Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ngoài các xét nghiệm về huyết học, sinh hóa và miễn dịch thì hiện nay người ta còn sử dụng xét nghiệm phân tìm Calprotectin. Đây là một chất được ruột tạo ra khi bị viêm có hữu ích cho việc chẩn đoán xác định VLĐTTCM.

Ngoài các xét nghiệm về huyết học, sinh hóa và miễn dịch thì hiện nay người ta còn sử dụng xét nghiệm phân tìm Calprotectin. Đây là một chất được ruột tạo ra khi bị viêm có hữu ích cho việc chẩn đoán xác định VLĐTTCM.

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



thường xuất hiện ở đại tràng trái nhiều hơn so với đại tràng phải . Các hình

thái tổn thương đại tràng được trình bày trong bảng dưới đây:



14



Bảng 1.9. Tỷ lệ tổn thương đại tràng thông qua một số nghiên cứu

Tác giả

Hình ảnh

tổn thương (%)

Mất cấu trúc mạng lưới mạch

máu bình thường dưới niêm mạc

Niêm mạc phù nề xung huyết.

Loét nông

Có giả polyp

Có giả mạc

Có máu



Nguyễn



Lê Thị



Thị Thu



Kim



Hiền



Liên



100



100



96,4



100

100

20,0

55,0

55,0



100

87,2

33,3

30,8

84,6



100

82,1

42,9

50,0

28,6



Phạm Văn

Dũng



Mai

Đình

Minh



92,2

78,4

52,9

60,8

31,4



Ưu điểm của nội soi đại tràng là quan sát, đánh giá vị trí và tính chất

của tổn thương về mặt đại thể cũng như theo dõi hiệu quả của quá trình điều

trị và qua nội soi có thể sinh thiết làm xét nghiệm mô bệnh học. Giá trị và lý

do sinh thiết làm mô bệnh học đối với bệnh VLĐTTCM bao gồm: xác định

chẩn đoán, phân biệt VLĐTTCM và bệnh Crohn , , loại trừ loạn sản , loại trừ

bệnh lý kết hợp hoặc biến chứng. Từ đó có thể đánh giá được mức độ hoạt

động của bệnh và có thể dự báo tái phát bệnh , và phạm vi lan rộng của tổn

thương .

1.2.2.3. Đặc điểm mô bệnh học

Trên Thế giới, Seldenrijk(1991) dựa trên tập hợp 41 tiêu chuẩn mô

bệnh học để đưa ra chẩn đoán phân biệt VLĐTTCM, Crohn và các bệnh

viêm đại tràng cấp do vi khuẩn. Seldenrijk nhận thấy rằng dựa trên sự kết

hợp ba đặc điểm: tăng lympho bào và tương bào ở mô đệm, khe hốc chia

nhánh, bạch cầu đa nhân trung tính trong mô khe hốc (apxe khe hốc) cho

phép chẩn đoán phân biệt viêm đại tràng cấp do vi khuẩn chính xác tới

89%. Kết hợp 3 đặc điểm: tổn thương u hạt chỉ xuất hiện ở bệnh Crohn đây

là điểm chẩn đoán phân biệt giữa bệnh VLĐTTCM với bệnh Crohn .

Năm 1997, Hội tiêu hố Anh đã đưa ra mợt số tiêu chuẩn về giải phẫu

bệnh để chẩn đoán xác định viêm đại tràng mạn tính tự phát dựa trên sự



15



thay đổi bất thường về cấu trúc niêm mạc và cấu trúc mô đệm .

Năm 2000, Hội nghị Quốc tế Nottingham tại Anh đã đề x́t các tiêu

chuẩn mơ học để chẩn đốn bệnh VLĐTTCM với sự tham dự của nhiều nhà

khoa học. Hội nghị đã thành lập một nhóm hành động gồm 13 chuyên gia giải

phẫu bệnh tiêu hóa và 12 nhà giải phẫu đa khoa, không phải chuyên gia tiêu

hóa của các nước Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan, Canada, Sri - Lanka, Nhật, Mỹ và

Anh . Hội nghị đã đưa ra các tiêu chuẩn là chính xác, đơn giản, rõ ràng, dễ áp

dụng đối với các nhà giải phẫu bệnh đa khoa sau khi được cập nhật các tiêu

chuẩn mô bệnh học cũng có thể chẩn đoán đúng với tỷ lệ tương đương các

chuyên gia của chuyên ngành rất sâu về mô bệnh học. Một số Hội nghị Quốc tế

sau này như Ban lâm thời bệnh học của Tổ chức Quốc tế về bệnh ruột viêm với

nhiều nhà bệnh học hàng đầu về tiêu hóa cũng đã thống nhất áp dụng và quảng

bá những tiêu chuẩn vi thể của bệnh IBD mà Hội nghị Nottingham năm 2000 đã

đề xướng , .

Trên thực tế, trong nước đã có một số nghiên cứu đánh giá tổn thương mô

bệnh học ở bệnh nhân VLĐTTCM. Kết quả cho thấy tổn thương mô bệnh học

chiếm tỷ lệ khá cao là các tuyến không đều chia nhánh hình ảnh lan tỏa.

Năm 2016, Islam S và CS ghi nhận các bệnh nhân VLĐTTCM có sự

thâm nhiễm lympho (100%); rối loạn tuyến gặp 92,59%; viêm hang gặp

92,59% và áp xe nang là 81,48% . Nghiên cứu của Daniel S cho thấy có 8,6%

độ 0; 39,2% độ 1; 21,8% độ 2; 16,0% độ 3; 14,4% độ 4 . Trong một nghiên cứu

khác của Camarillo GF cho thấy không hoạt động/nhẹ/trung bình/nặng lần lượt

là 15/5/16/4 . Nghiên cứu của Pongprasobchai S gặp mức độ nhẹ là 28%, mức

độ vừa là 60%, mức độ nặng là 12% . Nguyễn Văn Hưng gặp 27,9% mức độ nhẹ

72,1% ca mức độ nặng . Mai Đình Minh (2016) là 33,3% độ nhẹ; 39,2% độ vừa

và 27,5% độ nặng ; Lê Thị Kim Liên là 10,3% độ nhẹ 51,2% mức độ vừa,

38,5% độ nặng .

HÌNH ẢNH NỘI SOI VÀ MÔ BỆNH HỌC BỆNH VIÊM LOÉT ĐẠI

TRỰC TRÀNG CHẢY MÁU .



16



A: Niêm mạc phù nề xuất huyết và tiết dịch. Tổn thương loét bề mặt kèm theo giả polyp.

B- C- D: Sự hình thành các ổ hoại tử kèm theo loét nông một phần. Các tuyến méo

mó chia nhánh và một số tuyến bị teo méo mó, giảm số lượng khe tuyến, BCĐNTT

xâm nhập lớp mô đệm, các mạch máu được hình thành giãn ra đáng kể và có tắc

nghẽn mạch máu.



A: Niêm mạc phù nề xung huyết, không có giả polyp.

B: Hoại tử biểu mô niêm mạc, phá hủy, méo mó và phân nhánh Khoảng cách giữa

các tuyến ở một số vùng ngắn và các tế bào lypho giảm đáng kể; một số lượng lớn

tế bào lympho và tế bào huyết tương xâm nhập vào lớp đệm, có bạch cầu trung tính

trong mô đệm và tế bào lympho tăng lên đáng kể ở đáy niêm mạc; một số lượng lớn

các tế bào lympho và các tế bào plasma xâm nhập vào lớp dưới niêm mạc.

C: Các tuyến méo mó và phân nhánh kèm theo áp xe khe tuyến và các bộ phận của

tuyến biểu hiện teo. Khoảng cách giữa các tuyến ở một số vùng ngắn lại. Tình trạng

viêm ở vùng đệm của lớp dưới niêm mạc là đồng nhất, với sự xâm nhập của nhiều

tế bào lympho và các tế bào plasma, và các mạch máu giãn và tắc nghẽn.



1.2.3. Tiến triển và biến chứng

1.2.3.1. Tiến triển



17



Bệnh VLĐTTCM diễn biến theo nhiều chiều hướng khác nhau phụ

thuộc vào diện tích, mức độ tổn thương, quá trình viêm nặng hay nhẹ. Diễn

biến kéo dài có giai đoạn tạm ổn rồi lại tái phát với một số yếu tố thuận lợi.

Một số bệnh nhân trở thành mạn tính không lui bệnh: đi lỏng liên tục,

thiếu máu và các triệu chứng không đặc hiệu...

Một số bệnh nhân có cơn cấp tính ban đầu, tiếp đó 10 - 15 năm sức

khỏe trở về bình thường và không còn hình ảnh VLĐTTCM trên nội soi.

Một số bệnh nhân có các triệu chứng mức độ vừa hoặc nặng biểu hiện:

đi lỏng nhiều lần, mất máu nhiều, đau bụng, sốt và có các biến chứng ngoài

đại tràng.

1.2.3.2. Biến chứng

+ Phình đại tràng nhiễm độc

Thường xuất hiện ở những bệnh nhân có viêm lt tồn bợ đại tràng.

Thời điểm x́t hiện biến chứng có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào của bệnh

nhưng thường xuất hiện giai đoạn đầu khi phát bệnh.

+ Thủng đại tràng

Đây là một trong những biến chứng nặng nề của bệnh. Thủng đại tràng

thường gặp ở mức độ nặng, khi thành ruột bị viêm lan tỏa và ổ loét sâu rộng.

Người ta thấy rằng biến chứng thủng đại tràng ở những bệnh nhân bị

VLĐTTCM có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao là từ 27% -57% .

+ Chảy máu nhiều

Bệnh thường được phát hiện chảy máu trong khi nội soi đại tràng hoặc

bệnh nhân đi đại tiện có máu theo phân. Nếu chảy máu nhiều thì đây là biến

chứng nặng của bệnh do đại tràng có loét kèm theo nhiều ở x́t hút.

+ Xơ chít hẹp đại tràng

Quá trình xơ chít hẹp kéo dài cần phải cắt bỏ đại tràng tại vị trí có xơ

chít hẹp nhiều và chít hẹp kéo dài và sinh thiết theo dõi định kỳ trên mô bệnh

học. Nếu có kết quả loạn sản độ cao thì phải can thiệp phẫu thuật nhằm ngăn

ngừa chuyển thành ác tính.

+ Tiến triển thành ung thư đại tràng

Tỷ lệ ung thư tăng dần theo thời gian mắc bệnh thường xảy ra ở thể tổn



18



thương lan tỏa tồn bợ đại tràng. Khi nợi soi đại tràng phải sinh thiết nhiều

mảnh để tăng khả năng chẩn đoán. Trong một phân tích cộng gộp, các nhà

điều tra phát hiện nguy cơ ung thư đại tràng là 2% trong 10 năm đầu tiên của

viêm loét đại tràng, 8% trong 20 năm đầu, 18% trong 30 năm đầu bệnh chỉ

viêm loét trực tràng hoặc đại tràng sigma .

1.2.4. Phân độ bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu

Hiện nay, chẩn đoán xác định và phân loại mức độ bệnh VLĐTTCM

dựa vào các triệu chứng lâm sàng, nợi soi đại tràng tồn bộ kết hợp với mô

bệnh học. Việc đánh giá mức độ nặng của bệnh có hữu ích trong tiến hành

nghiên cứu lâm sàng .

Về mặt lâm sàng, các triệu chứng bệnh thường thay đổi tùy theo mức

độ nặng nhẹ và mức độ lan rộng của tổn thương. Bệnh có thể ở giai đoạn

ổn định hoặc giai đoạn hoạt động, thường bệnh nhân đến viện vì đợt khởi

phát đầu tiên hoặc đợt tiến triển của bệnh.

Trong giai đoạn ổn định bệnh thường không có triệu chứng gì đặc biệt

trên lâm sàng, chẩn đốn chủ ́u dựa vào nợi soi.

Trong giai đoạn bệnh tiến triển có thể khởi phát với các triệu chứng lâm

sàng rầm rộ hoặc chỉ có một số triệu chứng tùy theo mức độ nặng nhẹ của

bệnh. Nổi bật và thường gặp nhất là đau bụng, tiêu chảy phân máu kèm theo

sốt và sút cân. Bệnh có thể được phân loại thành các mức độ nhẹ, trung bình ,

nặng . Tùy từng giai đoạn bệnh mà có các biểu hiện khác nhau.

Đối với những bệnh nhân ở mức độ nhẹ, biểu hiện lâm sàng thường nghèo

nàn, thỉnh thoảng có triệu chứng đại tiện phân nát, lỏng, có nhày, có máu chỉ kéo

dài dưới 4 ngày, không có thay đổi thể trạng, không có thiếu máu hoặc giảm

protid huyết thanh. Một số bệnh nhân tình cờ phát hiện qua nội soi đại tràng.

Đối với những bệnh nhân ở mức độ trung bình có các đợt tiêu chảy

thường khởi đầu bằng đau quặn bụng, rồi đại tiện phân máu, số lần đại tiện

thường dưới 6 lần/ngày. Thường kèm theo sốt, giảm protid huyết thanh, làm

bệnh nhân mệt mỏi.

Đối với những bệnh nhân ở mức độ nặng tổn thương có thể lan rợng lan

ra tồn bợ đại tràng, biểu hiện bằng nhiều ổ loét kèm theo đại tiện phân lỏng.



19



Số lần đại tiện phân máu hơn 6 lần/ngày thậm chí đến 20 lần/ngày. Toàn trạng

suy sụp với nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, sốt cao, bụng chướng. Nếu không

được điều trị thì tiến triển thành rất nặng đưa đến tử vong do xuất huyết trầm

trọng, phình giãn đại tràng nhiễm độc, thủng đại tràng, nhiễm khuẩn huyết,

suy thận, rối loạn điện giải và suy kiệt nặng.

Đánh giá mức độ bệnh là quan trọng cho việc tiên đoán, quyết định điều trị

và rất quan trọng cho các bác sĩ lâm sàng.

Năm 2007, Langan RC đã sửa đổi bổ sung trên cơ sở phân loại mức độ

nặng bệnh VLĐTTCM của Troulove và Witts như sau:

Bảng 1.10. Phân loại mức độ bệnh theo Langan RC

Dấu hiệu (triệu chứng)

Số lần đại tiện / ngày

Nhiệt độ cơ thể 0C

Albumin (g/l)

Hematocrid (%)

Máu lắng (mm/h)

Mạch (lần/phút)

Sụt cân (%)



Nhẹ

<4

Bình thường

Bình thường

Bình thường

< 20

<90

Không sụt cân



Vừa

4-6

0

37 2-3708

30 - 35

30 - 40

20-30

90-100

1-10



Nặng

>6

> 3708

< 30

< 30

> 30

>100

>10



Năm 1987, Surtheland đưa ra thang điểm đánh giá mức độ bệnh dựa trên

tần số phân lỏng, tổn thương nội soi và kết quả thăm khám chủ quan như sau:

Bảng 1.11. Phân loại mức độ bệnh của Surtheland

TT



Đặc điểm



0 điểm



1



Tần số đi lỏng



Không



2



Chảy máu

trực tràng



Không



3



Hình ảnh

niêm mạc



4



Theo thăm

khám



1 điểm

1-2

lần/ngày



2 điểm



3 điểm



3-4 lần/ngày > 5lần/ngày



Thành vệt



Nhìn thấy rõ



Nhiều



Bình

thường



Mủn nhẹ



Niêm mạc

mủn vừa



Niêm mạc

rỉ dịch,

chảy máu



Bình

thường



Nhẹ



Vừa



Nặng



Cách tính điểm: < 2: hồi phục; 3-5: nhẹ; 6-10: vừa; 11-12: nặng

Điểm số Mayo và chỉ số hoạt động bệnh gần giống như nhau (DAI) cũng

được mô tả bởi Sutherland , . Bao gồm bốn đánh giá (chảy máu, tần số phân, nội



20



soi và đánh giá của bác sĩ ) điểm đánh giá từ 0 - 3 điểm cho môi một đánh giá và

tổng số điểm tổng kết trong khoảng từ 0-16 điểm. Tuy nhiên, chỉ số hoạt động

bệnh VLĐTTCM (Ulcerative Colitis Disease Activity Index- UCDAI) dao động

từ 0-12 điểm, với tổng số điểm cao hơn đại diện cho bệnh nặng hơn. Nói chung,

một bệnh nhân được xem là có khả năng thuyên giảm nếu UCDAI bằng hoặc ít

hơn 2, và có bệnh nặng nếu điểm số lớn hơn 10. Một số nghiên cứu đã sử dụng

điểm số này để đánh giá hoạt động bệnh từ thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng ở

bệnh VLĐTTCM từ loét nhẹ đến nặng và thay đổi hoạt động của bệnh được coi

như là tiêu chuẩn vàng , .

Bảng 1.12. Hệ thống chấm điểm Mayo đánh giá hoạt động bệnh

VLĐTTCM

Đặc điểm

Số lần đại tiện trong ngày



Điểm đánh giá



Bình thường

0

1-2 lần môi ngày phân nhiều hơn bình thường

1

3-4 lần phân nhiều hơn bình thường

2

≥ 4 lần phân nhiều hơn bình thường

3

Chảy máu trực tràng

Không có máu nhìn thấy.

0

Vệt máu với phân ít hơn một nửa thời gian.

1

Máu rõ ràng với phân hầu hết thời gian.

2

Máu tươi liên tục.

3

Kết quả nội soi

Bệnh thông thường hoặc không hoạt động.

0

Bệnh nhẹ.

1

Bệnh vừa phải.

2

Bệnh nặng.

3

Đánh giá chủ quan của Bác sĩ

Bình thường

0

Bệnh nhẹ

1

Bệnh vừa phải

2

Bệnh nặng

3

Năm 1998, Walmsley RS và CS đã sử dụng hệ thống chấm điểm Mayo

và chỉ số Powell-Tuck đánh giá mức độ hoạt động của VLĐTTCM và thấy có

mối tương quan thuận giữa mức độ hoạt động của viêm theo Mayo với chỉ số



21



Powell-Tuck và điểm số hoạt động complex lần lượt là (r=0,959, p<0,0001 và

r=0,924, p<0,0001) .

Năm 1964, Baron phân loại các giai đoạn sớm mô tả chính xác sự thay

đổi dần dần nhưng rất đặc trưng giữa các giai đoạn hoạt động khác nhau của

VLĐTTCM bao gồm 4 giai đoạn sau:

Bảng 1.13. Bảng phân loại giai đoạn tổn thương của Baron

Giai đoạn

0

I

II

III



Hình ảnh

Niêm mạc nhạt màu, các mạch máu mỏng mảnh, thưa thớt

Niêm mạc lần sần, có các ban đỏ, các mạch máu chỉ nhìn

thấy một phần.

Niêm mạc mất nếp ngang, có những ổ loét đặc trưng, không

nhìn thấy mạch, dễ chảy máu khi đèn chạm phải.

Những ổ loét lớn, kèm theo niêm mạc phù nề, chảy máu tự

phát là đặc điểm rất quan trọng trong giai đoạn này.



Dựa vào vị trí của tổn thương trên nội soi theo phân loại Montreal chia

như sau :

Bảng 1.14. Phân loại phạm vi tổn thương đại trực tràng - trích dẫn từ tài

liệu

Thể bệnh

E1(viêm trực tràng - proctitis)

E2 (viêm loét đại tràng trái -



Phạm vi tổn thương

Tổn thương chỉ ở trực tràng

Tổn thương từ trực tràng đến đại tràng



left - sided colitis).

góc lách.

E3(viêm lt đại tràng tồn bợ -Tởn thương lan tỏa từ manh tràng đến đại

- Extensive colitis)

tràng góc lách.

Mô bệnh học là một xét nghiệm được đưa ra vào những năm 1950, có

giá trị đánh giá mức độ hoạt động của viêm và rất quan trọng đối với việc dự

báo tái phát bệnh VLĐTTCM. Bệnh ở giai đoạn hoạt động được xác định

bằng sự hiện diện của bạch cầu trung tính liên quan đến tổn thương tế bào

biểu mô. Bệnh mạn tính không hoạt động được xác định là sự hiện diện của

sự thay đổi cấu trúc và tăng tế bào bạch cầu đơn nhân trong biểu mô liên kết.

Bệnh ở giai đoạn yên lặng có nghĩa là có sự hiện diện của sự thay đổi cấu trúc

mà không có sự thay đổi cường độ và thành phần của thâm nhiễm biểu mô



22



liên kết. Dấu hiệu bạch cầu đa nhân trung tính xuất hiện trong biểu mô

niêm mạc liên quan chặt chẽ với sự tiến triển của các tổn thương như phá

hủy cấu trúc khe tuyến, trợt hoặc loét niêm mạc. Chính lý do này đã cho

phép chẩn đoán bệnh VLĐTTCM ngay cả khi không có ổ loét niêm mạc.

Vì áp xe trong lòng tuyến là dấu hiệu viêm hoạt động mạnh nhất, trong khi

hoạt động viêm nhẹ nhất nếu bạch cầu đa nhân trung tính chỉ ngấm vào lớp

biểu mô bề mặt niêm mạc. Độ hoạt động của viêm trên mô bệnh học được

đánh giá ở độ 1 đến độ 7.

Bảng 1.15. Phân loại mức độ hoạt động của viêm trên mô bệnh học theo

Geboes K và CS

Độ hoạt động

1

2

3

4

5

6

7



Xuất hiện bạch cầu đa nhân trung tính hoặc ái toan

- Biểu mô bề mặt

- Biểu mô khe tuyến

- Biểu mô bề mặt

- Biểu mô khe tuyến

- Áp xe khe tuyến

- Biểu mô bề mặt

- Áp xe khe tuyến

- Biểu mô khe tuyến

- Áp xe khe tuyến

- Biểu mô bề mặt

- Biểu mô khe tuyến

- Áp xe khe tuyến



Trên mô bệnh học cần phân biệt phạm vi tổn thương của ống tiêu hóa

để loại trừ bệnh Crohn: VLĐTTCM chỉ tổn thương ở đại tràng và tổn

thương không đến lớp cơ còn trong bệnh Crohn tồn bợ ống tiêu hóa đến

hậu môn và tổn thương đến lớp cơ niêm. Thực hiện sàng lọc bệnh nhân đưa

vào nghiên cứu chúng tôi phân biệt bệnh VLĐTTCM và bệnh Crohn dựa

vào đặc điểm và cấu trúc niêm mạc như sau:

Bảng 1.16. Đặc điểm phân biệt bệnh VLĐTTCM và Crohn

trên nội soi và mô bệnh học



23



Đặc điểm



VLĐTTCM

Chỉ khu trú ở đại tràng,



Crohn

Có thể xảy ra ở bất kỳ



Vị trí tổn



chủ yếu ở đại tràng



phần nào của đường tiêu



thương



xuống và một phần đại



hóa từ miệng tới hậu



tràng ngang.

Tổn thương chỉ dừng lại



môn.

Tổn thương có thể sâu



ở lớp niêm mạc và dưới



tới lớp cơ thậm chí tồn



niêm mạc, khơng tởn



bợ chiều dày của thành



thương đến lớp cơ.



ṛt gây thủng ruột hoặc



Nội soi

Tính chất

tổn thương



Cấu trúc



tạo thành các lô dò.

Không đều, chia nhánh, Không đều, chia nhánh,

khe tuyến lan tỏa

khe tuyến khu trú

Tương bào, lympho bào Tương bào, lympho bào







nằm ở vùng đáy khe không nằm ở vùng đáy



bệnh



tuyến



học



Viêm mạn



khe tuyến



Viêm xuyên niêm mạc Viêm xuyên niêm mạc

lan tỏa không vượt qua lan tỏa vượt qua cơ niêm

cơ niêm



1.3. Cơ chế bệnh sinh bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu

Bệnh VLĐTTCM là bệnh có tính chất tự miễn, mặc dù nguyên nhân

bệnh chưa rõ, nhưng người ta thấy rõ sự tác động của phản ứng viêm có liên

quan đến các cytokin gây tổn thương niêm mạc đại tràng và biểu hiện bệnh là

kết quả của sự tác động qua lại giữa các yếu tố gen, môi trường và quá trình hoạt

hóa liên tục của hệ miễn dịch niêm mạc ruột. Nhiều tác giả cho rằng, niêm

mạc của bệnh nhân Crohn bị chi phối bởi tế bào (TB) lympho CD4 với

phenotyp Th1 mà sản phẩm đặc trưng là Interferon và IL-2. Ngược lại, niêm

mạc của bệnh nhân VLĐTT CM được chi phối bởi TB lympho CD4 với

phenotyp Th2 mà sản phẩm đặc trưng là yếu tố tăng trưởng  (TGF-) và

IL-5, nhưng không có IL-4 .



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngoài các xét nghiệm về huyết học, sinh hóa và miễn dịch thì hiện nay người ta còn sử dụng xét nghiệm phân tìm Calprotectin. Đây là một chất được ruột tạo ra khi bị viêm có hữu ích cho việc chẩn đoán xác định VLĐTTCM.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×