đa nhân trung tính có thể do các

chất hấp dẫn hóa học, chẳng hạn như các cytokin trong niêm mạc đại tràng.

Một trong những chất hấp dẫn hóa học là IL-8, chemokin, bạch cầu đa nhân

trung tính có nồng độ cao ở niêm mạc bị viêm. Tuy nhiên, tầm quan trọng

của IL-8 trong thu hút và kích hoạt bạch cầu đa nhân trung tính trong

VLĐTTCM chưa được thiết lập .



31



* Interleukin 10 (IL-10)

IL-10 là cytokin chống viêm quan trọng nhất và được biết rõ nhất. Các

cytokin chống viêm tác động tới cả sản xuất lẫn hoạt động của các cytokin

viêm. IL-10 được sản xuất bởi các tế bào T, tế bào B, tế bào đơn nhân và các

đại thực bào, có khả năng ức chế sự giải phóng và chức năng của một số

cytokin viêm chủ chốt như TNF-, IL-1, IL-6 và IL-8 (đây là một hoạt động

đối kháng với IL-4) .

IL-10 gây ức chế điều hòa các cytokin tiền viêm khi có sự hiện diện của

chất kích thích kháng nguyên và ức chế sự sản xuất IL-1β, IL-6 và TNF-α bằng

cách làm giảm hiện diện kháng nguyên của bạch cầu đơn nhân thông qua giảm

MHCII .

IL-10 được coi là một cytokin chống viêm quan trọng, chủ yếu được

tiết ra bởi các tế bào Th2, và các monocyte, đại thực bào. Tế bào T và tế bào

B cũng tiết ra IL-10, nó ức chế các tế bào đơn nhân ngoại vi và các tế bào đơn

nhân ở lớp đệm niêm mạc làm tiết IL-1β, TNF-α, IFN-γ, và do đó gây ra phản

ứng chống viêm .



Hình 1.2. Sơ đồ sản xuất cytokin trong bệnh VLĐTTCM

Nguồn Silvio Danese S và CS (2011)



32



Glycolipid từ tế bào biểu mô, vi khuẩn hoặc cả hai yếu tố này làm tăng trưởng

IL-13 receptor α2(IL-13α2) hoạt hóa tế bào này là kích thích tăng số lượng và tạo

ra một vòng đáp ứng làm tăng IL-13, tế bào T độc, gây ra rối loạn chức năng hàng

rào biểu mô. Điều này dẫn đến việc tăng hấp thụ vi khuẩn tăng sinh và các loại

kháng thể chống vi khuẩn. Yếu tố này làm tế bào sản xuất kháng thể kháng

Tropomuoxin bởi tế bào lympho B, trong khi protein nhân từ bạch cầu đa nhân

trung tính sản xuất kháng thể kháng pANGA. Hơn nữa typ 1 và 17 giúp tế bào T

tăng số lượng typ 2 tăng (Th2) sản xuất IL-13 làm tăng rối loạn chức năng hàng rào

biểu mô dẫn đến tăng tính thẩm thấu và IL-5 làm hoạt hóa bạch cầu ưa base. Sự hấp

thụ tăng lên khi vi khuẩn tăng sinh, kích thích tế bào tua (tế bào trình diện kháng

nguyên) và đại thực bào, dẫn đến tạo điều kiện phản ứng viêm cytokin và

chemokin. IL-1β hoạt hóa tế bào biểu mô tiết bạch cầu đa nhân trung tính, hoạt hóa

peptide 78(ENA-78) và IL-1β hoạt hóa tế bào biểu mô tiết BCĐNTT, màng biểu

mô hoạt hóa ENA78 và IL-8 thu hút BCĐNTT như bạch cầu đơn nhân MCP 1,

thu hút các đại thực bào hướng động và RANTES (điều hòa hướng động, di

chuyển, bài tiết), thu hút và tập trung tế bào T. Sự thay đổi về gen phối hợp có liên

quan đến VLĐTTCM gây hoạt hóa PPAR -γ bởi các tế bào đại tràng, tế bào nhày

di hướng và sự đột biến của tế bào T (Treg) có thể góp phần tạo miễn dịch tự động

và miễn dịch gián tiếp trong sinh bệnh học của VLĐTTCM làm tăng IL-1, IL-6 và

TNF-α,…

1.3.4. Nguyên lý phản ứng phát hiện cytokin bằng phản ứng miễn dịch

huỳnh quang

Cytokin được phát hiện bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang kiểu

sandwich trên bề mặt của các vi hạt từ. Bề mặt của vi hạt được gắn sẵn các

phân tử kháng thể đơn clôn đặc hiệu với một quyết định kháng nguyên trên

phân tử cytokin. Khi ủ mẫu xét nghiệm với hạt phủ kháng thể, các phân tử

cytokin sẽ bị kháng thể đặc hiệu bắt giữ và bám vào bề mặt hạt. Sau đó kháng

thể đơn clôn thứ hai đặc hiệu với một quyết định kháng nguyên khác của

cytokin đã gắn biotin được thêm vào, tạo thành phức hợp miễn dịch gồm phân

tử cytokin kẹp giữa hai kháng thể đơn clôn. Cuối cùng phức hợp streptavidinPE được thêm vào sẽ gắn vào kháng thể đơn clôn thứ hai qua tương tác



33



streptavidin-biotin. Dưới tác động của tia laser bước sóng tử ngoại PE sẽ phát

ra ánh sáng huỳnh quang chứng tỏ sự có mặt của cytokin trong mẫu xét

nghiệm. Lượng PE gắn vào tỷ lệ thuận với lượng kháng thể thứ hai hay lượng

cytokin có trên bề mặt hạt từ. Dựa vào mật độ huỳnh quang phát ra từ các hạt

được ủ với những nồng độ cytokin đã biết cho phép định lượng được cytokin.



Kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt huỳnh quang (Fluorescence covalent

microbead immunosorbent assay-FCMIA) là kỹ thuật sử dụng các hạt từ

huỳnh quang có kích thước bằng nhau (tương tự như tế bào) nhưng phát ra tín

hiệu huỳnh quang khác nhau làm giá đỡ để gắn các phân tử sinh học như

kháng thể đặc hiệu lên bề mặt. Các hạt này được phân tích bằng phương pháp

đếm tế bào/hạt theo dòng chảy (flowcytometry) với hai nguồn lase và detector

khác nhau để kích thích và nhận hai loại tín hiệu huỳnh quang độc lập do hạt

từ huỳnh quang phát ra (tín hiệu định tính) và từ phản ứng đặc hiệu trên bề

mặt hạt từ phát ra (tín hiệu định lượng). Nhờ phần mềm máy tính có khả năng

phân biệt được nhiều loại hạt từ huỳnh quang khác nhau cho phép gắn môi

loại hạt với một kháng thể đặc hiệu khác nhau rồi trộn lại để phát hiện đồng

thời nhiều kháng nguyên khác nhau trong cùng một mẫu xét nghiệm.

1.3.5. Điều trị bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu

1.3.5.1. Tại Việt Nam

a) Điều trị viêm loét đại tràng phải và đại tràng toàn bộ mức độ bệnh nặng

* Điều trị tấn công:

Kết hợp 5-ASA đường uống và steroid đường uống hoặc tiêm tĩnh

mạch, kháng sinh đường tĩnh mạch.

- AZA(Imuren): liều 2-2,5mg/kg/ngày



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trên mô bệnh học cần phân biệt phạm vi tổn thương của ống tiêu hóa để loại trừ bệnh Crohn: VLĐTTCM chỉ tổn thương ở đại tràng và tổn thương không đến lớp cơ còn trong bệnh Crohn toàn bộ ống tiêu hóa đến hậu môn và tổn thương đến lớp cơ niêm. Thực hiện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×